|
Tôi lên đến đỉnh Hamilton vào một ngày mùa Xuân, nắng rất đẹp và
trời cũng rất lạnh, sau 45 phút lái xe trên con đường đèo quanh
co như rắn bò, khởi đi từ phía cực đông của đường Quimby, thành
phố San Jose. Màu xanh cỏ non phủ khắp nơi và hoa dại cùng lá
rừng xôn xao trong nắng như đón chào những người khách lạ.
Những cây phong cổ thụ, loại lá nhỏ, sau những ngày đông trơ
trụi, nay cành phủ đầy lộc non, trông như mấy cụ già làm đỏm.
Thật là thống khoái khi được đứng trên đỉnh Hamilton phóng tầm
mắt nhìn bao quát thành phố San Jose xa xa dưới chân và cả Thung
lũng điện tử dàn trải mịt mờ về hướng tây bắc.

Ảnh:
tác giả
Núi
Hamilton là đỉnh cao nhất (1283m) của rặng Diablo ở phía đông
San Jose, nơi đặt đài thiên văn Lick (Lick Observatory) -- đài
thiên văn của hệ thống đại học California, nổi tiếng khắp thế
giới. Triệu phú James Lick, trước khi chết đã để di chúc hiến
tài sản cho việc thiết lập một đài thiên văn tầm cở quốc tế.
Những người thi hành di chúc cứ băn khoăn mãi về địa điểm lập
đài, mãi đến năm 1875, Thomas Fraser mới đề nghị đỉnh Hamilton
sau khi đã thám sát rặng Diablo. Lick Observatory bắt đầu hoạt
động vào mùa Xuân 1888, vào đời Đồng Khánh (1885-1889) của nước
Đại Nam ở phương Đông.
Nơi đây, bốn hướng mênh mông và trời cao vời vợi,
một thế giới gần như cách biệt với bụi trần. Khi tôi đến, đây đó
quanh đài vẫn còn những đụn tuyết nho nhỏ chưa tan hết. Thấy cơ
ngơi đồ sộ và phương tiện làm việc của họ, tôi không khỏi nhớ
đến Nam Đài xa xôi của Thành Nội ngày xưa và ngậm ngùi cho một
thời đã qua.
Nam Đài ở mô?
Xin
những bậc chuộng sách vở từ chương đừng mất công dở sử sách Nhà
Nguyễn để tìm địa danh này vì nó không phải là cái tên chính
thức do vua đặt ra; may ra chỉ có cụ già Léopold Cadière nặng
lòng với Huế nên đưa cái tên Nam Đài vào tập san Đô thành
Hiếu cổ (Bulletin des Amis du Vieux Hue) mà thôi. Nam Đài
là cái tên dân dã thông tục mà dân Thành Nội đặt cho Quan
Tượng Đài, đài quan sát thiên văn thuộc cơ quan Khâm Thiên
Giám của Nhà Nguyễn. Cũng không phải tất cả mọi người dân Huế
đều biết đến Nam Đài, bởi vì nó nằm vào một góc khá hẻo lánh của
Kinh đô, nơi dân cư thưa thớt và ít người qua lại. Quen thuộc
với cái tên Nam Đài e chỉ có những người cố cựu của khu vực phía
tây Thành Nội (Kinh thành Huế)
Đài xây
năm 1836 đời Minh Mạng, trên góc tây-nam của Kinh thành Huế --
quen gọi là Thành Nội -- thuộc địa phận phường Nam An, về sau là
Thuận Cát và ngày nay là Thuận Hòa.
Mãi tới
năm học lớp Nhất (lớp 5 ngày nay), nhờ có thằng bạn là dân xóm
Nam Đài rủ tới nhà chơi, vô Xã Tắc lượm mù-u, hái mù u về đánh
bi, tôi mới biết Nam Đài là cái chi, dù nghe nói từ lâu. Thằng
bạn và tôi cùng vài ba đứa trang lứa trong xóm rủ nhau leo
ngược cái dốc thoai thoải lát đá để lên đài. Lúc đầu còn chạy
đua, chạy nửa chừng thì mệt quá, bèn vừa thở vừa leo.
