|
Đại Hành Hoàng đế là ai?
Nếu bây giờ tôi đặt một câu hỏi nhỏ, rằng Đại Hành
Hoàng đế là ai, thì chắc sẽ nhận được câu trả lời kèm theo cái
nhíu mày, đại loại như thế này:
-Thì đó là vua Lê Đại Hành (980-1005), người sáng
lập ra Nhà Tiền Lê trong lịch sử Việt Nam, chứ ai nữa. Vậy mà
cũng bày đặt nêu câu hỏi.
Vâng,
thì cũng biết lõm bõm là thế, nhưng ở đây tôi đâu có hỏi về vua
Lê Đại Hành. Vua Lê Đại Hành chỉ có một nhưng Đại Hành
Hoàng đế thì nhiều lắm…
Từ điển Hán-Việt của Thiều Chữu giải thích vắn tắt,
rằng Đại hành nghĩa là vua chết.
Sử gia Lê Văn Hưu của thế kỷ XII, đời Trần, có lời
giải thích rõ ràng hơn:
“Thiên
tử và Hoàng hậu khi mới băng, chưa chôn vào sơn lăng, thì gọi là
Đại hành Hoàng đế, Đại hành Hoàng hậu. Đến khi lăng tẩm đã yên
thì hợp bầy tôi bàn xem đức hạnh hay hay dở để đặt thụy là mỗ
hoàng đế, mỗ hoàng hậu, không gọi là Đại Hành nữa.” (Toàn
thư, tr.341)
Bởi vậy, khi vua Gia Long băng hà vào năm 1819, Đông
cung Hoàng Thái tử Nguyễn Phúc Đởm (vua Minh Mạng) đã ban chiếu
bố cáo cho thần dân biết tin buồn lớn của đất nước như sau:
“Tháng 11 năm nay, Đại hành hoàng đế không được
khoẻ; ngày 11 tháng 12 ốm nặng, ngày ấy triệu ta cùng văn võ
đại thần cùng nhận di chiếu. Ngày 19, Đại hành hoàng đế bỏ cả
thiên hạ, ta xót thương như xé ruột gan…” (Thực lục, I,
tr.1002)
Cụm từ Đại Hành Hoàng đế không phải chỉ dùng
để gọi vua Gia Long (1802-1819) -- vua khai sáng triều Nguyễn –
khi vua mất, mà còn được triều đình dùng cho các vua về sau, như
Minh Mạng (1820-1841), Thiệu Trị (1841-1847), Tự Đức
(1847-1883), Kiến Phước (1883-1884), Đồng Khánh (1885-1889),
Khải Định (1916-1825), khi các vua này băng hà và chưa được
triều đình tôn thụy hiệu.
Tên
thụy là gì?
Phong tục tập quán mỗi nơi một khác, mỗi thời một
khác. Trong khi người Tây phương dùng màu đen để biểu thị cho
tang tóc thì người Việt người Tàu lại chọn màu trắng. Trong khi
Tây phương lấy tên người đã chết, có công lớn trong một lãnh vực
nào đó, đem đặt cho những công trình quan trọng như một hình
thức để vinh danh, để biết ơn, thì ông cha chúng ta ngày xưa
(trước khi chịu ảnh hưởng văn hóa phương Tây) lại gần như là
nghiêm cấm việc gọi tên người đã chết để tỏ lòng kính trọng.
Ngày xưa, ngay cả việc việc gọi tên người sống, nhất
là người có chức tước, địa vị trong xã hội, là một điều thất
lễ. Vì vậy, với dân dã thì dùng thứ bậc trong gia đình để gọi
thay tên thật (Cả, Hai, Ba, Tư…), với người có địa vị thì dùng
chức tước hay quê quán để gọi. Đối với người sống mà còn thế,
huống gì đối với người chết, lại cần phải kiêng cử hơn nữa, vì
mang tội bất kính với người chết có vẻ đáng sợ hơn người sống.
