|
Mỹ Đường , tức Nguyễn Phúc
Đán,
tức
Hòang tôn Đán, là con trai trưởng của Đông cung Cảnh (Hòang tử
Cảnh), cháu đích tôn của vua Gia Long, người có thể kế vị vua
Gia Long, sau khi Đông cung Cảnh mất vì bệnh đậu mùa tại Gia
Định vào năm 1801. Nhưng người được chọn kế vị là hòang tử thứ
tư, Nguyễn Phúc Đảm, tức vua Minh Mạng (1820-1841). Dưới triều
đại này có ba vụ án lớn xảy ra. Kể theo thứ tự thời gian, thì
thứ nhất là vụ Mỹ Đường (1824), thứ hai là vụ Lê Văn Duyệt
(1835), và thứ ba là vụ Lê Chất (1835)
.
Với hai vụ Lê Văn Duyệt và Lê Chất, hầu như sách sử nào viết
về triều Nguyễn cũng có nói đến ít nhiều và khá rõ, riêng vụ án
Mỹ Đường thì người ta viết một cách mù mờ, và đầy mâu thuẩn.
Người ta nói gì?
Trong Việt Nam Sử Lược, học giả Trần Trọng Kim đã viết:
“Việc ngài [Minh Mạng]
giết chị dâu là bà vợ Hòang tử Cảnh
và
các cháu, thì không thấy sách nào chép cả, chỉ thấy một đôi
người truyền ngôn như thế mà thôi. Việc ấy thực hư thế nào
không rõ.”
Sử gia Phạm Văn Sơn trong Việt Sử
Tòan Thư thì nói có vẻ quả quyết và rành rẽ hơn:
“. . .
chỉ trong một tháng, sáu tỉnh miền Nam lọt cả vào tay Khôi [Lê
Văn Khôi]. Trong dịp này, Khôi lấy danh nghĩa tôn phù một người
con của Hòang tử Cảnh, mất năm 1801. Vị Vương tôn đó bấy giờ
đang ở Huế.
Nghe tin này, vua Minh Mệnh cho giết ngay con cháu và chị dâu để
bọn Khôi hết đường lợi dụng.”
Mấy chục năm sau, ở hải ngọai lại
có người nhận định rằng:
“. . . không chừng chính ông (vua Gia Long) lại là người ủy thác
ưu tư cho con, nên vua Minh Mạng (Nguyễn Phước Đảm, 1820-1840)
mới bị một số nhà viết giáo sử cho là bạo chúa. Những người này
còn gán rằng ông gian dâm với chị dâu (vợ Hòang tử Cảnh) rồi lấy
cớ bà này chửa hoang, giết bà ta và các cháu . . .”
Nghe cứ như
là sự thực Rashomon.
Chính sử Nhà Nguyễn nói gì
Sách
Đại Nam Thực Lục ghi lại rằng năm Minh Mạng thứ 5 (1824),
“Ứng Hòa công Mỹ Đường có
tội, bị miễn làm thường dân. Mỹ Đường là con trai cả của Anh
Duệ Hòang Thái tử [Hòang tử Cảnh]. Trước có người cáo Mỹ Đường
là người dâm dật, thông gian với mẹ đẻ là Tống Thị Quyên. Lê
Văn Duyệt đem việc tâu kín. Vua sai bắt Thị Quyên giao cho Lê
Văn Duyệt dìm chết mà cấm Mỹ Đường không được chầu hầu. Đến
nay, Mỹ Đường dâng sớ nói là có bệnh, xin nộp trả sách ấn và xin
miễn làm thứ nhân, về ở nhà riêng. Vua vời các thân công đại
thần vào bàn, bèn y cho.”
Mỹ
Đường bị truất tước Công, phế làm người thường, xóa tên trong
tôn phả,mất hết bổng lộc, riêng con cái thì chỉ được biên phụ
vào sau sổ Tôn thất. Việc thờ tự Anh Duệ Hòang Thái tử, tức
Hoàng tử Cảnh, được chuyển qua người em của Mỹ Đường là Mỹ
Thùy.
