Phải nhiều sự đổi
thay trong điều kiện thời tiết mới đủ gây nên một cơn bão lớn.
Cũng thế, cuộc xâm lăng của người Pháp ở Việt Nam xảy ra vào năm
1858 tại Đà Nẵng, rồi sau đó lan ra khắp nước, đã thành hình do
nhiều nguyên nhân khác nhau mà hoàn cảnh lịch sử đã đẩy đưa hội
tụ vào thời điểm ấy.
Vấn đề được xét đến
trong chương này là, đại khái, nguyên nhân nào đã thúc đẩy Pháp
can thiệp bằng vũ lực một cách mạnh mẽ ở Việt Nam; vì sao Đà
Nẵng lại được chọn làm mục tiêu đầu tiên, và những gì đã diễn
ra tại đấy để trở thành biến cố lịch sử không thể quên được.
NHỮNG DIỄN BIẾN TRONG CHÍNH SÁCH CỦA PHÁP VỀ VIỆT
NAM
Do sự hậu thuẩn mạnh
mẽ của các thành phần bảo thủ, nhất là của Giáo Hội Thiên
Chúa Giáo Pháp, Napoléon III đã chấm dứt chế
độ Vương Chính Tháng Bảy vào năm 1852, lập ra nền Đệ Nhị Cộng
Hòa, rồi lại chấm dứt chế độ này để thiết lập Đệ Nhị Đế Chính và
trở thành hoàng đế nước Pháp. Như vậy, dù muốn dù không,
Napoléon III không thể không quan tâm tới quyền lợi thiết thân
của những người đã ủng hộ ông leo lên ngai vàng. Ông tự thấy có
bổn phận của kẻ “vệ đạo”, đứng ra che chở cho giới Thiên Chúa
Giáo ở Viễn Đông, mà Trung Quốc và Việt Nam là hai nơi ông được
biết đang diễn ra nhiều cảnh đọa đầy thống khổ của giáo sĩ và
giáo dân.
Mặt khác, sự bành
trướng kỹ nghệ của Pháp đòi hỏi Napoléon III
phải lo liệu tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm và nguồn cung
cấp nguyên vật liệu với giá rẻ. Sự chiếm cứ Việt Nam sẽ là một
hành động đem lại những thành quả lớn lao, vừa thỏa mãn nguyện
vọng của giới Thiên Chúa Giáo, vừa phát triển được kinh tế quốc
gia. Nói một cách khác, can thiệp mạnh mẽ vào Việt Nam thì địa
vị của Napoléon III càng được củng cố.
Ngoài lý do nội tại
đó, Pháp hoàng lại còn nhận được sự thỉnh cầu, thúc đẩy, đầy
thuận lợi từ nhiều phía.
o
Ở trong nước,
số người ủng hộ việc sử dụng vũ lực đối với Việt Nam thật đáng
kể, vì vừa đông đảo lại vừa có thế lực. Tựu trung, có thể chia
làm ba nhóm:
·
Trước hết là các sĩ
quan và tướng lãnh hải quân phục vụ trong hạm đội Pháp ở biển
Trung Quốc. Đô đốc Cécille, đô đốc Fourichon, hải
quân đại tá Jaurès …là những nhân vật tiêu biểu thuộc nhóm này.
Lý do ủng hộ thật là giản dị: Pháp cần có một cứ điểm ở Viễn
Đông để hạm đội có nơi nghỉ ngơi, sửa chữa, tiếp tế và ẩn núp
khi bão tố. Đà Nẵng của Việt Nam đáp ứng được những đòi hỏi
đó.
·
Thứ đến là các nhà
ngoại giao Pháp phục vụ ở Trung Quốc, như Forth Rouen, De
Courcy, Bourboulon …. De Courcy thì đề nghị Pháp
chinh phục Cao Ly (Korea ngày nay) và Việt Nam; đến năm
1857 ông âập lại đề nghị đó một lần nữa và cho rằng nếu muốn
thành công, Pháp cần phải liên kết với Tây Ban Nha trong việc
chinh phục Việt Nam, và phải chiếm cho được một lãnh thổ để làm
căn cứ, bảo đảm cho tương lai lâu dài. Dưới mắt Bourboulon, Đà
Nẵng là mục tiêu đáng quan tâm nhất.
·
Cuối cùng là các
giáo sĩ, trong đó Huc, Legrand de La Lyraye và Pellerinxe "Pellerin" là những nhân vật quan
trọng hàng đầu.
Huc là một giáo sĩ chưa hề
đến Việt Nam
nhưng hơn ai hết, ông tỏ ra rất hăng say về một hành động can
thiệp bằng vũ lực vào xứ này vì quyền lợi kinh tế của nước
Pháp. Ngay từ khi chiến tranh Crimée (1854-1856) đang còn lửa
khói tràn lan, ông đã đề nghị với Napoléon III
lập lại Công ty Đông Ấn và Pháp cần phải chiếm Cao Ly,
Madagascar và Đà Nẵng. Vì bận chiến tranh Crimée, Pháp hoàng
chỉ ghi nhận đề nghị chứ chưa có một quyết định tích cực nào.
Tháng 1 năm 1857, linh mục Huc lại gởi một đề nghị mới lên
Napoléon III, trong đó có đoạn như sau:
“Ngày nay, các cơ
hội đều thuận tiện để chiếm lấy một mảnh đất ở Việt Nam, nơi mà
Pháp có một quyền hạn không thể chối cải theo hiệp ước 1787
(?!)… Việc chiếm cứ Việt Nam là một điều dễ nhất thế giới và
việc này sẽ đem lại những thành quả lớn lao. Trong Biển Trung
Quốc, nước Pháp có lực lượng quá đủ để thi hành công việc đó. .
. Một dân tộc hiền lành, cần cù, rất thích hợp với việc truyền
bá đức tin Thiên Chúa, đang rên siết dưới một chế độ chuyên chế
ghê tởm. Dân tộc này sẽ đón tiếp chúng ta như là những nhà giải
phóng, những ân nhân; chỉ cần một ít thời gian để biến họ hoàn
toàn thành người Thiên Chúa giáo và trở nên tận trung với nước
Pháp. (!)
“Đà Nẵng ở trong tay Pháp sẽ là một
hải cảng không thể chiếm cứ được và sẽ là một cứ điểm quan trọng
nhất để khống chế các công cuộc kinh doanh ở thượng Á châu
(Hauts Asie)”
Tương tự như Huc, Legrand de La Liraye cũng xuất thân là một linh mục.
Khoảng tháng 12 năm 1857, mặc dầu Napoléon III đã có quyết định dứt khoát đánh chiếm Việt Nam nhưng Liraye vẫn
không ngần ngại bồi thêm một phát nữa để củng cố lập trường của
Pháp hoàng cho được vững chắc. Theo bản điều trần của Liraye
gởi lên hoàng đế Pháp, việc đánh chiếm Việt Nam có các lợi điểm
sau:
· Về chính trị:
việc này sẽ giúp ngăn chận thế lực của Anh ở Viễn Đông, của Tây
Ban Nha ở Phi Luật Tân, của Hòa Lan ở Nam Dương. Pháp sẽ có căn
cứ để tiếp tế, buôn bán và làm nơi trú ẩn cho tàu bè trong vùng
khi cần thiết.
· Về kinh tế:
Việt Nam là một thuộc địa màu mỡ, giàu có hơn cả Java, Bornéo;
dân lại thông minh và siêng năng.
· Về quân sự:
Rất dễ đánh chiếm vì chính quyền tàn bạo và thối nát; dân chúng
đang tưởng nhớ Nhà Lê, vua thì sa đọa, đắm mê tửu sắc (?),
quan lại chia làm hai phe (?), tranh giành quyền lợi với
nhau. Hải quân thì đã bị tan nát gần hết sau cuộc nổ súng của
Pháp năm 1847; bộ binh thì thiếu khí giới, kỹ thuật chiến đấu
kém, thành lũy hư hỏng, quân số ít v.v.
Tóm lại, theo
Liraye, tình thế “ Đã quá chín rục rồi nhưng chưa rụng
xuống đấy thôi; lạy Chúa, đừng để nó rụng vào tay
người Anh”
Kế hoạch của Liraye
là “Tiên lễ hậu binh”. Ban đầu, cho một phái đoàn ngoại giao
sang tặng quà cáp và thuyết phục để sĩ quan Pháp được hiện diện
ở Phú Quốc, Cam Ranh, Đà Nẵng, Cửa Cấm để bảo đảm sự tự do thông
thương, tự do truyền giáo và cư trú của giáo sĩ ngoại quốc.
Đồng thời cũng đòi chiếm hữu vĩnh viễn Đà Nẵng, Hội An và Cù lao
Chàm làm nơi trú ẩn, tiếp liệu và kho tàng cho
thuyền bè. Hai bên cũng sẽ đi đến một liên minh về tự vệ và tấn
công.
Nếu vua Việt Nam không chấp nhận
các điều kiện đó thì sẽ tiến tới cuộc bảo hộ. Nếu lại ngoan cố
không nghe thì bấy giờ sẽ đánh ngay, đánh mạnh và mau, cùng một
lúc, tấn công cả ở Bắc kỳ, Huế và Đà Nẵng, lật đổ triều đình Nhà
Nguyễn, lập một người giả làm con cháu Nhà Lê lên làm vua ở Hà
Nội. Sở dĩ Pháp làm mạnh được như thế là vì một khi Việt Nam từ
chối những “điều kiện hợp lý ” (sic) như vậy tức là
“nó tự hiến mình thành thủ phạm trước mắt thế giới khi đoạn
tuyệt một cách vô liêm sỉ với một nước đồng minh”(sic). Le
Grand de La Liraye còn bày tỏ lòng nhiệt thành chinh phục Việt
Nam của ông ta bằng cách tự nguyện tham gia đoàn quân viễn chinh
với vai trò thông ngôn .