Nhưng chẳng lẽ khi cúng kiếng lại không khấn vái để mời gọi
người chết thì hương linh biết đâu mà về hưởng? Kêu tên tục thì
không phải phép, vậy phải đặt tên mới để gọi, để mời, để khấn
khi cúng tế. Cái tên này, dân dã gọi là tên hèm, tên
cúng cơm (dùng để khấn khi cúng cơm), chữ nghĩa gọi là
tên thụy hay thụy hiệu. Trong phép đặt tên thụy,
người ta thường chọn những chữ có thể nói lên toàn bộ cuộc đời,
sự nghiệp hay bình sinh sở nguyện của người đó. Cũng có khi là
một cách chơi chữ khéo léo. Tôi còn nhớ Thầy tôi (cha tôi) có
một ông bạn tên Thiều. Khi cụ Thiều mất, người nhà báo cho Thầy
tôi biết và xin đặt tên thụy. Ông cụ suy nghĩ một lát, đặt tên
là Thuấn Nhạc. Nghe cái tên hay quá, nhưng không hiểu hết ý
nghĩa, tôi hỏi tại sao, ông cụ nhẩn nha giải thích: “Cuộc đời
bác Thiều không có chi đặc biệt, nên rất khó nói. Tuy nhiên tên
của bác là Thiều, là tên một khúc nhạc ngày xưa của vua Thuấn
đời nhà Ngu bên Tàu, cho nên thầy chọn hai chữ Thuấn Nhạc là hợp
hơn cả. Người có Nho học, nghe cái tên Thuấn Nhạc thì có thể
đoán biết ngay tên thật là Thiều.”
Trong
dân gian, sau khi đã chọn tên hèm, phải nói nhỏ bên tai cho
người chết biết để khi nghe gọi mà về. Việc đặt tên hèm, tên
thụy áp dụng đồng đều cho mọi người mọi giới, không là đặc quyền
của một ai, tuy nhiên, đối với giới học thức, quyền quí, việc
chọn tên thụy là một điều quan trọng, một nghi lễ. Vì vậy, khi
soạn thảo quan chế ban hành năm 1827, ủy ban soạn thảo đã tâu
trình lên vua Minh Mạng rằng, “Lại tên thụy để đổi tên thường
là bắt chước phép nhà Chu. Từ trước tên thụy chưa đặt sẵn, đến
việc là tâu xin thì cũng là rườm phiền, mà bộ thần lâm thời nghĩ
đặt thì cũng khó khỏi hiềm nghi về sự yêu ghét tư vị. Kính xét
phép tặng mỗi phẩm một chữ thụy; còn những người có công cao đặc
biệt được vua đặc cách cho tên thụy thì không theo lệ này.”
(Thực lục, II,tr.556)
Vua
Minh Mạng chấp thuận. Do đó, quan chế năm 1827 không những định
phẩm trật và chức tước cho các cấp văn võ mà còn định luôn cả
thụy hiệu để gọi khi chết; ví dụ, quan võ, trật Chánh tam phẩm,
có thể giữ nhiều chức vụ khác nhau (Nhất đẳng Thị vệ, Lãnh binh,
Cẩm y vệ Đô Chỉ huy sứ…) nhưng đều có chung tên thụy là Anh
Túc. Ngày xưa, trên bia mộ, trên bài vị để thờ, người ta
chỉ ghi họ và tên thụy cùng chức tước người chết, nếu có. Không
bao giờ tìm thấy tên thật do cha mẹ đặt ra. Ví dụ , Nguyễn Cư
Trinh, khai quốc công thần thời các chúa Nguyễn, đã được vua
Minh Mạng trụy tặng chức tước và tên thụy vào năm 1839 như sau,
ghi vào bài vị để thờ tại nhà bên phải của Thái Miếu trong Đại
Nội, Huế: Khai Quốc Công Thần, Vinh Lộc Đại Phu, Hiệp Biện
Đại Học Sĩ Lãnh Lại Bộ Thượng Thư, Thụy Văn Khác, Phong
Tân Minh Hầu. Rõ ràng là không thấy cái tên Nguyễn Cư Trinh
ở đâu cả, nhưng trong tập tục xưa, người ta tin chắc rằng hương
linh ông Nguyễn Cư Trinh biết rằng đấy là tên mới của ông ở bên
kia thế giới. Ngày nay, việc kêu tên thật, dù còn sống hay đã
chết, là điều bắt buộc, là việc thông thường trong giao tế, nên
việc đặt tên hèm, tên thụy không cần thiết nữa.