Qua năm
Minh Mạng thứ 6 (1825) lại thấy ghi một sự việc khác về Mỹ
Đường:
“ Mỹ
Đường đã có tội ở nhà riêng, thường đến thăm con ở xã An Hòa, có
người cho là trốn, tâu lên. Vua bảo rằng: “Hành vi của nó hơn
là chó lợn, trẫm nghĩ cái tình Anh Duệ Hòang thái tử nên không
nỡ làm tội, nay lại nghe kẻ bậy bạ xui khiến, muốn làm gì
chăng?” Liền sai thị vệ bắt về, phái binh canh giữ, rồi tha.”
Năm 1826, Mỹ Thùy bỗng mắc bạo
bệnh và mất.
“Khi
vua [Minh Mạng] mới được tin công mắc chứng hoắc lọan cấp tính
[thổ tả) , tức thì sai đại thần đem ngự y tới thăm, đến nơi thì
công đã chết rồi. Vua thương khóc, bãi triều 3 ngày, cho thụy
là Mẫn Khác, sai Tống Phước Lương và Tôn Thất Dịch trông coi
việc tang, phát của kho cấp cho. Ngày táng, lại bãi triều một
ngày, xa giá đến nhà, vua thân rót rượu cúng. Con gái của công
mới sinh, sai Trưởng công chúa nuôi nấng, chiếu theo bổng công
nữ mà cấp bội cho.”
Để giải
quyết vấn đề thờ tự Đông cung Cảnh, vua phục hồi hòang tịch cho
người con trai trưởng của Mỹ Đường là Lệ Chung, cho tập phong
làm
Ứng Hòa hầu, cấp bổng lộc để lo việc tế tự. Có lẽ hai chữ Ứng
Hòa đã tạo nên một ấn tượng khó chịu nào đó nên năm Minh Mạng
thứ 8 (1827), vua đổi phong làm Thái Bình hầu.
Qua năm
Minh Mạng thứ 14 (1833) khi biên sọan Ngọc diệp
,
đến phần của Đông cung Cảnh, Chánh và phó Tổng tài là Phan Huy
Thực và Tôn Thất Bằng đã tâu rằng:
|
"
...Quả thực có việc vua Minh Mạng ra lệnh cho Tả quân Lê
Văn Duyệt giết bà Tống Thị Quyên, vợ góa của Đông cung
Cảnh, về tội thông dâm với con trai, nhưng hòan tòan
không có việc vua giết hết các con của anh ruột.
Về phần Mỹ Đường và các con – ngọai trừ Lệ Chung
vẫn còn được giữ áo mão và bổng lộc do nhiệm vụ phải thờ
phụng Đông cung Cảnh – quả có việc bị tước bỏ
hòang tịch, phế làm thứ nhân, nhưng sinh mạng an tòan
...
" |
“
Mỹ Đường là con cả Hòang thái tử Anh Duệ, trước vì bị tội, các
con cái phải phụ lục vào cuốn phả Tôn Thất. Nay thiết nghĩ
rằng: tội của Mỹ Đường chỉ là tội tự làm hỏng mình, sánh với
tội phản nghịch có khác. Huống chi con là Lệ Chung hiện được
tập tước để giữ việc thờ cúng ngành Anh Duệ. Ngòai ra, con
trai con gái hắn cũng đều là cháu của Hòang thái Tử Anh Duệ.
Vậy xin cho liệt vào tôn phả theo thế thứ Hòang thái tử Anh Duệ,
mà bỏ chỗ phụ lục đi. Đến như tên và tự Mỹ Đường trong phả
hòang tử, dưới chỗ chép những chữ “Anh Duệ Hòang thái tử tử nhị”
xin chua rõ tội danh để lưu chiểu.”