Người thứ ba
trong nhóm này là giám mục Pellerin, nạn nhân của
chính sách cấm đạo hà khắc của Nhà Nguyễn. Sau khi theo dõi
cuộc đàm phán bất thành giữa Montigny và Triều đình
Huế, ông đã theo tàu đến Hongkong và về Pháp vào tháng 5-1857.
Tại đây, ông bắt đầu một cuộc vận động tích cực cả về phía chính
quyền lẫn dư luận để đạt cho được một cuộc can thiệp bằng vũ lực
ở Việt Nam. Giám mục đã gởi lên Napoléon III
một tập hồi ký về hoàn cảnh Thiên Chúa giáo ở Việt Nam, dĩ nhiên
với rất nhiều nét bi thảm. Trong khoảng từ tháng 6 đến tháng 8
năm 1857 ông đã tìm cách bệ kiến vua Pháp hai lần để trình bày
thảm trạng mà ông đã trải qua cùng đưa ra lời thỉnh cầu khẩn
thiết. Cả hai lần đều được vua Pháp hứa hẹn vững chắc. Hoàng
hậu Eugénie de Montijo, một tín đồ ngoan đạo, trong vòng ảnh
hưởng cuộc vận động của Pellerin, đã tuyên bố ở Biarritz một câu
có tính cách quyết định : “Cần phải trả thù cho các thánh tử đạo
của chúng ta”.
Về phía dư
luận, bằng những bài thuyết giảng ở nhà thờ, kể lại những thảm
trạng mà giáo sĩ và giáo dân đã và đang trải qua ở Việt Nam,
cọng thêm với sự ủng hộ nhiệt tình của hai nhà báo là anh em
Louis và Eugène Veuillot, giám mục Pellerin đã
thành công trong việc tạo nên một không khí xúc động trong quần
chúng, muốn Pháp phải có ngay một hành động tích cực để giúp
người bị hại sớm thoát khỏi tai ách.
*
Đó là những
thuận lợi từ trong nước; trên bình diện quốc tế, có nhiều việc
xảy ra, đem lại thời cơ tốt đẹp cho Pháp dễ dàng hành động:
- Tại Ấn Độ, Anh
đang hết sức nhọc nhằn lúng túng vì phải đối phó với cuộc nổi
loạn của lính Cipayes, mà mức độ đe dọa lung lay thuộc địa đã
lên đến cực điểm vào tháng 6 năm 1857. Trong tình thế đó, Anh
còn lòng dạ nào để cản trở Pháp ra tay ở Việt Nam?
- Do việc đánh Quảng
Châu (Trung Quốc) vào tháng 12 năm 1857, hạm đội Pháp ở Viễn
Đông đã tăng cường thêm 8 tàu chiến. Lực lượng này đủ để đánh
chiếm Viêt Nam mà khỏi cần phải điều động rộn ràng khiến Anh chú
ý;
- Vua Tự Đức lại gây
thêm những lỗi lầm tai hại: chém đầu giám mục Diaz người Tây
Ban Nha (20-7-1857), đang giữ chức Đại lý Giáo Hoàng tại Bắc Kỳ,
cùng một số giáo sĩ khác.
*
Pháp hoàng Napoléon III
Thực ra, sự thuận
lợi từ trong hay ngoài nước cũng chỉ là những giọt nước thêm
vào, làm tràn ly nước vốn đã đầy. Napoléon III đã nuôi ý định giải quyết vấn đề Việt Nam một cách dứt
khóat. Vì vậy, đề nghị của linh mục Huc (I-1857) đã
được Pháp hoàng chuyển cho Bộ trưởng Ngoại giao Walewski cứu xét. Ông này ra lệnh cho Cintrat, Giám đốc Văn
khố (Bộ Ngoại giao) làm một tờ trình về vấn đề Việt Nam. Sau tờ
trình này, Ủy Ban Cứu Xét Vấn Đề Việt Nam (Commission de
la Cochinchine) được thành lập, do Nam tước
Brenier làm chủ tịch. Hội viên là hải quân đại tá
Jaurès, Bá tước Fleury và Giám đốc Cintrat. Ủy Ban
đã họp tất cả bảy phiên, từ 28-4 đến 18-5-1857. Trong phiên họp
cuối cùng, Ủy Ban đã đi đến những kết luận quan trọng sau đây:
“Vấn đề quyền lợi
tôn giáo, chính trị và thương mãi.
Từ 50 năm nay, các
giáo sĩ ta và giáo dân có đến 60,000 người đã bị ngược đãi và bị
giết chết. Có thể nào chúng ta điềm nhiên tọa thị trước những
việc đang xảy ra ở Việt Nam, trong khi tiếp theo người Anh,
chúng ta đã vũ trang hỗ trợ cho những lý do tôn giáo và văn minh
ở Trung Quốc. Quyền lợi chính trị là cơ năng sức mạnh của mọi
sự, thúc đẩy các quốc gia Tây phương hướng về Viễn Đông. Có lẽ
nào chúng ta chả có gì ở đấy cả, trong khi các nước Anh, Hòa
Lan, Tây Ban Nha, và ngay cả Nga, cũng đã tạo lập ở đấy nhiều cơ
sở. Lợi lộc về thương mãi thì thật là hiển nhiên, người ta đã
tìm thấy ở Việt Nam có bông vải, lụa, đường, gạo; còn gỗ để xây
cất thì rất thừa thãi, chưa kể cà phê trồng làm hàng rào vườn
tược (??)
“Vấn đề liên quan
giữa ta và Anh.
Anh chẳng có quyền hạn nào trên đất
Việt Nam, chúng ta thì đã có ở đấy cả một truyền thống. Người
Anh đã xếp đặt ở Trung Quốc, còn chúng ta sẽ xếp đặt công việc
của chúng ta ở Việt Nam. Chúng ta có thể hành động độc lập.
Quyền lợi tôn giáo là đồng nhất tuyệt đối với quyền lợi nước
Pháp. Chỉ có chúng ta mới đã chứng tỏ vũ lực ở đấy
. Để thành
công không khó khăn, cuộc chinh phục phải được giữ bí mật và
nhất là phải thi hành trong thời gian gần nhất có thể được.
Cuộc chinh phục này sẽ căn cứ vào những thiệt hại mới đây của
chúng ta và việc cần phải chấm dứt sự ngược đãi tôn giáo.”
Nam tước Brenier,
Chủ tịch Uỷ ban Cứu xét vấn đề Việt Nam
Biên bản này được
trình lên Bộ Ngoại giao để đệ lên Pháp hoàng. Napoléon III quyết định phát động cuộc viễn chinh. Tuân theo
ý chỉ của hoàng đế, ngày 25-11-1857, Thượng thư Ngoại giao
Walewski chuyển cho Thượng Thư Hải quân – Đô đốc
Hamelin – một huấn lệnh về cuộc chinh phục Việt Nam:
“. . . Chúng ta
tiên liệu một cuộc thất bại chắc chắn nếu bảo Thiếu tướng
Rigault de Genouilly tái khai thông
con đường thương thuyết. Vừa đến nơi, viên thiếu tướng
phải chiếm ngay vịnh và lãnh thổ Đà Nẵng. Làm chủ vị
trí này rồi. . . thì đồng thời xét xem hoặc phải mở rộng nỗ lực
để thực hiện cơ sở bảo hộ trên nước Việt Nam, hoặc phải tự giới
hạn trong việc kết thúc bằng một hiệp ước về thương mãi, hữu
nghị và hàng hải, vừa qui định những sửa đổi thuận lợi đối với
việc ngược đãi các giáo sĩ của chúng ta, trong đó, sự bảo đảm
trong tương lai phải là đối tượng của một qui định minh bạch và
chính xác. Hoàng đế đã hoàn toàn đồng ý và giao việc lựa chọn
một trong hai giải pháp trên đây cho sự sáng suốt của thiếu
tướng Rigault de Genouilly, để cân nhắc và thi hành cho xứng
đáng với phạm vi sứ mạng và phương cách hành động.”
“. . . Dù là giả thuyết này
hay giả thuyết khác, tưởng cũng nên bảo toàn việc chiếm đóng Đà
Nẵng như là một bảo đảm ràng buộc chính quyền Việt Nam thi hành
đúng đắn cam kết. . . ”
Chưa bao giờ người
ta thấy một huấn lệnh quân sự lại bao hàm một tính chất chính
trị mềm dẻo đến thế. Có lẽ vì tính cách đặc biệt đó nên sau khi
tiếp nhận huấn lệnh này, Thượng thư Hamelin đã không
làm gì khác hơn là lặp lại gần như nguyên văn trong chỉ thị của
ông đề ngày 25-11-1857 gởi cho Genouilly.
*
Ai cũng biết rằng
cuộc xâm lăng Việt Nam do Pháp chủ trương, nhưng tại sao ngay
trong bước đầu lại có sự tham gia của Tây Ban Nha? Pháp đã lôi
kéo Tây Ban Nha vào vòng chiến như thế nào?
Ngày 1-1-1857,
Thượng thư Ngoại giao Pháp chỉ thị đại sứ Turgot tại Madrid thăm
dò xem Tây Ban Nha có sẵn lòng hợp lực với Pháp để ngăn ngừa cái
thảm kịch Diaz (giám mục người Tây Ban Nha bị xử tử) tái diễn
không? Madrid chấp thuận ngay, vì việc dấn thân này không gây
phiền phức gì lắm cho họ, bởi Tây đã có sẵn lực lượng ở Phi Luật
Tân, điều động rất dễ dàng và ít tốn kém.