Cũng như Tô Đông Pha ngày xưa khi lên được
Lô Sơn:
Lô Sơn yên tỏa, Chiết Giang triều
Vị đáo sinh bình hận bất tiêu
Đáo đắc hòan lai vô biệt sự
Lô Sơn yên tỏa Chiết Giang triều
Phóng dịch:
Lô Sơn khói tỏa, Chiết Giang triều;
Chưa đến, một đời hận chẳng tiêu.
Đến rồi, rốt thấy không chi lạ.
Lô Sơn khói tỏa, Chiết Giang triều;
khi
chưa tới được Nam Đài thì nay ước mai ao, cứ tưởng Nam Đài là
một kiến trúc to lớn nguy nga cũng như cung điện trong Đại Nội,
đến khi leo lên thấu Nam Đài, thấy cũng rứa, nghĩa là chẳng có
chi lạ hết. Chỉ là một cái nhà nhỏ hình 8 cạnh, bốn bề trống
hoác cho gió lộng chơi, cỏ dại mọc đầy chung quanh, đứng chơ vơ
trên mặt thành. Có thích thú chăng là lần đầu tiên được đứng ở
một nơi cao như thế, tự nhiên thấy mình như to ra, lớn lên -- dù
thân hình chỉ là một thằng nhóc -- khi nhìn thấy những xóm làng
nhỏ bé bên ngoài, nào Vạn Xuân, nào Kim Long, kia là cầu Dã
Viên, cầu Bạch Hổ; xa xa là núi Ngự Bình, núi Kim Phụng, và trên
con đường chạy dọc bờ sông Hương dẫn đến Kim Long, Thiên Mụ,
thấy rõ người đi lại với xe ngựa chạy lọc cọc, xe đò ngược xuôi,
khác với cái góc im vắng Nam Đài này…
Khâm Thiên Giám
Vua Minh Mạng (1820-1841) dựng Quan Tương Đài là để
tạo phương tiện cho Khâm Thiên Giám làm việc hiệu quả hơn. Cơ
quan này lập ra đời Gia Long (1802-1819), có mấy nhiệm vụ chính
là quan sát và chiêm nghiệm thiên tượng, thời tiết, làm lịch,
coi ngày, báo giờ, và dĩ nhiên kiêm luôn cả nghề địa lý, phong
thủy cho triều đình.
Tuy tổ
chức Khâm Thiên luôn luôn đặt dưới sự kiểm soát của một quan lớn
-- đang cầm đầu một cơ quan khác -- kiêm nhiệm ( gọi là Kiêm
quản Khâm Thiên Giám sự vụ đại thần), nhưng trong công việc
hàng ngày thì do một Giám chánh và một Giám phó trực tiếp điều
khiển; thuộc viên có các chức Ngũ quan chính, Linh đài lang, các
Thư lại và Vị nhập lưu Thư lại làm thư ký. Tại các tỉnh có Ty
Chiêm hậu là chi nhánh địa phương của Khâm Thiêm Giám.
Trong một thời gian dài, trụ sở của Khâm Thiên Giám
nằm ngay dưới chân Nam Đài, thuộc phường Thuận Cát, nay là Thuận
Hòa, thuận tiện cho nhân viên chia phiên trực lên làm việc ở
Quan Tượng Đài. Có điều tôi không hiểu là gặp nhân viên lớn
tuổi thì làm sao leo cho nổi cái dốc khá cao đó trong đêm hôm
khuya khoắt. Đầu thế kỷ XX, có lẽ do Pháp đã lập đài khí tượng
cho Đông Dương, nên việc sử dụng Quan Tượng Đài không còn cần
thiết nữa, và vai trò của Khâm Thiên Giám chỉ còn rút lại trong
việc làm lịch và coi ngay tốt xấu, coi đất, chọn huyệt mà thôi.