Cái câu mà Chánh, phó Tổng tài đề
nghị chua vào là,
“Con
trưởng là Mỹ Đường, năm Gia Long thứ 15, được phong tước Ứng Hòa
công, vì đắm đuối chơi bời tự biết có tội, Minh Mệnh năm thứ 5
[1824], mang nộp cả sắc và ấn, xin tha tội, được làm thứ nhân.”
Vua Minh Mạng chấp thuận.
Tuy vậy, gia
đình Mỹ Đường vẫn chưa được yên thân. Năm Minh Mạng thứ 17
(1836), nhân khi duyệt xét lại Ngọc diệp, Tôn Nhân Phủ lại cùng
Bộ Lễ tâu rằng, “ Thứ nhân Mỹ Đường tội ác rất nặng, con cái há
nên còn để ở Tôn phả. Duy có Lệ Chung đã được tập phong để chủ
việc thờ cúng dòng dõi Anh Duệ, thì xin cho miễn nghị, còn con
trai là Lệ Ngân và các con gái là Thị Vân, thị Dao đều bị truất
làm thứ nhân, tước bỏ tên trong sổ họ Tôn thất.”
Lần này vua Minh Mạng cũng gật. Qua năm 1839, đổi phong Lệ
Chung làm Cảm Hóa hầu, sai tiếp tục giữ việc thờ cúng.
Năm1847, Tự Đức nguyên niên, Đông
Các đại học sĩ Vũ Xuân Cẩn – cũng là nhạc gia của vua -- trong
một bản sớ rất thống thiết, kể lại công lao to lớn của Đông cung
Cảnh, dụng ý xin gia phong cho Lệ Chung (để có bổng lộc cao
hơn), trợ cấp cho Mỹ Đường để sống nốt chuổi ngày tàn, và cho
con cháu Mỹ Đường được ghi tên lại vào Tôn phả như năm xưa. Vua
Tự Đức nghe cũng xiêu xiêu, nhưng bảo Bộ Lễ ghi nhận, hẹn hết
tang vua Thiệu Trị sẽ xét lại.
Qua năm
1848, Mỹ Đường bị bệnh chết. Cũng trong năm đó, kinh thành bị
dịch bệnh. Theo tập quán, vua nghĩ rằng trời ra tai họa hẳn do
có điều gì oan khuất đây, nên xuống chiếu tìm cách trừ thiên
tai. Nhân đó, một nhóm các quan 30 người, do Tạ Quang Cự chủ
xướng, đã dâng sớ nhắc lại đề nghị của Vũ Xuân Cẩn năm trước và
xin cho gia đình Mỹ Đường được trở lại quyết định của năm Minh
Mạng thứ 14 (1823). Vua Tự Đức chấp thuận, và qua năm sau, gia
phong cho Tôn thất Lệ Chung làm Cảm hóa Quận công. Kỳ ngọai
hầu Cường Để chính là hậu duệ của dòng này.
Tam sao thất bản
Khi
so sánh phần trích dẫn chính sử ở trên và những trích dẫn của
các tác giả vừa kể, hẳn độc giả cũng thấy được cái nạn tam sao
thất bản do “nghe tin đồn” như thế nào.
Quả thực có việc vua Minh Mạng
ra lệnh cho Tả quân Lê Văn Duyệt giết bà Tống Thị Quyên, vợ góa
của Đông cung Cảnh, về tội thông dâm với con trai, nhưng hòan
tòan không có việc vua giết hết các con của anh ruột. Về phần
Mỹ Đường và các con – ngọai trừ Lệ Chung vẫn còn được giữ áo
mão và bổng lộc do nhiệm vụ phải thờ phụng Đông cung Cảnh –
quả có việc bị tước bỏ hòang tịch, phế làm thứ nhân, nhưng sinh
mạng an tòan.