Như đã trình bày ở
trước, Pháp chinh phục Việt Nam là vì tham vọng đế quốc thực
dân, còn tôn giáo là thứ yếu, dù nó được trình làng như là lý do
chính đáng. Vậy Pháp không e ngại rằng một cuộc rủ rê như vậy
có thể biến Tây Ban Nha thành một đối thủ lợi hại của Pháp về
sau trong vấn đề quyền lợi ở Đông Dương chăng? Thực ra, trong
việc này Pháp đã tiên liệu và đã nắm đủ dữ kiện để biết chắc
rằng Tây Ban Nha không có tham vọng đất đai trong cuộc viễn
chinh này; họ nhập cuộc chỉ thuần lý do tôn giáo. Điều này
được chứng tỏ về sau, khi Tây rút khỏi cuộc xâm lăng một cách
lặng lẽ, và qua các hòa ước, họ đã không có một đòi hỏi nào về
đất đai.
*
Bấy giờ, Rigault de
Genouilly đang làm Tư lệnh lực lượng
Pháp ở Biển Trung Quốc và lực lượng này đang tham chiến bên cạnh
Anh tại Quảng Đông, đánh lại Trung Quốc. Huấn lệnh ngày
25-11-1857 đến tay Genouilly vào tháng 1-1858, sau khi Pháp
chiếm được Quảng Châu. Vì trận chiến đang còn tiếp diễn nên chỉ
thị về Việt Nam được tạm gác qua một bên cho đến sau khi hòa ước
Thiên Tân được ký kết giữa hai nước Pháp Hoa mới được đem ra thi
hành.
CUỘC TẤN CÔNG ĐÀ NẴNG CỦA LIÊN QUÂN PHÁP – TÂY,
1858-1860
Cuộc tấn công của
liên quân Pháp-Tây Ban Nha tại Đà Nẵng từ 1858 đến 1860 bao gồm
bốn giai đoạn. Mỗi giai đoạn đánh dấu một biến chuyển quân sự
khác nhau.
1) GIAI
ĐOẠN TẤN CÔNG MỞ MÀN (1-9-1858 – 2-2-1859)
Trận đánh mở đầu (1-9-1858)
Phó Đô đốc Rigault de Genouilly,
Tư lệnh cuộc viễn chinh.
Khởi hành từ cảng
Yulikan ở cực nam đảo Hải Nam – cách Đà Nẵng chừng 180 dặm theo
đường chim bay – vào lúc tinh mơ ngày 30-8-1858, đoàn tàu trận
của liên quân Pháp-Tây Ban Nha dưới quyền chỉ huy của Rigault de
Genouilly, bấy giờ là Phó Đô đốc
(Vice-Admiral), đã đến vịnh Đà Nẵng vào chiều hôm đó.
Lực lượng viễn chinh
gồm 14 tàu chiến, trong đó có chiếc El Cano của Tây Ban
Nha chạy bằng hơi nước. Về phía Pháp có những tàu buồm lớn, như
Némésis, Fusée. Dordogne, Plégeton, Mitraille, Alarme,
Dragonne, Avalanche, Prigent. . . Quân số tổng cọng 2,000
người, trong đó phần Tây Ban Nha, gồm cả lính và sĩ quan có 450
người, đến từ Philippines. Trên soái thuyền Némésis, bên
cạnh Genouilly có giám mục Pellerin đóng vai trò cố
vấn chính trị và quân sự. Ông đã từ Pháp đến Hongkong vào tháng
8-1858 để nhập vào đoàn quân viễn chinh.
Sáng ngày 1-9-1858, Genouilly gởi
một tối hậu thư cho viên Tấn thủ Đà Nẵng, bảo phải nộp tất cả
thành trì và pháo đài phòng vệ cho Pháp, hạn trong hai giờ phải
trả lời. Dĩ nhiên, không thể nào có phúc đáp từ phía Việt Nam,
vì viên chức địa phương không đủ thẩm quyền để trả lời, còn Huế
thì hai giờ ngắn ngủi, không thể nào liên lạc được. Kỳ hạn hết,
Genouilly ra lệnh khai hỏa. Lập tức súng đại bác trên các tàu
Pháp-Tây khạc đạn xối xả vào các vị trí quân sự của Việt Nam
quanh vịnh Đà Nẵng, đặc biệt là hai thành An Hải và
Điện Hải .
Sau nửa giờ pháo cường tập, vô hiệu hóa phần lớn sức kháng cự
của các cơ sở phòng ngự, Genouilly ra lệnh đổ bộ. Đại tá
Reynaud, tham mưu trưởng trong bộ chỉ huy viễn
chinh, được lệnh dẫn các đại đội đổ bộ thuộc các tàu Némésis,
Phlégeton, Primauguet, cùng một phân đội công binh
chiến đấu lên bờ. Genouilly đi theo cánh quân này. Rời xuồng,
quân Pháp kéo lên bờ phía hữu ngạn, chỉnh bị hàng ngũ theo đội
hình tác chiến, và tiến đến các mục tiêu, vừa đi vừa hô vang
khẩu hiệu “Hoàng đế vạn tuế ” (Vive l'Empereur!). Nhờ sự yểm
trợ hữu hiệu bằng đại bác của các tàu Mitraille, Alarme và El
Cano, các mục tiêu đã bị thanh toán nhanh chóng, mặc dầu sức
kháng cự của quân Việt không phải là quá tệ. Thành An Hải cùng các pháo đài Phòng Hải, Trấn Dương, các
Đồn Nhất, Nhì, Ba, Tư đều lần lượt lọt vào tay quân Pháp. Nói
một cách khác, nội trong chiều ngày 1-9 quân Pháp đã làm chủ
toàn vùng Tiên Sa. Khi ánh nắng chiều bớt thiêu
đốt gay gắt, Genouilly cho quân trên các tàu tiếp tục đổ bộ,
chiếm đóng các điểm then chốt. Thành An Hải do hai đại đội bộ
binh Pháp và một nửa đại đội Tây Ban Nha trú đóng. Cạnh thành
này, tại một nơi bằng phẳng dưới chân núi Sơn Trà, công binh
được lệnh thiết lập cơ sở cho bộ chỉ huy và đây cũng là nơi đồn
trú chính của đoàn quân viễn chinh.

Trận đánh ngày 2-9-1858 hay trận đánh thành Điện
Hải
Đêm mồng 1 rạng ngày
2-9, đại tá Reynaud mở cuộc thăm dò vùng đất phía
tây nam -- tức là vùng tả ngạn, từ thành Điện Hải ngược lên phía
thượng lưu sông Hàn– để chuẩn bị cho cuộc tấn công
ngày hôm sau.
Sáng ngày 2-9, tàu
hơi nước El Cano và 5 tàu khác được lệnh tập trung hỏa
lực vào thành Điện Hải, căn cứ chủ yếu của Đà Nẵng. Sau nửa giờ
chịu đựng và gắng gượng bắn trả, thành bắt đầu nao núng. Thiếu
tá Jauréguiberry được lệnh dẫn quân đổ bộ hãm
thành và các đồn phụ thuộc. Chẳng mấy chốc toàn bộ hệ thống
phòng thủ tả ngạn cũng chịu chung số phận của hữu ngạn ngày hôm
trước. Sau khi cho quân phá hũy kho tàng, vũ khí, Jauréguiberry
cùng đoàn quân đổ bộ xuống tàu rút về căn cứ Tiên Sa. Họ không dám chiếm đóng vì e dè một cuộc phản công mà họ
chưa ước lượng được sức mạnh phải đương đầu. Sau trận Điện Hải,
viên Tư lệnh Pháp điều tàu El Cano và Dragone rời
vịnh Đà Nẵng ra phòng thủ vùng biển Mỹ Khê, đề
phòng một cuộc đánh thốc vào mạn sườn phía đông của căn cứ
Pháp. Như vậy, mới chỉ trong hai ngày đầu của tháng 9-1858,
liên quân Pháp-Tây Ban Nha coi như đã làm chủ vùng Đà Nẵng.

Họ đã tịch thu 450
đại bác bằng đồng và gang, được xem là đẹp và tốt hơn loại đại
bác của Trung Quốc mà họ đã tịch thu và phá hũy ở Quảng Đông.
Ngoài ra, họ còn cầm tù hơn 100 binh sĩ và 3 viên quan võ Việt
Nam.
Phản ứng của Triều
đình Huế
Biến cố ở Đà Nẵng
xảy ra chớp nhoáng, Triều đình Huế thảng thốt, gần như trở tay
không kịp. Được tin quân Pháp gây hấn, vua Tự Đức lập tức sai
Đào Trí cấp tốc vào Đà Nẵng hợp cùng Tổng đốc
Nam-Ngãi là Trần Hoằng gọi ngay 200 lính đang
nghỉ phép (lính hạ ban) về Đà Nẵng cứu ứng. Viện quân đến nơi
thì Đà Nẵng coi như đã bị khống chế. Vua cách chức Tổng đốc
Trần Hoằng, cho Đào Trí tạm thay (quyền nhiếp), rồi lại sai Hữu
quân Đô thống Lê Đình Lý làm Thống chế, sai
Tham tri Bộ Binh Phan Khắc Thận làm Tham
tán Quân vụ (Tham mưu trưởng) đem 2,000 quân tinh nhuệ thuộc Vệ
Cấm binh vào Đà Nẵng tiếp ứng. Thống chế Lý vượt Hải Vân, vào
đặt bản doanh ở làng Nghi An thuộc huyện Hòa Vang. Bấy giờ, Đà Nẵng chia làm hai phòng tuyến rõ rệt
(xem Phụ bản 15) :
· Bên hữu ngạn,
liên quân Pháp-Tây làm chủ bán đảo Tiên Sa và đặt
căn cứ tại đấy. Ngược hữu ngạn, cách Tiên Sa khá xa, quân Việt
còn làm chủ hai đồn Hóa Khuê và Mỹ Thị.
· Bên tả ngạn,
thành Điện Hải không bị chiếm đóng nhưng thiệt hại lớn về quân
lương và vũ khí. Ngoài ra, các đồn Hải Châu,
Phước Ninh, Thạc Gián, Nại Hiênx cũng bị ảnh hưởng. Sau khi quân
Pháp rút lui, quân Việt tái chiếm các cơ sở đó và củng cố trở
lại.
Sau khi tạm thời làm
chủ tình hình ở Đà Nẵng, Genouilly ra tuyên bố Pháp đã
chiếm hữu hải cảng này, đặt vịnh Đà Nẵng và sông Hàn trong tình trạng phong tỏa.
Sự chiếm hữu không có gì chắc chắn, vì quân Việt sẽ phản công,
nhưng mục đích của Genouilly là nói lên và nói trước để tránh
tình trạng tranh chấp có thể xảy ra với một đệ tam quốc gia nào
đó sau này.
Sau khi lập được đầu
cầu ở Tiên Sa, công binh được lệnh xây dựng các cơ
sở cần thiết, như sở chỉ huy, bệnh viện, nhà kho, doanh trại,
xây pháo đài, làm bến tàu, mở đường sá trong căn cứ v.v. dần dần
biến mảnh đất hoang dã dưới chân núi Sơn Trà thành một thành phố
nhỏ dã chiến của Pháp. Để có thể đổ quân dễ dàng tại những nơi
địa thế không cho phép tiến quân bằng đường bộ, mà đường thủy
thì tàu lớn không vào được, Jauréguiberry cho
thực hiện gấp bốn xà lan bằng gỗ mang theo từ Singapore. Ngày
13-9-1858, Genouilly lại nhận thêm viện binh từ Manila do tàu
Durance chở đến, gồm 550 người, cả lính và sĩ quan, do đại
tá Lanzarote chỉ huy.
Ngày
6-10-1858, Jauréguiberry dẫn một đoàn tàu
ngược sông Hàn, tấn công các cứ điểm phòng thủ của Việt
Nam. Quân Pháp đổ bộ, phá lũy đất, nhổ rào đồn Mỹ Thị và công hãm đồn này. Thống chế Lê Đình Lý
được tin, liền đem quân tiếp cứu, đánh nhau với quân Pháp ở làng
Cẩm Lệ. Có thể nói đây là lần đầu tiên một lực lượng chính qui
đông đảo của Việt Nam đối đầu trực diện với súng đạn tối tân và
chiến thuật bộ binh của phương Tây. Họ gặp một hỏa lực mạnh mẽ
của loại súng trường nạp hậu với nhịp bắn nhanh (so với thời đó)
và chính xác, bỏ xa kiểu súng điểu thương cò máy đá, bắn đã
chậm, lại trang bị thiếu thốn. Vì vậy, mặc dầu quân và tướng
Việt Nam dũng cảm có thừa nhưng vẫn không đương đầu được. Thống
chế Lê Đình Lý bị trúng đạn, thương thế rất trầm trọng. Cận vệ
vội vã võng chủ tướng chạy về tỉnh Quảng Nam, quân sĩ thấy thế
mất tinh thần, đoàn quân tan rã nhanh chóng.
Trong
khi Thống chế Lý lâm nguy ở Cẩm Lệ thì viên chỉ huy (chức gọi là
Phòng triệt) đồn Hóa Khuêở gần đó là Hồ Đắc Tú, vì quá khiếp nhược, đã đóng chặt cửa đồn, không
đem quân cứu ứng. Vị Thống chế anh dũng về dưỡng thương được
vài hôm thì mất. Dầu sao, sự hy sinh của ông và một số binh sĩ
dưới quyền cũng không đến nổi vô ích, vì đồn Mỹ Thị đã đứng vững. Quân Pháp không làm gì được, phải rút lui.
Tin dữ
đưa về Kinh, vua Tự Đức vừa lo vừa giận. Lập tức Tham tri Lưu
Lãng được lệnh đem cờ biển
vào
Đà Nẵng cách chức Phòng triệt đồn Hóa Khuê là Hồ
Đắc Tú, xiềng tay chân, tống giam để điều tra.
Mặt khác, Thống chế Tống Phước Minh được
lệnh vào thay Thống chế Lý, làm tư lệnh mặt trận.
Nhưng
rồi tình hình ngày một găng, vua Tự Đức không tin rằng Thống chế
Minh có đủ mưu lược để đương đầu với quân Pháp, bèn cho ông ta
xuống làm Đề đốc, cử Nguyễn Tri Phương
làm Tổng thống Quân vụ Quảng Nam. Tổng đốc Định Tường và Biên
Hòa là Phạm Thế Hiển được gọi gấp về Kinh
để vào Đà Nẵng nhận chức Tham tán Quân vụ, phụ tá cho Nguyễn Tri
Phương. Biến cố tại Đà Nẵng với những tin xấu liên tiếp đưa về
Kinh khiến vua Tự Đức rất đổi lo âu. Vua thường đích thân hiểu
dụ các tướng hữu trách về cách đóng đồn, cách điều quân, cách
tấn công sao cho có hiệu quả, đồng thời cũng đưa ra những quyết
định thưởng phạt nhanh chóng để khích lệ các tướng sĩ hăng say
chiến đấu .
Tháng
11 năm 1858, quân Pháp lại cho tàu ngược sông Hàn, vào sông Nại
Hiên
mở
cuộc tấn công lớn. Đào Trí và Nguyễn Duy cho quân sĩ mai phục ở bờ sông rồi bất thần đổ ra
đánh. Nhờ vậy, đã gây được thiệt hại cho quân Pháp khiến chúng
phải rút lui.
Ngày 21
và 22 tháng 12 năm đó, quân Pháp lại ngược sông Hàn
theo chiến thuật cũ để đánh các đồn Nại Hiên và
Hóa Khuê. Dưới sự chỉ huy của hai Hiệp quản can
trường là Nguyễn Triềuvà Nguyễn An, quân Việt đã chống cự hết sức anh dũng. Chẳng may
cả hai tướng đều bị trúng đạn, chết ngay tại trận, trước khi Đề
đốc Minh kịp đem quân tới cứu ứng. Tuy nhiên, Đề đốc Minh đã
ráng sức đẩy lui được quân Pháp khiến bọn này phải rút lui, bảo
toàn được cả hai đồn. Sự hy sinh anh dũng của Nguyễn Triều và
Nguyễn An đã gây xúc động lớn cho vua Tự Đức. Vua than:
“ Quân đã cô, cứu viện lại không
có; một quan tướng đã khó tìm, huống chi chết đến hai; bọn tổng
thống (Nguyễn Tri Phương)
không đau lòng sao ?”
Thế là
từ quan tư lệnh họ Nguyễn cho đến các tướng dưới quyền đều bị
giáng cấp. Riêng hai Hiệp quản được truy tặng phẩm hàm trọng
thể. Rút kinh nghiệm từ trận Hóa Khuê và Nại
Hiên (vấn đề thông tin liên lạc và cứu ứng chậm)
Nguyễn Tri Phươngcho đặt thêm các vọng
lâu để quan sát động tĩnh của quân Pháp cũng như đặt thêm các
toán tiền thám để báo động kịp thời hầu các đồn có thể tương trợ
được nhau.
Bấy
giờ, phòng tuyến hai bên tại Đà Nẵng có thể chia ra như sau:
Phía
quân Việt, tại tả ngạn có một loạt các đồn Hải Châu, Phước Ninh, Thạc Gián, Nại Hiênxe "Naïi Hieân", Nghi Xuânx
(mới đắp) và thành Điện Hải. Bên hữu ngạn, gần Ngũ Hành Sơn (Núi Non Nước) có hai đồn Hóa Khuê và Mỹ Thị. Tất cả hệ thống này nhằm mục đích
ngăn chận quân Pháp tiến sâu vào nội địa chứ chưa có tác dụng
phản công.
Phía
quân Pháp, họ làm chủ bán đảo Tiên Sa, vịnh Đà Năng
và sông Hàn.
Sau các trận đánh nói
trên, quân Pháp còn tiến đánh các đồn Hóa Khuê,
Nại Hiên, Thạc Gián
mấy lần nữa nhưng các tướng Tống Phước Minh, Nguyễn Duy, Phan Khắc Thận đã chỉ huy quân sĩ đẩy lui được. Cầm cự được như vậy là
một khích lệ lớn lao đối với toàn thể tướng sĩ . Vua Tự Đức
được tin cũng cảm thấy có phần lạc quan về tình hình hơn một đôi
chút. Tuy thế, những người có trách nhiệm tại mặt trận vẫn cứ
không được yên tâm.
Khoảng
tháng 1 năm 1859, sau khi điều nghiên mặt trận, Nguyễn Tri
Phương và Phạm Thế Hiển đã cho lập thêm một đồn mới ở Liên Trì.
Quân Pháp lại tấn công Thạc Gián
và Nại Hiên nhưng bị phục binh Việt Nam đẩy lui.
Đây không phải chiến thắng lớn nhưng ít ra cũng là dấu hiệu
chứng tỏ khí thế và đởm lược của Nam quân không phải là quá yếu
kém. Vua Tự Đức được tin vui, đã ban cho Tổng thống Phương một
thanh ngự kiếm và sâm quế để ủy lạo và khích lệ. Sau vụ đắp đồn
Liên Trì, Nguyễn Tri Phương lại cho đắp một lũy đất chạy từ
thành Điện Hải bao quanh Hải Châu Phước Ninh Thạc Gián. Bên ngoài lũy là hào sâu đào theo
kiểu chữ “Phẩm” (品),
dưới đáy cắm đầy chông tre, trên đậy bằng vĩ tre phủ đất và
trồng cỏ ngụy trang. Sau lũy luôn luôn có quân mai phục, sẵn
sàng nổ súng chống trả.
Hệ
thống phòng thủ có vẻ thủ công này thực ra đã góp phần hữu hiệu
trong việc ngăn chận bước tiến của liên quân Pháp-Tây và gây cho
họ những tổn thất bất ngờ. Sau khi chiến lũy hoàn thành, quân
Pháp lại ba mặt kéo đến tấn công. Họ không biết gì về hệ thống
phòng thủ mới. Thế nên khi xung phong hãm đồn, lớp sa xuống
hào, bị chông tre gây thương tích, lớp bị quân phục kích trong
lũy bắn ra gây tổn thương, đành hậm hực kéo nhau xuống thuyền,
rút về căn cứ. Để khích lệ tướng sĩ, vua Tự Đức ra lệnh xuất
100 quan tiền tưởng thưởng quan quân và ra lệnh cho tỉnh Quảng
Nam đem trâu rượu ra chiến tuyến khao quân.
Những khó khăn của liên quân Pháp-Tây Ban Nha
Nếu Đà
Nẵng là mối bận tâm của Triều đình Huế thì cuộc tiến chiếm vùng
đất này cũng là khó khăn không nhỏ đối với đoàn quân viễn chinh,
vượt ra ngoài tất cả mọi dự liệu lạc quan ban đầu của Paris cũng
như của các thừa sai chủ chiến như Huc, Pellerin.
Thật
vậy, ngay từ cuộc hành quân đầu tiên vào ngày 1-9-1858,
Genouilly đã ghi nhận một tình trạng thời tiết tồi tệ với cái
nóng thiêu đốt của miền nhiệt đới, làm cho quân sĩ dễ khát nước
và chóng mệt mõi. Trong trận đánh mở màn tại bán đảo Tiên Sa, quân Việt đã không làm thiệt hại quân viễn chinh cho
bằng thiên nhiên. Sau một ngày chiến đấu dưới ánh nắng gay gắt,
một số quân đã bị say nắng, trở thành bất khiển dụng vào ngày
hôm sau. Thật ra, năm 1858, tức năm Mậu Ngọ, là một năm thời
tiết bất thường của Quảng Nam. Mùa hè đã kéo dài hơn thường lệ
đến biến thành đại hạn; tiếp đến là một mùa mưa triền miên với
những ngày tầm tã như “thác đổ lưng trời”. Nóng và ẩm đã làm
cho các mầm bệnh truyền nhiễm như thổ tả, kiết lỵ, thương hàn dễ
dàng phát triển trong hàng ngũ viễn chinh không quen khí hậu
nhiệt đới. Các bệnh này đã gây thiệt hại cho Pháp-Tây gấp mấy
lần gươm súng của quân Việt.
Mặt
khác, những điều hứa hẹn do cố vấn chính trị và quân sự
Pellerin đưa ra đã được thực tế chứng minh ngược
lại: dân chúng, nhất là giáo dân, đã không hưởng ứng cuộc xâm
lăng của Pháp như ông ta đã ước tính; không có đám dân chúng nào
nhân cơ hội ngoại xâm để nổi loạn chống triều đình; không có dân
bất mãn cung cấp tin tức cho quân viễn chinh.
Pellerin, cố vấn chính trị và quân sự của Genouilly.
Pellerin chủ trương rằng
sau khi đánh chiếm Đà Nẵng, quân Pháp sẽ tấn công thẳng vào Huế
là có thể hóa giải ngay mọi kháng cự, mọi bế tắc. Lý thuyết này
nghe có vẻ hữu lý, vì Huế là đầu não của cả nước, nhưng tin tức
về Huế quá mù mờ, dù bộ phận tình báo của Genouilly đã khai thác
tin tức nơi cả trăm tù binh bị bắt ở Đà Nẵng. Viên tư lệnh Pháp
lâm vào tình trạng lưỡng nan: muốn tiến quân ra Huế cũng khó
lòng, vì đường sá xa xôi, thời tiết khắc nghiệt, dễ gì vượt qua
cả một hệ thống đồn lũy liên tiếp từ Đà Nẵng đến Hải Vân. Còn tiến bằng đường thủy thì thuận lợi hơn nhưng lực
lượng không thể tiếp cận kinh thành được vì tàu chiến của Pháp
thuộc loại đáy sâu, không vào được lòng sông cạn dẫn đến kinh
đô; vả chăng, cũng không có người hướng đạo. Giám mục Pellerin
hứa với Genouilly sẽ có một hướng đạo lành nghề, vốn là con
chiên của giám mục Retord ở Bắc kỳ, giúp việc dẫn đường cho quân
viễn chinh. Genouilly phái tàu Primaguet ra Bắc, tiếp
xúc với giám mục Retord để tiếp nhận người hướng đạo, nhưng
không có kết quả vì ông này đã mất trên bước đường lẫn trốn lệnh
cấm đạo. Tình trạng tiến thóai lưỡng nan này cộng thêm với
những khó khăn khác của liên quân khi phải đương đầu với khí hậu
khắc nghiệt, tình trạng dịch bệnh và sự đề kháng dũng cảm của
quân Việt đã làm cho viên tư lệnh Pháp xuống tinh thần và ngày
càng đổ quạu với ông cố vấn vì ông này cứ muốn xen vào việc
chuyên môn của người khác. Cho đến một ngày kia, khi thấy không
thể hợp tác với nhau được nữa, Pellerin đành giả từ Genouilly,
về lại Hongkong vào tháng 12 năm 1858.
Trong
phúc trình đề ngày 4-1-1859 viết tại bản doanh Đà Nẵng, gởi cho
Thượng thư Bộ Hải quân ở Paris, tướng Genouilly đã nói lên tất
cả nỗi thất vọng ê chề của ông ta trong cuộc xâm lăng này:
“. . . Quả thật tôi cần và hết
sức đau đớn xác nhận với Ngài về tình trạng đáng phàn nàn về sức
khỏe tổng quát. Thiếu tá Lévêque, đại úy hải quân Virot và phó
kỹ sư Delautel đi Macao để dưỡng bệnh và chắc chắn phải đưa về
Pháp. Tôi không biết phải đối phó thế nào với các lỗ hổng đó.
Mỗi ngày lại có nhiều người chết và thời tiết xấu, mà các nhà
truyền giáo bảo phải chấm dứt ngày 1 tháng 12, vẫn tiếp tục
không thể tưởng tượng nổi. Chỉ nội với sự kiện đó, Ngài cũng có
thể phê phán về giá trị các tin tức của họ và lòng tin tưởng của
tôi có thể có đối với họ. . . Dù thế nào đi nữa, thưa Ngài
Thượng thư, chúng ta cũng đang đi xuống dốc đến chỗ kiệt quệ,
cho đến lúc phải bất động tại Đà Nẵng. Mọi phương tiện để cải
thiện tình trạng bộ binh và hải quân đều hết sạch và vô hiệu.
Các y sĩ trứớc tình trạng bệnh tật đã kết luận là người Âu đừng
làm việc gì trong khí hậu này, nhưng làm sao được, khi ở đây
phải làm những gì cần thiết cho việc phòng vệ, xây cất bệnh
viện, lều trại v.v. Đó là một cái vòng lẩn quẩn làm chúng ta
điên đầu.”
Qua đến
trung tuần tháng 1-1859 thì tình trạng bệnh tật gia tăng khủng
khiếp. Bệnh binh, chứ không phải thương binh, tràn ngập bệnh
viện, do sự hoành hành của dịch kiết lỵ. Trong số 880 bộ binh,
chỉ còn lại chừng 500 là cầm súng được. Do đó, quân Pháp chỉ
còn lo phòng thủ chứ không thể nào mở được những cuộc tấn công
như họ muốn. Genouilly lại gởi tiếp hai báo cáo nữa (15-1 và
29-1-1859), giọng điệu không có chút nhuệ khí nào:
“Bệnh kiết lỵ lan tràn, làm suy yếu tất cả những ai nó không
giết được.
“Chính phủ đã bị lừa dối về bản chất cuộc viễn chinh ở Việt Nam.
. . Người ta đã báo cáo cho chính phủ những tài nguyên không có,
những khuynh hướng của dân chúng hoàn toàn trái ngược với thực
tế, người ta báo cáo rằng uy quyền của giới quan lại đã suy yếu
thì quyền uy ấy vẫn còn mạnh mẽ lắm, rằng quân đội vắng bóng thì
quân chính qui lại rất đông đảo và dân quân gồm những trai tráng
mạnh khỏe trong dân chúng. Người ta đã tán dương khí hậu tốt
lành. . . Chỉ cần nhìn khuôn mặt xanh xao hốc hác của các thừa
sai đến từ các nơi khác nhau trong xứ cũng đủ biết chắc rằng Đà
Nẵng không tốt hơn Hongkong và Hongkong đáng được kể là một nơi
độc địa. Đọc lại bản phúc trình của Uỷ ban Hỗn hợp họp ở Bộ
Ngoại Giao, người ta tin rằng vấn đề đã được xoay quanh những
thảo luận sai lầm, rằng người ta đã cho vào bóng tối những khó
khăn của thực tế.”
Những
báo cáo của Genouilly gởi về Paris phản ảnh sự thật bi đát một
cách đầy hậu ý. Ông muốn cung cấp những thông tin trung thực để
gián tiếp thuyết phục thượng cấp chấp thuận kế hoạch mới của
ông. Số là sau khi cân nhắc, viên tư lệnh Pháp thấy rằng chưa
phải lúc để tấn công Huế, vậy nên phải chuyển hướng mục tiêu để
giải quyết tình trạng bế tắc ở Đà Nẵng. Trong phúc trình ngày
3-2-1858 gởi Thượng thư Bộ Hải Quân, Genouilly cho biết ông đã
có quyết định dứt khóat: trong khi chờ đợi một thời tiết
thuận lợi hơn vào tháng 3 hay đầu tháng 4, đồng thời có thì giờ
tập trung đầy đủ lực lượng, tiếp liệu và phương tiện để mở cuộc
tấn công Huế, thì đoàn quân viễn chinh sẽ đánh Sàigòn,
vì “một cuộc tấn công vào Sàigòn sẽ có một hiệu quả hữu ích
trước tiên đối với chính quyền An-Nam.”
Ngoài ra, theo
quan điểm của Genouilly, cuộc tiến chiếm mục tiêu mới này bảo
đảm một thành công chắc chắn về mặt quân sự do những thuận lợi
về thiên thời (cuộc tiến quân thuận mùa gió) và địa
lợi (sông sâu và rộng, nằm sát thành, tiện cho hạm đội tiếp
cận và hoạt động), đó là chưa kể Sàigòn có một hậu thuẩn kinh tế
vững vàng, một tương lai trù phú. Chiếm Sàigòn, sẽ tạo được ảnh
hưởng ở Cao-Miên (Cambodia) và Xiêm (Thailand).
Do đó,
ngày 2-2-1859, Rigault de Genouilly rời
Đà Nẵng, tiến về Nam, mang theo một lực lượng 2176 lính và sĩ
quan, gồm cả Pháp và Tây Ban Nha, cùng 9 tàu chiến của Pháp, một
tàu chiến của Tây Ban Nha và 4 thương thuyền chở quân dụng. Hải
quân đại tá Faucon
được lệnh ở lại cùng mấy trăm quân cố thủ căn cứ, chờ ngày trở
lại trong thuận lợi của quân chủ lực.
Lợi
dụng thời gian đại bộ phận quân Pháp vắng mặt, Nguyễn Tri
Phương và Phạm Thế Hiển ra sức củng cố lại phòng tuyến, nhất là thành Điện Hải,
căn cứ chủ lực đã bị hư hại khá nhiều, đồng thời cũng mở ra
những cuộc đột kích, chỉ có hiệu quả quấy rối hơn là gây thiệt
hại lớn.
Về phía
Fauconx, tuy quân số ít ỏi nhưng ông ta đâu phải ngồi
yên chịu trận. Chỉ 4 ngày sau khi Genouilly kéo quân vào Sàigòn
(6-2-59), Faucon đem quân đánh đồn Hải châu
nhưng bị Thị vệ Hồ Oai cùng các tướng Tôn Thất Thi, Nguyễn Nghĩa chỉ huy quân sĩ
đẩy lui, sau khi bắn chìm được ba giang thuyền của Pháp. Hôm
sau (7-2), Faucon lại kéo quân phục hận. Đồn Hải Châu lần này bị tấn công ba mặt cùng một lúc với mức độ dữ dội
hơn hôm qua. Hai Hiệp quản Nguyễn Tình Lương và Lê Văn Đa bị trúng đạn, chết tại trận,
quân sĩ mất tinh thần, hàng ngũ rối loạn, Đề đốc Tống Phước
Minh liệu thế giữ không nổi, rút quân về
giữ đồn Phước Ninh. Nhờ Nguyễn Duy đem quân tăng viện kịp thời nên đã đẩy lui được quân Pháp
và thu hồi lại đồn Hải Châu. Trong trận này, non 1,000 chiến sĩ
hy sinh mới giữ vững được phòng tuyến. Xem đó, có thể thấy được
lực lượng của Faucon tuy quân số ít nhưng nhờ hỏa lực mạnh nên
đã dễ dàng áp đảo và gây thương vong lớn cho phía Việt Nam.
Đến
tháng 3-1859, Faucon lại mở cuộc tấn công khác vào
Hải Châu và Thạc Gián. Đào Tríxe "Ñaøo Trí" và Tôn Thất Hàn ra sức đốc chiến nên Hải Châu không hề hấn gì.
Còn đồn Thạc Gián cũng nhờ sự chỉ huy can trường của Phó Vệ úy
Phan Gia Vịnh nên vẫn đứng vững. Thấy không
làm gì được quân Việt, Faucon đành rút lui giữ thế thủ, chờ ngày
trở lại của Genouilly.
Sau khi
chiếm được thành Gia Định và đã sắp đặt mọi việc xong xuôi,
thuận theo mùa gió đông-nam, Genouily đem quân trở lại Đà Nẵng
và đến nơi vào ngày 15-4-1859.
Năm
ngày sau, viên tư lệnh Pháp tung quân qua tả ngạn, đánh lấy
thành Điện Hải, đặt hẳn ở đây một căn cứ hỏa lực gồm năm khẩu
đại bác cùng quân lính đồn trú bảo vệ. Nhưng đó mới chỉ là trận
thăm dò sau mấy tháng vắng mặt, nhằm chuẩn bị cho một trận
đánh khác, lớn hơn. Ngày 8-5-1859, một cuộc tấn công qui mô
được tung vào phòng tuyến của Nguyễn Tri Phương, một phòng tuyến dài hơn 3km, chạy từ Điện Hải đến Nại
Hiên. Liên quân Pháp-Tây chia làm ba cánh:
-Cánh phải do đại tá
Reybaud chỉ huy, gồm 750 quân, trong đó, toán quân
Tây Ban Nha do thiếu tá Canovas điều khiển. Nhiệm vụ của cánh
này là đương đầu với lực lượng Việt Nam chận tàu Pháp ngược sông
Hàn;
-Cánh trái do đại tá
Fauconchỉ huy, có 425 quân, gồm cả lính Pháp và Tây
Ban Nha, giữ nhiệm vụ đánh vào các đồn lũy phía tây nam;
-Trung quân là lực lượng
trừ bị, có nhiệm vụ tiếp ứng cho cả hai cánh phải và trái khi
cần, do đại tá Tây Ban Nha Lanzarotechỉ huy .
Genouilly đi theo cánh quân này.
Từ sáng
sớm, súng đại bác trên các tàu chiến đậu trong vịnh hiệp cùng số
đại bác của căn cứ hỏa lực Điện Hải đã pháo dữ dội xuống phòng
tuyến Việt Nam. Súng lớn của quân Việt cũng cố gắng bắn trả
nhưng hiệu quả sát hại không được mấy. Tiền pháo hậu xung, súng
lớn mở đường cho 9 tàu chiến và 20 giang thuyền ngược sông Hàn đưa cả ba cánh quân đổ bộ, tấn công thẳng vào phòng tuyến
quân Việt.
Dưới
cái nắng gay gắt của mùa hè, dù đang còn buổi sáng, quân đổ bộ
chia làm hai cánh tấn công theo thế gọng kìm. Cánh quân của
Reybaud đánh từ hướng biển vào, nhắm vào các đồn Du
Xuyên, Hải Châu, rồi tiến về Thạc
Gián, Phước Ninh.
Còn cánh của Faucon thì đánh Thạc Gián, Phước Ninh
rồi tiến chếch về phía biển để bắt tay với quân của Reybaud.
Trung quân của Lanzarote gồm những tay súng thiện
xạ, lúc thì tiến qua trái giúp Faucon, lúc qua phải giúp
Reybaud.
Liên
quân vừa tiến vừa bắn xối xả, vượt qua các hào cắm chông tre, áp
sát các lũy đất. Quân Việt cũng dựa vào lũy đất bắn trả nhưng
hỏa lực kém quá nên đương cự rất khó khăn. Hiệp quản Phan Hữu
Điểm trúng đạn chết ngay tại trận. Nguyễn
Tri Phương liệu thế không thể nào chống
giữ được, liền ra lệnh bỏ phòng tuyến thứ nhất, rút về cố thủ
phòng tuyến thứ hai, gồm các đồn Liên Trì, Nghi
Xuân và Nại Hiên, được che chở
bằng một hệ thống hào lũy khá vững vàng. Toàn thể được lệnh tử
chiến, không cho quân Pháp tiến sâu vào nội địa cũng như tiến ra
Huế.
Đến hơn
10 giờ sáng thì trận đánh kết thúc. Theo các tài liệu của Pháp
thì liên quân bị 3 chết, 6 thương tích; còn phía

Việt
Nam có đến 700 quân chết tại trận trong tổng số 10,000 quân tham
dự trận đánh. Tổng kết, trong ngày hôm đó, liên quân Pháp Tây
đã chiếm được 20 cứ điểm phòng ngự của Việt Nam, gồm các đồn Du
Xuyên, Hải Châu, Phước Ninh, Thạc Gián, các pháo
đài và công sự phụ thuộc khác, chưa kể 54 súng lớn bị tịch thu.
Tin đại
bại đưa về Kinh, vua Tự Đức không có kế sách nào khác là ra lệnh
cho Nguyễn Tri Phương khích lệ tướng sĩ,
liệu thế ăn được thì đánh một trận báo thù, còn như không thắng
được thì cố giữ vững, đừng để lòng quân rối loạn.
Về phía
quân viễn chinh, chiến thắng ngày 8-5-1859 quả có đem lại lợi
ích quân sự cho họ, đó là sự chủ động chiến trường, nới rộng
vòng đai an ninh qua phía tả ngạn, nhưng tiếp theo đó thời tiết
mùa hè nóng bức ở Đà Nẵng đã giáng xuống trên đầu liên quân một
đại họa còn hơn cả súng đạn. Trong hai tháng 6 và 7 năm 1859,
một trận dịch tả đã bộc phát dữ dội trong căn cứ làm số quân
Pháp và Tây Ban Nha chết và bệnh tăng lên vùn vụt. Hai đại úy,
Loubière và Gascon Cadubon đã bị hại dưới bàn tay thần ôn dịch.