Đối với
vua chúa, nguyên tắc đặt tên thụy cũng tương tự, nhưng theo một
điển lễ cầu kỳ hơn.
Lấy ví dụ trường hợp vua Khải Định cho dễ hiểu. Vua
húy là Nguyễn Phúc Bửu Đảo, khi được tôn lên làm vua năm 1916
thì lấy tên mới theo qui định trong Kim sách là Tuấn, và đặt
niên hiệu là Khải Định. Vua băng hà vào ngày 6/11/1925, Thái tử
Vĩnh Thụy lúc đó đang ở Pháp, phải một tháng sau mới về nước.
Ngày 8/1/1926, Thái tử lên ngôi kế vị, lấy hiệu Bảo Đại, và hai
hôm sau thì cùng triều đình làm lễ dâng thụy hiệu và miếu hiệu
cho vua, là Hoằng Tông Tuyên Hoàng đế. Hoằng Tông
là miếu hiệu, Tuyên Hoàng đế là thụy hiệu, thường được
gộp chung để gọi. Trong thời gian hơn hai tháng chưa có thụy
hiệu, mỗi lần nói đến vua Khải Định (trong lễ tế, trên các văn
bản của triều đình…), người ta gọi là Đại hành Hoàng đế. Điều
này thấy rõ trong những tờ trình của Bộ Lễ gởi lên Viện Cơ Mật
và Tòa Khâm sứ Trung kỳ khi về các giai đoạn của tang lễ.
Trường hợp vua Lê Đại Hành
Khi đã biết Đại Hành Hoàng đế là gì, chúng
ta không khỏi đặt câu hỏi về vua Lê Đại Hành. Nguyên tắc
chép sử thời xưa là dùng miếu hiệu để gọi một đời vua, Ví dụ:
Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông v.v.
mà không dùng niên hiệu. Các sử thần trong Quốc Sử Quán của Nhà
Nguyễn – triều đại quân chủ cuối cùng của Việt Nam – cũng tuân
thủ nguyên tắc này. Mở các bộ chính sử của Nhà Nguyễn (Đại
Nam Thực Lục, Đại Nam Liệt Truyện, Khâm Định Việt Sử Thông Giám
Cương Mục …) có thể thấy rõ điều đó. Vua Gia Long là Thế Tổ
Cao Hoàng đế, vua Minh Mạng là Thánh Tổ Nhân Hoàng đế, vua Thiệu
Trị là Hiến Tổ Chương Hoàng đế v.v. Chúng ta ngày nay quen dùng
niên hiệu (Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức..) để gọi các
đời vua đó là do chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây dưới
thời Pháp đô hộ.
Vua Lê
Đại Hành nguyên là là Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn của triều vua
Đinh Tiên Hoàng (968-979). Sau khi vua Đinh bị Đỗ Thích ám sát
và giết luôn cả người con trai lớn của vua là Nam Việt Vương
Đinh Liễn, thì triều đình tôn Vệ Vương Đinh Tuệ (có sách gọi là
Toàn), mới 6 tuổi, lên làm vua. Quyền lực lọt tay Thập đạo
Tướng quân Lê Hoàn, xưng là Phó Vương. Tướng quân họ Lê lại tư
thông với người mẹ trẻ đẹp của Vệ Vương là Thái hậu họ Dương.
Để ngăn chận việc soán ngôi chắc chắn sẽ xảy ra của Thập đạo
Tướng quân, các đại thần là Nguyễn Bặc và Đinh Liệt đã đem binh
chống lại nhưng đều bị đánh bại và bị giết. Nhà Tống ở Trung
Hoa nghe tin Đại Cồ Việt có biến loạn nội bộ, liền nhân cơ hội
đem quân thôn tính. Lê Hoàn sai tướng Phạm Cự Lượng đem quân
chống giữ. Trước khi ra quân, họ Phạm họp tướng sĩ và tuyên bố,
“Bây giờ quân nghịch sắp vào cõi mà vua thì còn bé, lấy ai mà
thưởng phạt cho chúng mình. Dẫu chúng mình có hết sức lập được
chút công nào, thì rồi ai biết cho? Chi bằng nay ta tôn Thập đạo
Tướng quân lên làm vua rồi ra đánh thì hơn.” (Việt Nam Sử
Lược, tr.88). Quân sĩ hô vạn tuế. Thái hậu thấy quân sĩ
đồng lòng, liền lấy áo vua (long cổn) mặc cho Lê Hoàn, tôn làm
vua. Đinh Tuệ bị phế làm Vệ Vương, triều đại nhà Lê bắt đầu, sử
gọi là Tiền Lê để phân biệt với Hậu Lê do Thái Tổ Lê Lợi lập ra
vào thế kỷ XV. Lê Hoàn làm vua , lập 5 bà làm Hoàng hậu, trong
đó có cựu Thái hậu Dương Vân Nga, vợ của Đinh Tiên Hoàng, mẹ của
Đinh Tuệ. Do đó, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (gọi tắt Toàn
thư) đã dám hạ một câu rằng vua “…về đạo vợ chồng, có nhiều
điều đáng thẹn.” (tr. 321).
Về thụy
hiệu Lê Đại Hành, sử gia Lê Văn Hưu của thế kỷ XIII, đời Trần,
đã có lời nhận xét như sau:
“
Lê Đại Hành thì lấy Đại Hành làm thụy hiệu mà truyền đến ngày
nay, là làm sao? Vì Ngọa Triều
[Nam Việt Vương Lê Long Đỉnh] là con bất tiếu [con không
giống cha ông], lại không có bề tôi Nho học để giúp đở bàn về
phép đặt thụy cho nên thế” (Toàn Thư, tr.341)
Tôi không nghĩ đúng hẳn như thế.
Thật
vậy, khi vua Lê còn tại vị, con thứ 3 là Long Đĩnh đã xin được
làm Thái tử nhưng vua không cho. Một năm trước khi chết, vua
đã chọn người con trai thứ 2 là Long Việt làm người kế vị, tuy
nhiên, khi vua băng hà thì Thái tử Long Việt đã không thể nào
bước lên ngai vàng ngay được vì bị các em là Long Tích (Đông
Thành Vương), Long Kính (Trung Quốc Vương) và Long Đỉnh (Khai
Minh Vương) đem quân đánh túi bụi để tranh ngôi. Thái tử Long
Việt phải mất 8 tháng mới dẹp yên các cuộc phản loạn. Suốt 8
tháng trời, Đại Cồ Việt là một quốc gia độc lập nhưng không có
người làm chủ, vì các con vua bận đánh nhau tối mắt. Việc nước
mà còn như thế, đám tang vua Lê ai quan tâm ?? Tôi nghi ngờ
không biết việc tống táng có đầy đủ nghi lễ quân vương hay
không, nói gì đến việc đặt tên thụy. Vì vậy, có thể nói,
lý do bề ngoài có thể thấy ngay được của việc vua Lê Hoàn không
có thụy hiệu là vì cảnh “cha chung không ai khóc” bởi các quí tử
bận đánh nhau giành ngai vàng chứ không phải vì “… không có
bề tôi Nho học để giúp đở bàn về phép đặt thụy…” (Toàn Thư,
tr.341)
Lại
nữa, dẹp loạn xong, Long Việt lên ngôi, ngồi trên ngai vàng chưa
ấm chỗ (chỉ mới 3 ngày), thì bị người em kế là Long Đĩnh cho
người ám sát. Long Đĩnh trước đó đã bị Long Việt bắt được nhưng
tha tội chết, lại cũng không giam giữ, đúng là thả hổ đi hoang!
Long Đĩnh lên làm vua, lấy hiệu là Khai thiên Ứng vận Thánh
văn Thần vũ Tắc thiên Sùng đạo Đại thắng Minh quang Hiếu Hoàng
đế,
nổi tiếng hoang dâm, tàn ác, phải nằm mà coi triều nên có biệt
danh là Lê Ngọa Triều. Nghĩ tình ông anh hiền từ dại dột, Long
Đĩnh đã truy tôn thụy hiệu cho vua Long Việt là Trung Tông
Hoàng đế.
Với đế
hiệu kêu như sấm của Long Đỉnh, đầy những chữ xưng tụng thái
quá, với việc giết anh ruột (cùng mẹ) là Long Việt để cướp ngôi,
rồi lại truy tôn ngay thụy hiệu Lê Trung Tông để ông anh được
chính danh thờ cúng trong miếu đền, khỏi tủi vong linh, thì
không thể nói như Toàn Thư đã viết ở trên, “Vì Ngọa Triều
là con bất tiếu , lại không có bề tôi Nho học để giúp
đỡ bàn về phép đặt thụy cho nên thế” (Toàn Thư, tr.341).
Câu hỏi
đặt ra ở đây là: tại sao Lê Long Đĩnh truy tôn ngay miếu hiệu
cho Lê Long Việt mà lại làm ngơ đối với Lê Đại Hành, vẫn để cho
cha mang tên tạm, đến thành chết tên trong sử sách, mặc dầu Long
Đĩnh có thừa thì giờ để làm vịệc đó, vì ông làm vua đến 4 năm
(1006-1009)??
Khi
bình luận triều đại Lê Ngọa Triều, Toàn thư có đoạn viết rằng, “Ngọa
Triều không những chỉ thích giết người, lại còn oán vua cha
không lập mình làm thái tử, đánh đau người Man cho họ kêu gào,nhiều
lần phạm húy cha mà lấy làm thích, [VHA nhấn mạnh]
thật là quá tệ. Mất nước mau chóng, há phải không do đâu mà
ra?” (tr. 350-351)
Thì ra,
chính cái lòng căm thù sâu xa vì bị mất quyền lợi mà Long Đĩnh
đã không đặt tên thụy và miếu hiệu chính thức cho Lê Đại Hành;
suốt kiếp cho dùng “chứng chỉ tạm”, để có dịp réo tên cha ra cho
sướng.
Tôi có
người bạn thân thường triết lý nửa đùa nửa thật rằng gia đình
nào cũng có một hủ mắm, chỉ có khác là lớn hay nhỏ và đậy nắp có
kín hay không để hàng xóm khỏi nghe mùi. Trong lịch sử Việt Nam,
có lẽ đây là hủ mắm gia đình tệ hại nhất, vì gia đình họ Lê là
“thiên hạ đệ nhất gia” đương thời! Khi so sánh sự nghiệp của Lê
Đại Hành và Lý Thái tổ (Lý Công Uẩn), sử gia Ngô Sĩ Liên hết lời
khen ngợi Lê Đại Hành về chiến công phá Tống bình Chiêm, là “bậc
anh hùng nhất đời”, hơn vua Lý, nhưng xét về mặt khác, mặt đạo
đức, ông lại đồng ý với sử gia Lê Văn Hưu rằng, “lấy đức của nhà
Lý mà soi đức của nhà Lê thì [đức của nhà Lý] dày hơn” (Toàn
thư, tr.341). Hèn chi ông bà ngày xưa thường nói:
Người trồng cây hạnh người chơi,
Ta
trồng cây đức để đời về sau.
Võ
Hương-An
12/2007
Sách
tham khảo:
-Viện
Sử Học, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (gọi tắt Toàn thư), Văn
hóa Thông tin, Hà Nội, 2003
-Viện
Sử Học, Khâm định Đại Nam Hội điển Sự lệ, IV, Thuận Hoá,
Huế, 2005
-Viện
Sử Học, Đại Nam Thực Lục, I, Giáo Dục, 2002
-Trần
Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược. q.I, Institut de l’Asie du
Sud-Est, Paris, 1987.
- Võ
Văn Dật, Vua Khải Định, Hình ảnh và sự kiện, Nam Việt,
California, 2007
Trở về Trang Chính |