Trong khi viết Việt Nam Sử Lược,
sử gia họ Trần có tham khảo Đại Nam Thực Lục và Đại Nam Liệt
Truyện nhưng đã lạc mất giữa cánh rừng rậm của hai bộ sách hàng
chục cuốn đó, không đọc được điều muốn biết nên mới nói là
“không thấy sách nào chép cả” . Dầu sao vẫn đáng quí ở chỗ
không quả quyết về điều không rõ.
Trái lại, sử gia Phạm Văn Sơn
thì đã không thận trọng như thế. Ông không nắm được nguồn tài
liệu nhưng lại đóan mò một cách quả quyết, thậm chí không để ý
đến cả niên đại của sự kiện, nên nói ra điều mâu thuẩn mà không
biết.
Như
chúng ta đã thấy, lọan Lê Văn Khôi xảy ra ở Gia Định năm 1833,
chừng một năm sau cái chết của Lê Văn Duyệt (1832), trong khi
việc giết bà Tống Thị Quyên ( vợ Đông cung Cảnh) được vua Minh
Mạng giao cho chính Lê Văn Duyệt thi hành từ năm 1824, 11 năm
trước đó. Vậy thì sao lại nói là “Nghe tin này [Lê văn Khôi
tôn phò con Hòang tử Cảnh], vua Minh Mệnh cho giết ngay con cháu
và chị dâu để bọn Khôi hết đường lợi dụng”.
Từ chỗ
ghi nhận sự việc sai lầm này hẳn sẽ dẫn đến nhiều sai lạc khác
nữa cho thế hệ sau.
Sự chọn lựa Hòang tử Đảm
Đông
cung Cảnh chết lúc còn quá trẻ (1801, 22 tuổi ta) đã để lại một
khỏang trống lớn trong vấn đề thừa kế ngai vàng, nhất là sau khi
vua Gia Long thống nhất đất nước vào năm 1802.
Bốn năm
sau ngày Đông cung Cảnh mất, vào mùa thu 1805, sử ghi nhận quần
thần (không rõ những ai) xin lập thái tử. Vua đáp:
“Ta từ
thuở nhỏ, gặp vận nhà không may, từng trải mọi gian hiểm mới có
ngày nay, khó nhọc mà được, mới phải nghĩ truyền để lâu dài.
Thái tử là ngôi vua sau này của nước, chính thống là ở đó. Nay
hòang tử hòang tôn hãy còn nhỏ, trẩm đương ủy cho thầy dạy, rèn
đúc thành tài đức rồi sau chọn kẻ nào hiền mới lập, thế cũng
chưa muộn.”
Vua Gia
Long có nhiều con trai, bốn người con đầu là các Hòang tử Cảnh,
Hy, Tuấn và Đảm. Sau khi Đông cung Cảnh chết đi, Hòang tử Hy
và Hòang tử Tuấn cũng chết ở miền Nam trước khi đất nước thống
nhất. Vào thời điểm vua Gia Long nói câu vừa rồi, người con
trai lớn nhất là Hòang tử Đảm – tục gọi là ông Hòang Tư -- mới
15 tuổi, còn cháu đích tôn của vua, Hòang tôn Đán mới chừng 6, 7
tuổi.
Trong
số các đại thần bấy giờ, có lẽ không ai nóng lòng về việc lập
thái tử cho bằng Tiền quân Nguyễn Văn Thành. Năm 1812, trong
một mật sớ đề nghị 4 điều thì điều thứ nhất là xin sớm lập thái
tử để yên lòng người. Vua đồng ý nhưng chưa có quyết định.