Trong vòng một tháng (15-6 đến 18-7), tiểu đoàn 3 bị chết 136
người. Từ khi đặt chân lên Đà Nẵng, chưa có trận đánh nào gây
tổn thất cho quân viễn chinh lớn lao đến như thế.
Trước
tình trạng bi đát như vậy, dựa theo tinh thần mềm dẽo của huấn
lệnh ngày 25-11-1857 và 20-6-1859, Rigault de Genouilly đã đề nghị với Triều đình Huế cử người
nghị hòa. Yêu sách của Genouilly đưa ra rất “giản dị”, chỉ gồm
có ba khoản: tự do truyền giáo, tự do thương mãi và được chiếm
hữu một lãnh thổ để bảo đảm sự thi hành hòa ước. Tuy nhiên,
việc nghị hòa với ba yêu sách này đã gây bối rối cho vua tôi nhà
Nguyễn chẳng kém gì tàu đồng súng trận.
Bấy giờ
vua Tự Đức -- vốn không phải là người quyết đoán -- không biết
tính sao, nên đem vấn đề ra cho triều đình thảo luận (đình
nghị). Thế là triều đình trải qua một phen trống đánh xuôi kèn
thổi ngược. Đại khái, các quan chia làm ba nhóm với lập trường
thật là đối chọi:
-Nhóm
Trương Đăng Quế, Phan Thanh Giản, Lưu Lượng
cho
rằng giảng hòa thì hay hơn, nhưng nên cố thủ cho vững rồi hãy
nói chuyện hòa.
-Nhóm
Trần Văn Trung, Trương Quốc Dụng, Tống Phước Minh, Lâm Duy Hiệp, Phan Huy Vịnh v.v. cho rằng quân
Thanh đương đầu mà còn không hơn được, vậy thì ta cũng khó
thắng, thế nên nay hãy thủ cho vững , “ lấy cách chủ đãi khách
mà đối phó để làm kế trì cửu rồi sau sẽ tùy cơ xử trí.”
-Nhóm
Tô Linh, Phạm Hữu Nghị, Trần Văn Vi, Nguyễn Đăng Điều, Lê Hiếu
Hữu v.v. chủ trương đánh tới cùng, “chứ nếu hòa thì bỏ cấm đạo,
cho thông thương, họ được dựng nhà thờ, lập phố chợ, trăm điều
giảo hiểm sẽ từ chữ hòa mà sinh ra.”
Còn các
quan khác thì cũng bàn ra góp vào, nào chiến nào hòa, nhưng chả
ông nào đưa ra được một kế sách gì có thể giúp giải quyết vấn đề
một cách có lợi mà an toàn cho Việt Nam. Trước mớ luận bàn tơ
vò đó, vua Tự Đức đã phải than rằng “ Các ngươi biết rằng chiến
thủ là khó, không biết rằng hòa lại càng khó hơn”.
Đang
khi vua như đứng trước ngã ba đường, chưa biết chọn ngã nào, thì
Bùi Quị đi công tác ở Bắc về, thấy tình trạng đó bèn dâng sớ
tâu rằng “Đình thần kẻ nói hòa người nói thủ, kẻ bàn chống người
bàn chèo, ai giữ ý nấy, như vậy, gặp việc gấp rút sao giúp nhau
được. Xin Hoàng thượng độc đoán, tự định qui mô để ai nấy phải
theo.” 20 Vua Tự Đức cho là phải, bèn giao cho Nguyễn
Tri Phươngcầm đầu cuộc thương nghị ở Đà
Nẵng.
Cuộc
nghị hòa kéo dài trong hai tháng 7 và 8 năm 1859 mà không đi đến
một kết quả nào, vì ba yêu sách đơn giản của Genouilly lại là ba
điều tối kỵ đối với Triều đình Huế. Trong khi đó, tàu chiến của
Pháp đi lại ngoài biển, hễ thấy thuyền Việt Nam thì bắn chìm,
hay đốt cháy, bất kể là thuyền nhà nước hay tư nhân. Vua Tự
Đức ra lệnh cho Tổng thống Phương phản đối kịch liệt. Phía Pháp
có hứa sẽ chấm dứt việc làm đó, nhưng hòa hội không tiến triển
chút nào.
Tháng 8
năm 1859, Nguyễn Tư Giản dâng mật sớ, tâu không nên hòa. Vấn
đề vốn đã được vua “tự định qui mô” rồi, nay bỗng dưng có người
nêu lên, vua không biết nghĩ thế nào, lại đem ra thảo luận với
các Cơ Mật Viện đại thần là Trương Đăng Quế và Phan Thanh Giản.
Hai ông này trình bày rằng việc nhường đất không thể chấp nhận
được, việc thông thương thì đã có lệ từ đầu đời Nhà Nguyễn
(nghĩa là được đến buôn bán nhưng không cho lập cơ sở) riêng có
việc cấm đạo thì nay xin bỏ để chấm dứt can qua. Vua Tự Đức
hình như hỏi để mà hỏi, chứ chẳng có một quyết định dứt khóat
nào, chẳng có một chỉ đạo rõ ràng nào, khiến trưởng đoàn thương
thuyết là Nguyễn Tri Phương thấy lúng
túng trên bàn hội nghị còn hơn trên mặt trận nóng bỏng.
Về phía
Pháp, Genouilly thấy hòa hội kéo dài mà không một chút kết quả,
cho rằng Việt Nam không có thiện chí, muốn lợi dụng hòa đàm để
củng cố lực lượng. Mặt khác, mùa hè cũng sắp qua, kinh nghiệm
của một năm viễn chinh cho phép viên tư lệnh Pháp tiên liệu
những khó khăn sẽ gặp khi mùa mưa đến vào lúc hòa hội tan vỡ.
Bấy giờ có muốn động quân cũng không có lợi.
Vì các
lẽ đó, để nắm thế chủ động chiến trường, ngày 7-9-1859 Genouilly
chấm dứt thương nghị và tám ngày sau, phóng ra một cuộc tấn công
lớn vào phòng tuyến thứ hai của Việt Nam.
Người
vạch ra kế hoạch cho trận đánh này không phải là Genouilly, mà
là thiếu tá Dupré-Déroulède, một sĩ quan
công binh nhưng lại giàu khả năng tham mưu và tác chiến. Lực
lượng xâm lăng bấy giờ được tăng viện thêm 1734 binh sĩ do hai
tàu Dijon và Duchayla chở đến vào tháng 6 năm
1859. Theo đó, liên quân Pháp-Tây chia làm 3 cánh:
-Cánh
trái do đại tá Reynaud chỉ huy, gồm các đại đội đổ
bộ của Tây Ban Nha và Pháp trên tàu Jorgo Juan, một phân
đội công binh và một phân đội pháo binh. Mục tiêu là đồn Nại
Hiênán ngữ giữa sông Hàn và các công sự
phụ thuộc;
-Cánh
phải do đại tá Reybaud chỉ huy, gồm 7 đại đội bộ
binh, một phân đội pháo binh và một phân đội công binh. Mục
tiêu là đồn Liên Trì và hệ thống phòng thủ phụ
thuộc;
-Trung
quân gồm hai bộ phận. Một bộ phận toàn lính Tây Ban Nha do đại
tá Lanzarote chỉ huy; một bộ phận trừ bị gồm ba
đại đội bộ binh do Breschin chỉ huy. Mục tiêu của mũi dùi này
là hệ thống phòng thủ gồm những pháo đài nối liền hai đồn Liên
Trìvà Nại Hiên.
Ngoài
ra, còn có những bố trí khác, như sẽ thấy sau.
Về phía
Việt Nam, phòng tuyến thứ hai là một hệ thống đồn lũy và công sự
kéo dài trên 1500 mét, trong đó có hai căn cứ chủ yếu là Liên
Trì và Nại Hiên. Toàn bộ hệ thống
này được Pháp xem là rất kiên cố, bỏ xa phòng tuyến thứ nhất mà
họ đã đánh chiếm ngày 8-5-1859.
Bốn giờ
sáng ngày 15-9, quân Pháp-Tây rời trại xuống tàu. Khi bình minh
ló dạng, quân viễn chinh đã sẵn sàng ba mũi, chia nhau tấn công
các mục tiêu như kế hoạch đã định. Bọn họ vừa tiến vừa hô khẩu
hiệu “Hoàng đế vạn tuế” vừa nổ súng dòn dã dưới sự yểm trợ bằng
đại bác từ các tàu chiến và căn cứ Điện Hải.
Cánh
phải của đai tá Reybaud đụng độ mạnh với lực lượng
phòng thủ ở Liên Trì và Phước Trì. Quân Việt
chừng 2,000 đến 3,000 người đã hăng hái xông ra khỏi lũy, giáp
chiến với quân xâm lăng. Súng hai bên nổ ác liệt tới nổi
Genouilly lo lắng cho số phận cánh quân của Reybaud. Breschin
được lệnh tức tốc dẫn ngay hai đại đội Tây Ban Nha tới tiếp
ứng. Nhờ vậy, quân viễn chinh dần dần thắng thế, đẩy lui quân
Việt vào phòng tuyến, rồi hãm đồn. Cuối cùng, Phạm Thế Hiển và Nguyễn Hiên chống không nổi, phải bỏ cả
hai đồn Liên Trì, Phước Trì, kéo tàn quân chạy về hướng Hải Vân, cố giữ con đường ra Huế, ngăn chận cuộc tiến quân của
Pháp về kinh đô.
Cánh trái của đại tá Reynaud do đường sông kéo đến tấn công đồn Nại Hiên dưới sự yểm trợ trọng pháo của một đoàn tàu chiến do
thiếu tá Liscoat chỉ huy. Vai trò của đoàn tàu này rất quan
trọng: vừa pháo yểm trợ cho cuộc tiến quân của Reynaud, vừa bắn
đàn áp hai đồn Hóa Khuê và Mỹ Thị (ở
hữu ngạn, đối diện Nại Hiên), không cho đổ quân qua cứu ứng.