Vì vậy, đến đời Duy Tân (1907-1916), Khâm Thiên Giám giả từ
Nam Đài, dọn về khu Bộ Học trên đường Hàn Thuyên ngày nay và ở
đó cho đến ngày tàn của chế độ quân chủ (8/1945)
Khi
được nhìn thấy cái viễn vọng kính vĩ đại của đài thiên văn Lick,
không phải chỉ mình tôi mà đa số du khách đều “ồ”, “à” với vẻ
ngạc nhiên thích thú. Tôi hỏi người hướng dẫn: “Chắc quí vị đã
điện toán hóa (cmputerize) cái kính này để sử dụng tốt hơn, phải
không?” Bà ta trả lời ngay: “Không, cái kính này xưa rồi,
chúng tôi chỉ dùng cho sinh viên thực tập và du khách như quí vị
xem cho biết lịch sử của Lick. Chúng tôi chỉ computerize những
kính mới chế tạo mà thôi.” Nghe thế, tôi “ồ” lên một tiếng ngạc
nhiên thật sự, không khỏi nghĩ trong đầu,”Giá như nước mình cũng
có một cái cũ như thế!” và lòng không khỏi chạnh nhớ đến Nam
Đài, đền cơ quan Khâm Thiên Giám với những dụng cụ cực kỳ thô
sơ, còn ghi lại trong mục Nghi khí của Hội điển,
phần
Khâm Thiên Giám. Dưới con mắt ngày nay, những thứ đó là đồ chơi
trẻ con, nhưng vào thời bấy giờ, lại là những khí cụ vua ban để
làm việc, rất quan trọng. Nào chuông định giờ, nào thước đồng,
cây đo bóng mặt trời, đồng hồ cát, phong vũ biểu, hàn thử biểu,
kính hiển vi (??), ống nhòm, chậu hứng nước mưa để tính vũ độ,
bản đồ thiên văn, thiên lý kính…Ngoại trừ mấy cái chậu sành hứng
nước mưa để đo vũ độ và những lá cờ dùng cắm trên Nam Đài, thay
đổi màu sắc theo từng giờ, để theo dõi hướng gió, là do trong
nước làm, còn lại hầu như là đồ ngoại, nhập từ phương Tây. Nhưng
sách chuyên môn để các quan tham khảo và huấn luyện lại là sách
Tàu.
Người Tây phương đã chế ra kính thiên văn (thiên lý
kính) rất sớm để quan sát thiên tượng
.
Vua Minh Mạng cho mua một số, cở lớn có, nhỏ có, để cấp cho các
tàu thuyền đi biển, các đồn canh phòng cửa biển, và Khâm Thiên
Giám để làm phương tiện quan sát. Năm Minh mạng thứ 6, (1825)
vua cấp 3 cái thiên lý kính hạng to “để
xem mặt trời, trông lên xét trong bầu trời, trông xuống xét núi
sông. Tất cả điềm lành điềm dữ tai nghe mắt thấy rõ ràng, cứ
thực xét tâu lên, không được lười biếng, xao nhãng như trước
nữa.”
Sở dĩ vua hăm
he như vậy là vì trong quá khứ các quan, hoặc vì lười nhác,
hoặc không biết cách dùng (hồi đó làm gì có chuyện bán sản phẩm
kèm theo tài liệu chỉ dẫn cách sử dụng!), nên cứ bỏ xó thiên lý
kính cho bụi bám.
Nghĩ lại, mấy ông Khâm Thiên Giám hồi xưa của mình
cũng có chỗ giỏi thật. Họ học hỏi kiến thức thiên văn qua sách
Tàu với đầy màu sắc huyền bí và đồng thời họ cũng học cách tính
toán chuyển động của các thiên thể trong Thái dương hệ theo
cách Tây phương thông qua sách Tàu mà họ không biết
. Và
họ học, hoặc theo kiểu cha truyền con nối, hoặc do có năng
khiếu, sở thích, tự tìm đường mà thu thập kiến thức. Sự huấn
luyện bổ túc tại Khâm Thiên Giám tuy có, nhưng không phải là
trường lớp chính qui.Vậy mà họ tính toán được ngày giờ nhật
thực, nguyệt thực để trình lên vua hàng tháng trước, và thông
báo cho địa phương nơi sẽ xảy ra hiện tượng biết để theo dõi,
quan sát và báo cáo về triều.
Các quan Khâm Thiên đoán đúng
trong nhiều trường hợp nhưng cũng có lúc tính sai, nhưng may nhờ
đúng nhiều hơn sai nên chỉ bị khiển trách chứ không bị trừng
phạt. Cũng có lần bị phạt nặng, nhưng vì lý do khác.
“Đêm năm canh, ngày sáu khắc”, là cách phân chia
thời gian ngày xưa trong một ngày đêm. Ngày cũng như đêm, Khâm
Thiên Giám phải có người thường trực để lo báo giờ. Họ được
trang bị bằng đồng hồ cát. Ban ngày, nhân viên trực tại nhà Tả
Vu điện Cần Chánh trong Tử Cấm Thành để báo giờ, còn ban đêm thì
trực tại lầu Ngọ Môn, canh đồng hồ để báo cho ty Kỳ cổ
đánh trống làm hiệu lệnh thời khắc (nhập canh, giao canh, tan
canh). Không biết do mất ngủ hay thức đêm làm việc, vua
Minh Mạng đã mấy lần theo dõi, thấy đánh trống sai, các canh dài
ngắn không bằng nhau. Sau mấy lần cảnh cáo, lần đó,vua ra lệnh
đánh nhân viên trực đêm ấy 80 trượng về cái tội báo giờ lếu láo,
đồng thời Giám chánh và Giám phó đều bị khiển trách.
Mặc dầu
có hấp thụ phần nào kiến thức thiên văn từ phương Tây qua sách
của Tàu, biết quả đất tròn, đã tính được vĩ độ của các tỉnh
thành, nhưng vua quan vẫn chưa vén được bức màn huyền bí che phủ
các thiên tượng. Chính vua Minh Mạng, một người tự học, tự
nghiên cứu thiên văn tới trình độ chỉ ra chỗ sai trong tính toán
của các quan Khâm Thiên Giám, vậy mà cũng có lần nói rằng, “
Thiên văn vốn là việc huyền diệu.”
, và
vì vậy, những hiện tượng như nhật thực, nguyệt thực, sao chổi
xuất hiện đều là những điềm không lành, là dấu hiệu răn đe từ
đấng Hoàng thiên. Năm Tự Đức thứ 2 (1848), có dự báo nhật thực
sẽ xảy ra vào ngày mồng một Tết. Theo tin tưởng truyền thống,
đó là một dấu hiệu cảnh báo của trời, vua phải biết kính sợ mà
sửa mình, nên ngày đó vua ở trong cung trai giới, và ra lệnh cho
các hoàng thân cùng trăm quan không được bày yến tiệc chơi bời;
khi nhật thực xảy ra thì tất cả phải yên lặng để tỏ lòng kính
sợ.
Cứ mỗi lần nhật thực như thế thì Khâm Thiên Giám cũng như dân
chúng đều lo quì khấn, đánh trống, để cứu mặt trời khỏi bị ăn;
lần này vua bảo thôi đừng làm theo lối câu nệ đó nữa, cũng là
một dấu hiệu của tiến bộ! Tuy nhiên điều cấm kỵ nhất vẫn là sự
xuất hiện của sao chổi. Năm Ất Dậu (1825), sao chổi mọc lâu vẫn
chưa lặn. Vua Minh Mạng sợ lắm, giảm bớt các món ăn trong mâm
ngự thiện, bỏ âm nhạc, vui chơi, sai Bộ Lễ tư đi các địa phương
để xem có điều gì sai trái, hội các quan để cầu lời nói phải.
Giám chánh Khâm Thiên Giám là Hoàng Công Dương thấy vua lo quá,
bèn dâng sớ an ủi, nói rằng sách xưa, nơi thì nói hễ sao chỗi
mọc ở vị trí sao Vỵ sao Mão thì có tai ương, nhưng cũng có sách
nói nếu mọc ở đông nam trở sang tây bắc thì trong nước được mùa
lớn, nghĩa là ý nghĩa của sao chổi xuất hiện là mơ hồ, không có
gì đáng tin. Vua Minh Mạng đang lo, đọc sớ lấy làm giận. Vua
phê rằng vua đã đọc sách sử các đời, chưa thấy sách nào nói sao
chổi xuất hiện là điềm lành cả, vậy mà nay Khâm Thiên Giám lại
nói nịnh như thế thì quá lắm, bèn phạt Giám chánh Hoàng Công
Dương tội cách lưu
Chỉ tội nghiệp là sếp lớn của quan Giám chánh là Thượng thư
Nguyễn Hữu Thận cũng bị phạt lây! Quan Thượng Nguyễn Hữu Thận
được coi là người tự nghiên cứu học hỏi thiên văn mà đạt đến
trình độ bậc thầy dưới hai triều Gia Long và Minh Mạng.
Xuân từ trong ấy
Bấy giờ
phải là sau ngày hồi cư, sau năm 1948 một hai năm chi đó. Khi
bà chị đi làm về, cho tôi cuốn lịch bỏ túi, nhỏ như cuốn sổ tay,
thì tôi khoái lắm. Thứ nhất, chưa bao giờ tôi được thấy một
loại lịch như thế, chỉ quen thấy cuốn lịch Tàu của Thầy tôi (cha
tôi), lịch block để bàn ở các văn phòng, và lịch treo tường lột
từng tờ hàng ngày; thứ hai, có “của lạ” để khoe với tụi bạn cùng
lớp. Dưới mấy dòng nói đầu, thấy ký tên là Khâm Thiên Hoàng
Thiện kính cáo. Cũng chẳng hiểu mô tê chi. Trong cuốn lịch
nhỏ xíu và mỏng dính đó, ngoài ngày tây ngày ta, còn có phần in
sao hạn của các tuổi trong năm mới và bài thơ giải đoán, nay còn
nhớ lỏm bỏm:
La Hầu
chánh thất kiến hung tai,
Thủy Diệu, Thổ Tú, tứ bát ai.
. . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . .
Thái Dương lục thập đắc tiền tài.
Mạ tôi rất hâm mộ bài thơ này, bà thuộc lòng để làm
thầy giải đoán sao hạn cho mấy bà bạn và bà con. Hỏi Thầy tôi –
tức cha tôi -- mới biết Hoàng Thiện là một ông quan cũ của Khâm
Thiên Giám triều Nguyễn mà Thầy tôi thường gọi là “ông Khâm
Thiên”.
Mới đầu
tháng 10, sáng thứ Bảy, nhận được cú điện thoại đường dài từ một
thành phố nhỏ Miền Đông:
-Hello! Anh đó hả? Năm ni vợ chồng em định về ăn Tết
ở Việt Nam. Anh coi cho em Tết năm ni là nhằm ngày mấy Tây
tháng mấy, để còn liệu mua vé và lấy vacation.
-Ơ, chú để thư thả vài hôm, anh sẽ trả lời sau.
Anh chưa có lịch năm tới.
Thời
đại điện toán mà còn vậy, huống chi thời xưa. Không có lịch, làm
sao dân gian biết ngày mà ăn Tết. Cho nên hồi đầu thế kỷ XX,
khi thấy lịch của vua ban về đến địa phương, nhà thơ Tú Xương
của đất Nam Định biết là Xuân đã về, Tết sắp đến, bèn ngẩu hứng
thành thơ:
Xuân từ
trong ấy mới ban ra,
Xuân chẳng riêng ai, khắp mọi nhà
. .
. . . . . . . .
“trong
ấy” là trong Kinh đô Huế. Mà không phải lịch chỉ cần cho Tết.
Cả trăm thứ sinh hoạt của chính quyền cũng như dân gian, từ việc
trồng cây, dựng cột nhà, gác đòn đông đến những ngày cúng giỗ
trong gia đình, tế tự, hội hè của làng xã, cho đến ngày làm
mùa, ngày lễ quan trọng của nhà nước …thảy thảy đều trông vào
lịch. Hồi trước, khi lịch chưa được phổ biến lắm, cứ vào khoảng
cuối năm, sau khi những ngày mưa dầm, lụt lội và bão tố của “quê
hương em nghèo lắm ai ơi” (Phạm Duy) đã qua đi, người trong xóm
hỏi nhau, “Ngày mô là ngày Đông chí?” Tôi lấy làm lạ, sao họ
không hỏi về Tết, lại hỏi cái ngày đông chí, đông rận (!) đó làm
chi, thì được Thầy tôi giảng, “Đông chí nhất dương sanh.
Tới ngày Đông chí thì khí âm lên đến chỗ cùng cực, nhưng đồng
thời khí dương cũng bắt đầu phát sanh, trời đất sẽ ấm lên lần
lần. Vì vậy phải sau ngày Đông chí trồng cây mới đặng. Người ta
hỏi thăm là vì rứa.” Nên phải có lịch mới biết ngày Đông chí để
tính chuyện khởi sự trồng trọt.
Ngày
Ban Sóc – nghĩa là vua cho lịch - là một lễ lớn của triều đình.
Trong mấy năm đầu của triều Gia Long thì ngày Ban Sóc cũng là
ngày phong ấn hay hạp ấn, nghĩa là lau chùi ấn tín
sạch sẽ, gói lại, cất đi, tạm nghỉ việc để ăn Tết. Qua năm Gia
Long thứ 5 (1806) thì vua quyết định lấy ngày 1 tháng Chạp làm
ngày Ban Sóc hàng năm. Cũng buổi đầu, lễ Ban Sóc diễn ra tại
điện Thái Hòa nhưng từ năm Minh Mạng thứ 21 (1820) trở đi, vua
ra lệnh làm lễ trước lầu Ngọ Môn. Ngay từ hôm trước, Bộ Lễ lo
dàn bày nghi trượng theo nghi thức đại triều. Sáng sớm hôm ban
sóc, sau khi vua ngự lên ngai, trăm quan lạy 5 lạy, quan đại
thần quản lý Khâm Thiên Giám đem thuộc viên ra quì trước sân làm
lễ dâng lịch mới, rồi vâng chỉ vua, tuyên bố “ban sóc”. Trăm
quan lạy năm lạy để làm lễ thọ lịch (nhận lịch), vậy là
xong lễ chính thức. Sau đó, các quan sẽ đến nơi chỉ định để nhận
lịch, nhiều ít tùy theo phẩm trật và chức vụ.
Cũng sáng hôm ấy, tại các địa phương, quan đầu tỉnh
dẫn hết thảy quan lại trong tỉnh mặc phẩm phục đại triều, đến
trước hành cung của tỉnh để làm lễ thọ lịch. Hành cung là nhà
tạm trú của vua tại địa phương mỗi khi vua đi kinh lý, đồng thời
cũng tượng trưng cho sự hiện diện của vua, nên mọi lễ nghi chính
thức của tỉnh đều phải diễn ra tại đấy. Chỉ sau lễ này, lịch mới
được phân phối đến các cơ quan trong tỉnh, các phủ, huyện và
làng xã.
Có mấy loại lịch?
Nghe mấy ông đời xưa nói chuyện lịch, nào là lịch
vạn toàn, lịch hiệp kỷ, rồi bảo lịch, giám
lịch, ngự lịch, quan lịch, dân lịch…mình cứ rối tung cả lên,
nhưng nghe ra một hồi thì biết cũng chẳng khó khăn chi, chẳng
qua là các cụ đem hình thức ra để xếp hạng, để phân biệt, thế
thôi.
Trước
hết phải nhớ rằng hồi xưa viết chữ Nho, từ phải qua trái, từ
trên xuống dưới, ngược với ngày nay. Vì vậy, bìa trước của cuốn
sách ngày xưa chính là bìa sau của sách bây giờ. Hễ bìa trước
của cuốn lịch nào có đóng ấn của vua (gọi là bảo) thì
được gọi là bảo lịch; còn lịch nào có bìa đóng ấn của
Khâm Thiên Giám (ấn có khắc 4 chữ Khâm Thiên Giám Ấn) thì
gọi là giám lịch.

Ấn Đại Nam Hiệp Kỷ Lịch Chi Bảo
Năm
1802, vua Gia Long cho đúc ấn Trị lịch minh thời chi bảo
bằng bạc để đóng vào lịch ban hành hàng năm, và đời bấy giờ đặt
tên là lịch vạn toàn. Năm 1811 vua mới đổi tên , gọi là
lịch hiệp kỷ, áp dụng từ năm 1812 trở đi. Đời Minh
Mạng, vua cho đúc ấn mới bằng vàng (1823) nhưng vẫn giữ tên cũ.
Năm 1841, vua Thiệu Trị lên nối ngôi. Vì ấn Trị lịch minh
thời chi bảo có chữ Trị trùng với niên hiệu Thiệu
Trị (niên hiệu cũng là tên của vua),phạm trọng húy, nên các
quan xin đúc ấn mới thay thế để khỏi phải gọi tên húy. Vua chấp
thuận và ấn Đại Nam hiệp kỷ lịch chi bảo ra đời,
dùng cho đến năm 1945 (ất dậu) là năm Nhà Nguyễn ban hành lần
cuối lịch hiệp kỷ cổ truyền, rồi vua Bảo Đại thoái vị, chấm dứt
chế độ quân chủ Việt Nam. Bây giờ ai còn giữ được cuốn lịch này
thì nhớ rằng đó là một món đồ cổ. Trước 1968, người viết đã
từng sưu tập được cả năm sáu cuốn lịch như thế, nhưng tiếc thay,
cái nhà đã bị bom đạn đánh sập, sách vở dầm mưa cả tháng, không
còn gì.
Theo
quan niệm xưa, người làm vua là người thừa mệnh Trời để chăn dắt
muôn dân, cao hơn tất cả, nên mới có chuyện vua sắc phong tước
hiệu cho hết thảy các thần linh trong nước, không có quỷ thần
nào không nể sợ vua. Vì vậy cái tờ bìa của cuốn bảo lịch có
dấu ấn của vua là một vật quí; nó là một đạo bùa trừ tà ma, trừ
thần trùng. Khi làm nhà mới, thay vì treo đạo bùa vẽ bát quái
với cành thiên tuế, người ta dán cái bìa bảo lịch trên đòn đông
hay đòn tay nhà, cũng có hiệu lực như nhau (người ta tin thế);
hoặc dùng tờ bìa đó đắp mặt người chết khi khâm liệm, nếu người
quá cố ra đi vào ngày giờ xấu, thì thần trùng cũng sợ mà không
dám làm hại.
Ngự
lịch là lịch dâng lên cho vua. Quan lịch là lịch dành cho các
quan, dân lịch là lịch phát xuống làng xã. Rồi lại còn có
long phụng lịch là lịch dâng thờ tại các miếu trong Đại Nội
(Thái miếu, Thế miếu, Hưng miếu, Triệu miếu, điện Phụng Tiên),và
điện thờ tại các lăng.
Cuốn
lịch không dày, chỉ chừng 40, 50 trang, khổ lớn như thường thấy
ở các loại sách chữ Nho xưa (khoảng15cm X 20cm), trong đó có ghi
ngày tháng, giờ tốt giờ xấu, những việc nên làm những việc không
nên làm của mỗi ngày, thời gian của 24 tiết trong năm
, các
ngày lễ của triều đình . . .
. Hội
điển không ghi chi tiết rõ ràng nhưng qua một chỉ thị đặc biệt
của vua Minh Mạng vào năm 1831 thì cũng có thể hiểu được một vài
điều, ấy là từ năm 1832 trở đi, cuốn ngự lịch dâng lên vua phải
là một ấn bản đặc biệt…chép tay. Từ trước, trong các bản lịch in
ra, dù dâng cho vua hay phát xuống cho quan, cho dân, cũng đều
ghi giống nhau, nghĩa là có các mục ngày nào nên làm việc gì và
không nên làm việc gì, hoặc gặp ngày xấu quá thì “trăm việc
không nên”. Năm đó, có lễ có thì giờ nghiên cứu kỹ cuốn lịch
hiệp kỷ và thấy được những điều kỳ cục, vua Minh Mạng đã xuống
chỉ bảo Khâm Thiên Giám rằng: những việc như trồng cây, khai
mương, đốn cây, đặt bếp lò, nạp tài, khai trương v.v. có dính
gì đến việc của bậc thiên tử cơ chứ? Từ nay trở đi, những khoản
nhảm nhí đó thì phải bỏ đi trong cuốn ngự lịch. Với dân gian
thì quả có ngày tốt để nhập học, nhưng với vua thì không
thể nói như thế được, phải gọi là ngự Kinh diên
.
Khi vua xây cung điện, thành trì, lăng tẩm thì đã có Khâm Thiên
Giám coi ngày, nên không cần phải ghi ngày tốt để gác đòn
đông!
Đó là nói về nội dung, còn về hình thức, cuốn ngự
lịch cũng khác bảo lịch. Sách xưa đóng bằng cách dùi lổ ở mép
gáy rồi xỏ dây qua lại, xong cột chặt. Vì vậy bìa sách là hai
mảnh giấy rời, với loại giấy dày hơn, áp ở mặt ngoài. Ngự lịch
thì khác; ruột vẫn đóng theo kiểu cổ truyền vừa nói, nhưng bìa
là một tấm liền từ sau ra trước, làm bằng lụa Tàu, gọi là
đoạn bát ti, màu vàng, thêu rồng mây, ở giữa có một cái
nhãn, cũng bằng đoạn bát ti màu hoa đào, thêu hai chữ Ngự
Lịch.
Vào
thời trước, kỹ thuật in ấn còn rất thô sơ. Người ta dùng những
bản gỗ thị, khắc chữ, mỗi bản một tờ. Khi in, phết mực lên bản
khắc rồi đặt tờ giấy lên, vuốt phẳng cho mực ăn đều, là xong.
Mỗi lần một tờ, gấp đôi lại, xây mặt in ra ngoài, thành 2
trang. Vậy mà với cách thủ công đó, mỗi năm Khâm Thiên Giám
phải cung cấp hàng chục ngàn ấn bản lịch hiệp kỷ cho toàn quốc,
từ các quan triều đình cho đến tổng lý của làng xóm xa xôi.
Với phương tiện vận chuyển thô sơ và đường sá khó
khăn thời bấy giờ, việc hàng năm lính trạm phải phân phối hàng
vạn cuốn lịch từ Kinh đô đến các tỉnh trong Nam và ngoài Bắc quả
là một công tác nhiêu khê và nhọc nhằn. Vì vậy, qua năm 1809,
vua Gia Long định rằng từ nay, hàng năm các cơ quan và các địa
phương báo cáo về Bộ Hộ số lịch cần dùng, theo tiêu chuẩn đã
định. Bộ Hộ căn cứ vào đó để dự trù vật liệu (giấy mực).
Khoảng đầu tháng Tư, Bắc thành (sau này là Hà Nội) và Gia Định
thành (sau này là Gia Định) sẽ phái người về Khâm Thiên Giám
nhận bản thảo lịch hiệp kỷ năm tới, đem về khắc rồi in sẵn ruột
để đó, chiếu theo số lượng cần dùng đã định của các trấn
(tỉnh). Đến tháng 10, các thành lại phái nhân viên về Khâm
Thiên Giám nhận số bìa lịch màu vàng, có đóng ấn vua (cho loại
bảo lịch) hoặc ấn Khâm Thiên Giám (cho loại giám lịch) để đem về
đóng hoàn chỉnh. Đến ngày cuối năm, khi triều đình làm lễ Ban
Sóc thì các trấn (tỉnh) làm lễ thọ lịch, sau đó mới phân phối
lịch đến các địa phương. Quan lớn thì nhận được nhiều lịch hơn
quan nhỏ, với số lượng bảo lịch và giám lịch được qui định rõ
ràng chứ không phải muốn lấy bao nhiêu cuốn cũng được.
Nghĩ lại, cuốn bảo lịch hay giám lịch cuối cùng phát
hành năm 1945, cho đến nay, 2006, mới tròn 61 tuổi, so với tuổi
của những chiếc bình đời Minh, đời Khang Hy v.v. thì nào cái
tuổi đó có đáng chi, nhưng rõ ràng nó đáng được xếp vào loại đồ
cổ, bởi không bao giờ còn có thể tái tạo được nữa. Tôi xa Huế
từ năm 70, một đôi lần trở về theo kiểu thoáng hiện, thoáng
mất. Không biết xóm Nam Đài nay đã thay đổi ra sao, những bè
bạn ngày xưa nay lưu lạc phương nào, ai còn ai mất? Nhiều hình
ảnh của Huế xuất hiện nhan nhản trên các trang Web về Huế, về du
lịch, nhưng không thấy một hình nào của Nam Đài, hay Nam Đài rõ
ràng chỉ là giấc nam kha của một thời?
VÕ HƯƠNG-AN
San Jose, 12/2006
Trở về Trang Chính |