Năm
1814, Hòang hậu họ Tống – tức Thừa Thiên Cao Hòang hậu, vợ cả
vua Gia Long – mất. Vua chỉ định Hòang tử Đảm đứng chủ tế, vì
ngay từ năm mới 3 tuổi, ông đã được Tống Hòang hậu nhận làm con
nuôi, có giấy tờ giao nhận đàng hòang do Lê Văn Duyệt viết theo
lệnh vua . Bầy tôi có người bàn nên để cho đích tôn là Hòang
tôn Đán làm chủ tế. Vua nói rằng:
“Hòang
Tư từng làm con của hòang hậu, đã có giấy tờ, nên sai làm chủ
tự, việc lớn của nhà nước không nên câu nệ theo lễ đích tôn thừa
trọng như nhà thường.” Nguyễn Văn Thành cho thế thì văn tế khó
gọi. Vua bảo rằng: “ Con theo mệnh cha tế mẹ là việc danh chính
ngôn thuận, có gì mà không nên.” Bấy giờ việc bàn mới định.
Nguyễn Văn Thành tỏ ý không bằng lòng.”
Càng
ngày thì ý của Nguyễn Văn Thành càng lộ rõ: không những cần
phải lập thái tử, mà người đáng lập là Hòang tôn Đán chứ không
ai khác. Đại Nam Thực Lục có ghi lại một chi tiết rất sống động:
“Vua [Gia Long] tuổi đã
cao mà chưa định người nối ngôi. Hòang tử thứ tư hiền và lớn
hơn cả, vua đã để ý. Bầy tôi đều có lòng theo. Riêng một mình
Nguyễn Văn Thành là người ngạo mạn kiêu căng, muốn được vua nhỏ
tuổi, không thích vua lớn tuổi. Một hôm mời các quan trong
triều uống rượu ở nhà, nói lên rằng: “ Hòang tôn Đán nối ngôi,
tôi sắp tâu xin lập đây”. Trong đám ngồi, không ai dám nói gì.
Trịnh Hòai Đức sợ vạ lây mình, bèn nói rằng: “ Việc lớn của nhà
nước, quyết định do ở lòng vua, nếu người bầy tôi định kế riêng,
tham lấy công to thì tội lại lớn”. Văn Thành bèn thôi. Sau có
người nói đến tai vua. Vua giận, nói rằng: “ Hắn muốn dựng vua
nhỏ để dễ khống chế, ngày sau có thể chẹt họng, vỗ lưng chăng.
Ta há tối tăm nhầm lẫn, không biết đắn đo nên chăng, vội nghe
lời hắn mà không vì xã tắc chọn người sao!” Từ đó, hễ cứ Văn
Thành vào yết kiến là chỉ xin dựng thái tử. Vua nín lặng. Văn
Thành tự biết không được thỏa ý, càng thêm ngờ sợ.”
Điều có thể hiểu và điều khó hiểu
Thứ nhất, can án có hai người, là
Tống thị Quyên và Mỹ Đường, nhưng chỉ có Thị Quyên bị bức tử
dưới tay Lê Văn Duyệt do lệnh của vua. Còn Mỹ Đường, đầu tiên
mới chỉ bị cấm chầu hầu. Sau đó mới bị miễn làm thứ nhân là do
biết tội mà tự nguyện, với sự đồng ý của các đại thần và sự
chấp thuận của vua. Điều này thể hiện đúng cái ý “nghĩ cái
tình Anh Duệ Hòang thái tử nên không nỡ làm tội” như vua
Minh Mạng đã có lần nói. Tống thị phải chết để cho Mỹ Đường
được sống, vì “máu lõang còn hơn nước lạnh.” và
có lẽ vua không muốn mang tiếng nồi da xáo thịt, nhúng tay vào
máu anh em.
Sự thực ở đâu?