Dưới sức tấn công mãnh liệt như vậy , chẳng bao lâu Nại Hiên
cũng chịu chung số phận với Liên Trì. Suất đội Hồ
Văn Đa và các Đội trưởng Lê Văn Nghĩa, Đoàn Văn Thức quá khiếp
sợ trước hỏa lực hùng hậu của quân viễn chinh, đã bỏ hàng ngũ,
tìm đường trốn chạy, làm quân sĩ mất tinh thần, khiến phòng
tuyến vỡ nhanh hơn. Nguyễn Tri Phương
rút quân về hướng Hải Vân để cùng Phạm Thế Hiển bảo vệ con đường về Huế. Cuộc rút quân của
hai lão tướng này hoàn toàn nằm trong kế hoạch dự liệu của viên
thiếu tá công binh giàu óc tham mưu. Trong lúc điều quân,
Dupré-Déroulède đã phái tàu Laplacexe
"Laplace"
đến phục sẵn ở cửa biển Thanh Khê, chờ khi đám
tàn quân của hai lão tướng kéo qua liền pháo một trận chận
đường, gây thiệt hại thê thảm.
Kết quả
trận đánh ngày 15-9, về phía Pháp chỉ có 10 chết và 40 bị thương
nặng nhẹ; nhưng qua hôm sau thì số quân vào bệnh viện tăng lên
rất cao do hậu quả của cuộc hành quân dưới nắng hè gay gắt của
ngày hôm trước. Về phía Việt Nam, chỉ còn làm chủ được hai đồn
Hóa Khuê và Mỹ Thị, còn toàn bộ hệ
thống phòng thủ ở tả ngạn do Tham tán Phạm Thế Hiển và Tổng thống Quân vụ Nguyễn Tri Phương dày công xây dựng, xếp đặt, đã bị chiếm, bị đốt
cháy, bị phá hũy và vô hiệu hóa hoàn toàn.
Nguyễn
Tri Phương dâng sớ về Kinh xin chịu tội
về trận thảm bại này. Vua Tự Đức, một mặt hạ chiếu cho các quan
từ Tri huyện trở lên, hễ ai có kế sách gì hay để cứu nước thì
được phép dâng lên, hoặc thấy ai, bất luận quan hay dân, có tài
trí đẩy lui được quân Pháp thì cứ mạnh dạn tiến cử; mặt khác,
vua hạ lệnh cách lưu Nguyễn Tri Phương và Phạm Thế Hiển,
lại sai Phan Thanh Giản đem cờ biển vào Đà Nẵng, họp tướng sĩ
lại, chém đầu Hồ Văn Đa, Lê Văn Nghĩa và Đoàn Văn Thức về tội
đào ngũ khi đối diện với địch quân, để nêu cao quân luật.
Sau gần
một năm nhọc nhằn gian khổ đương đầu với quân xâm lăng, tháng 10
năm 1859 Nguyễn Tri Phương dâng sớ trình
bày tất cả thực trạng về tương quan lực lượng giữa ta và Pháp và
đề nghị chiến thuật nên theo như sau:
"Người Tây, thủy quân, lục quân
nương đở nhau, khó mà hơn họ được. Ta thì thủy chiến đã không
tiện, còn về lục chiến thì súng ống họ đã tinh, lại đánh giỏi,
quân ta khiếp sợ nên sinh ra bần rùn, nên cũng không thể địch
nổi. Nay trong quân thứ, còn 3,200 lính, mà một dãy từ An Sơn
đến các đồn Nại Hiên , chỗ chỗ đều quan yếu, nếu đem phòng giữ cho khắp
thì không còn lính ra trận nữa. Tình thế như vậy, nói giữ chưa
được, nói đánh sao nên? Vậy xin đem binh lực hiện có, phục ở
các đồn lũy, dự bị cho nghiêm mà đợi, để làm kế trì cửu, rồi lo
trù liệu lương hướng, gặp cơ hội sẽ động, ấy là cớ hoàn toàn
vậy.”
Vua Tự
Đức đã phê vào tờ sớ:
"Sợ địch, thêm lo, không thi thố
gì thì làm sao thành công được? Đáng lẽ giao đình nghị để chánh
tội danh, nhưng đã cách lưu nên gượng bỏ qua; vậy phải nghĩ
trong ba kế chiến, thủ hay hòa, kế nào lui được quân địch thì cứ
dùng; đừng mà nói rằng triều đình thiếu người nên phải ngồi đợi
chết.” 23
Phía
bại trận, vua tôi lúng túng đã đành, phía thắng trận cũng không
có gì phấn khởi hơn vì không đem lại một kết quả tích cực nào về
chính trị. Genouilly cảm thấy ngày càng mệt mõi, niềm hăng say
chinh phục trong buổi đầu ngày càng tàn lụi theo gánh nặng cuộc
chiến. Ngay từ tháng 6 năm 1859 viên tư lệnh Pháp đã đệ đơn xin
từ chức. Paris chấp thuận trong thông cảm và cử thiếu tướng
Pagesang thay.
Thiếu
tướng Pagexuất thân từ trường Polytechnique năm
1827, cùng khóa với Genouilly, được phong làm Tư lệnh Quân đoàn
viễn chinh Trung Quốc ngày 12-8-1859. Ngày 19-10-1859 Page đến
Đà nẵng và 12 ngày sau đó, lễ bàn giao chính thức chức vụ Tư
lệnh được cử hành. Sau một năm đánh chiếm Đà Nẵng mà không bình
định được, không giải quyết được các vấn đề quan thiết về chính
trị, thương mãi và tôn giáo, lại hao người tốn của, Paris thấy
rằng mục tiêu này không dễ chinh phục như đã tưởng lúc ban đầu.
Vì vậy, khi qua nhận chức ở Việt Nam, Pageđã nhận được
chỉ thị về một cuộc triệt thóai toàn bộ tại Đà Nẵng, chỉ còn giữ
lại Sàigòn.
Thế nhưng sau khi nhận chức, Page đã không làm ngay
theo chỉ thị đó. Một phần, có lẽ trước mắt binh sĩ và thuộc hạ
Page không muốn mang tiếng là một viên tướng chưa đánh đã rút;
phần khác, là sự tiếc rẻ công trình xây dựng của quân Pháp ở bán
đảo Tiên Sa. Thật vậy, trong vòng có hơn một năm
mà Genouilly đã thực hiện ở nơi này thành một thành phố nhỏ của
Pháp ở Viễn Đông : nào đồn, pháo đài, nhà kho, bệnh viện, nào
nhà thờ, hệ thống dẫn nước, bến tàu, chỗ nuôi gia súc và hạ
thịt, xưởng đóng xà- lan, chỗ chứa nước v.v. và cả một hệ thống
đường sá lớn nhỏ, ngang dọc
,
tạo thành một cảnh quang khác lạ với bối cảnh hoang dã ở chung
quanh. Đẹp đẽ như thế, qui mô như thế, chưa thất trận, lẽ nào
một sớm một chiều đem phá hũy hết rồi rút đi hay sao?
Tuy nhiên lệnh vẫn là
lệnh, nghĩa là phải chấp hành, nhưng Page muốn rằng
trước khi triệt thóai, cần phải có một hành động ngoạn mục để
thị oai với Triều đình Huế, làm cho tỏ rõ uy lực của nước Pháp.
Thế là sau 17 ngày cầm quyền, Page phóng ra một trận đánh để giả
từ.
Trận đánh đồn Chơn Sản và pháo đài Định Hải
(18-11-1859)
Phòng
tuyến hai bên ở Đà Nẵng lúc đó được ghi nhận như sau:
Sau khi
thắng lớn vào ngày 15-9, liên quân Pháp-Tây chỉ phá hũy các đồn
lũy và công sự phòng thủ rồi rút về giữ căn cứ hỏa lực Điện Hải
và vùng bán đảo Tiên Sa. Vì vậy, Nguyễn Tri
Phương đã cho quân chiếm lại phòng tuyến
thứ hai rồi củng cố thành một phòng tuyến mới, chạy từ Nại
Hiên đến Hải Vân.
Có lẽ
muốn làm một cái gì mới hơn, khác hơn Genouilly nên Page không đã động gì đến hệ thống phòng thủ này của quân Việt
mà lại lấy các đồn và pháo đài ở đèo Hải Vân làm
mục tiêu.
Từ 4
giờ sáng ngày 18-11-1859, Pageđiều động các tàu
Némésis, Phlégeton và một tàu của Tây Ban Nha cùng
một tàu vận tải khác chở quân đến phía tây bắc vịnh Đà Nẵng,
dừng lại ở vị trí trên biển, đối diện với pháo đài Định Hải và đồn Chơn Sảng.
Khi mọi
sự đã chuẩn bị đâu vào đấy, Pagecho kéo cờ tư lệnh
trên soái thuyền Némésis và ra lệnh khai hỏa. Thế là hai
bên Việt Pháp mở màn một cuộc đọ súng lớn vang động cả núi rừng
và sóng nước. Đặc biệt là quân Pháp bắn đã ghê nhưng quân Việt
bắn lại cũng không kém, và xem ra hiệu quả của trận phản pháo
này vượt xa các trận đánh trước. Soái thuyền Némésis
khinh địch, phơi mình gần các căn cứ phòng ngự, trên cột buồm
lại phất phới lá cờ tư lệnh, nên quân Việt ở các pháo đài có
thừa khôn ngoan để tập trung hỏa lực vào đó. Kết quả thật là
khích lệ: nhiều đạn đại bác đã rơi trúng tàu Némésis |