Chính cái điểm khó hiểu, mập mờ
vừa nói đã dẫn đến dư luận cho rằng đây là một vụ thanh tóan
đối thủ trong vấn đề tranh chấp quyền lực, nên hơn 150 năm sau,
có tác giả đã viết:
“Thời
ấy, có 2 tội thuộc hàng đại ác, không thể tha, ấy là bất trung
và thất đức.Bất trung thì con trai trưởng của Hoàng tử Cảnh
chẳng có biểu hiện gì, vậy thì Minh Mạng muốn yên vị trên ngai,
ắt phải khép Mỹ Đường vào tội thất đức là thông dâm với mẹ. Ôi,
giá mà Mỹ Đường chẳng phải cháu đích tôn của Gia Long thì đời
ông sẽ êm thấm biết ngần nào! Vua Minh Mạng tiếng là do bà Thuận
Thiên Cao Hoàng hậu sinh ra nhưng từ nhỏ đã được bà Thừa Thiên
Cao Hoàng hậu nuôi dưỡng, nghĩa là với Hoàng tử Cảnh nào có khác
chi anh em cùng cha cùng mẹ, thế mà cam tâm giết hại chị dâu và
đày đoạ các con của anh.Ai đó đã nói rằng phàm đã là hoàng đế
thì chẳng thể dung tha dòng trưởng của tộc họ nhà mình. Mức độ
đúng sai với ai chưa rõ ,nhưng với vua Minh mạng, chí lý thay!"
Do đó, câu hỏi nổi bật trong vụ
án Mỹ Đường, đối với riêng tôi, là: liệu đây là một vụ án
hình sự hay thực chất là một vụ án chính trị mặc áo hình sự?
Để trả lời câu hỏi này, thiết nghĩ có thể đặt một câu hỏi khác,
cụ thể và dễ hiểu hơn: có thực vua Minh Mạng cần thiết
phải triệt hạ Mỹ Đường để củng cố ngai vàng không?
Như đã
trình bày ở trên, Hòang tử Đảm phải chờ đợi 15 năm ròng mới
chắc chán rằng ngai vàng thuộc về ông. Bề ngòai, đó là một sự
lựa chọn đầy thận trọng của vua Gia Long, nhưng bên trong, theo
thiển ý, thời gian 15 năm còn có một ý nghĩ khác. Đó là
việc dọn đường, nghĩa là chuẩn bị mọi điều kiện
thuận lợi cho người kế vị để việc chuyển giao quyền hành được êm
ái, tránh sự xáo trộn làm nghiêng ngã triều đại mà ông
đã tốn bao công sức mới dựng nên.
Trong vấn đề chọn người kế vị,
vua Gia Long không thể không quan tâm tới hai yếu tố căn bản:
- thứ nhất là khả năng và tư cách
của người thừa kế;
- và thứ hai là, phản ứng của các
công thần sẽ như thế nào đối với người kế vị, vì phản ứng này
rất quan trọng, ảnh hưởng tới sự an nguy của triều đại.
Bằng vào kinh
nghiệm chính trị của một người lập nghiệp từ khi trong tay
“ đất chỉ một
thành, quân chỉ một lữ”
,
vua Gia Long có thừa khôn ngoan để dự kiến được rằng người kế vị
sẽ phải đối phó những vấn đề gì trong nội bộ, do các công thần
gây ra giữa các điểm thu hút quyền lực mang danh nghĩa là con
hoặc cháu. Nếu vua chọn cháu (Hòang tôn Đán) thì phải đề phòng
phản ứng của phe các con; và ngược lại, nếu chọn con, phải đề
phòng phản ứng của phe cháu, bởi vì, giả dụ bản thân các con và
cháu muốn yên thân tuân theo lệnh cha, ông, đi nữa , cũng không
tránh tình trạng bàn ra tán vào, xúi giục này nọ của các đại
thần, nếu họ có quan điểm ngược lại với vua. Trong sự trì hõan
quyết định của vua, chắc chắn có cái thâm ý mua thời gian đủ để
thăm dò phản ứng của các đại thần, và quả nhiên Nguyễn Văn Thành
mắc bẫy.
Chính sau khi cái ý của Nguyễn
Văn Thành đã bộc lộ rõ ràng, vua mới công bố quyết định dứt
khóat.
Ý kiến, Phê bình xin gửi về :
vohuongan@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |