|
LTS: "...Võ Hương An có
cả sự gần gũi, duyên nợ với Huế cũng như lòng yêu thương mảnh
đất Thần Kinh từ những ngày ấu thơ, khiến cho cuốn sách của ông
không là một tài liệu khảo cứu khô khan mà còn mượt mà như một
bài thơ Huế.
“Huế Của Một Thời”, cho chúng ta
bao nhiêu điều lạ lùng, bí ẩn, nhưng lại gần gũi quen thuộc như
những hình ảnh cũ trong chiếc hộp chạm rồng , sơn son thếp vàng
đã phủ bụi thời gian, vừa mở ra trước mắt...." là những cảm
nghĩ của nhà văn Huy Phương dành cho Võ Hương An và
“Huế Của Một Thời” đứa con tinh
thần vừa ra đời của ông.
Khoahoc.net hân hạnh được giới thiệu đến bạn
đọc câu chuyện ngắn "Huế rặt" , một câu chuyện chỉ có Huế mới có
được (lời tác giã) , trích đăng từ
“Huế Của Một Thời” của Võ Hương
An.
* * *
Khi nói
Huế rặt, tôi muốn kể chuyện chỉ có Huế mới có, không lẫn vào đâu
được . . .
Nước
đái bà Chúa
Trời tháng Sáu ở Huế. Mới buổi sáng mà
gió Nam đã thổi sớm, hứa hẹn một ngày nóng kinh người. Chặt xong
ba cây chuối sứ cho bầy heo bốn con ở nhà , chị Lùn đi vào bếp,
xin bà ngoại tôi nước uống. Chị biết bao giờ bà tôi cũng có một
nồi nước chè tươi ngon lành, không chè Truồi thì cũng chè Tuần.
Vừa nghiêng cái om (nồi) nước chè rót vào cái tô sành, miệng chị
đã bài bãi la lên:
-Ui
chao! Nước chè chi của mệ vừa nguội ngắt vừa trong như nước
đái bà chúa, ri .
Bà tôi
trả lời:
-Cái
con ni ăn nói vô duyên ỏm. Dễ chi có nước đái bà chúa cho mi
uống. Sáng ni mụ Lời bán trầu chè chưa đi ngang đây thì lấy mô
ra chè tươi để nấu, mà chê nguội với nóng.
Ngoài Huế ra, có lẽ không có một địa
phương nào khác có lối diễn tả độc đáo và buồn cười như vậy. Vừa
thanh vừa tục. Bình dân và quí tộc có mặt đề huề. Để chỉ độ
loãng tối đa của một nồi chè tươi hay một ấm trà đến lúc không
còn nhận ra màu sắc hay hương vị thường có của nó nữa, người ta
đã mượn đến cái trong trẻo của nước đái bà công chúa cho dễ gây
ấn tượng khi so sánh. Trong trí óc chất phát của người bình dân
xứ Huế thời xưa, thuở vàng son cung đình còn rực rỡ, có lẽ cái
gì thuộc về vua chúa cũng có phẩm chất tuyệt hảo. Thế nên đã là
công chúa lá ngọc cành vàng thì không những đương nhiên nàng
phải có cái nhan sắc tuyệt mỹ như tiên nga gíang thế, mà đến cái
chất thải kia của nàng cũng trong trẻo khác thường và không có
cái mùi vị ô uế khó ngửi như của đám tiện dân, nên rất đáng đem
ra làm mẫu mực để so sánh ! Quả là một ý nghĩ ngộ nghĩnh hiếm có
và rất…tiếu lâm
Ngựa Thượng Tứ
Giữa trưa, đang thiêm thiếp trên chiếc võng gai mắc dưới hai gốc
vú sữa im mát, tôi bỗng giật mình vì tiếng bà Cửu Thí cạnh nhà:
-Lài
ơi, Lài! Lài ơi, Lài!
Không
có tiếng chị Lài trả lời.
-Đứa mô
chạy qua nhà bà Mới kêu con Lài về đây tau biểu.
Con ni ngày càng hư. Hở ra là chạy rong như
ngựa Thượng Tứ, không lo ở nhà trông coi nhà cửa chi hết.
Không biết nhà bà Mới có làm chay hát bội chi không mà trưa mô
cũng qua tụ tập chuyện trò.

Hình ảnh của ngựa Thượng Tứ qua nét vẽ của Gras,
BAVH.
Lại ngựa Thượng Tứ. Trong mười cửa ra
vào Kinh thành Huế, có lẽ cửa Đông Nam với cái tên thông tục
Thượng Tứ là quen thuộc với mọi người hơn cả, kể cả những người
ngoại tỉnh đã có lần đến Huế. Người ta hầu như đã quên cái tên
chính thức Đông Nam dù ba chữ Đông Nam Môn được khắc trên một
cái bảng vôi lớn gắn trên vòm cửa vẫn còn đó. Người ta chỉ biết
có Thượng Tứ vì hồi xa xưa, khi triều Nguyễn còn làm chủ đất
nước, đã có một đơn vị kỵ binh tinh nhuệ, mang tên Thượng Tứ,
đóng ngay bên trong cửa. Có lẽ những con ngựa Thượng Tứ thường
xuất hiện trước mắt người dân qua những lần thao diễn, tập luyện
hay tuần phòng với tiếng vó ngựa dập dồn, tiếng hí dài náo động,
những bóng ngựa thoáng hiện thoáng mất, rậm rật trên đường,
những mùa ngựa cái động đực bày ra những cảnh khó coi trên
những bãi cỏ ven đường v.v. đã gây ấn tượng về một cái gì thường
xuyên động chuyển, ồn ào, không chịu ở yên, có khi lộ liễu lăng
loàn khó coi, không đáng có nơi chỗ đông người v.v. Ấn tượng đó
được liên hệ với trường hợp những cô gái thiếu nết na dịu dàng,
không thích không khí gia đình mà chỉ muốn rong chơi chòm xóm,
tụ tập, lân la. Tiến xa hơn nữa, đó là hình ảnh của những phụ nữ
trắc nết, lăng nhăng trong vấn đề quan hệ trai gái.
Con gái Huế mà bị xếp vào loại ngựa
Thượng Tứ thì thiệt là hết mê. . .
Đưa
con vô Nội
Trường đến chơi , hỏi mượn một cuốn sách
hay mà tôi vừa kiếm được. Tôi bảo đã cho Bình, bạn chung của hai
đứa, mượn hôm kia rồi. Trường thở dài chép miệng:
-Mi đưa cho thằng nớ mượn cũng cầm bằng
như đưa con vô Nội. Chắc tau không có hy vọng chi đọc
được.
Bình có tật chóng quên. Mượn cái gì của
ai thường để lạc mất hoặc để lâu ngày rồi quên trả, coi như của
. . . mình. Bạn bè thường cho rằng đưa cho Bình mượn cái gì có
nghĩa là sẽ mất luôn, rất ít hy vọng vật hoàn cố chủ. Trường thở
dài là vì thế. Nhưng sao lại đưa con vô Nội?
Dưới
ảnh hưởng của Nho giáo và trong chế độ quân chủ, việc trai năm
thê bảy thiếp là điều xã hội và luật pháp chấp nhận như một đặc
quyền của nam giới. Đám đàn ông dân dã mà còn được như thế, nói
gì đến đấng quân vương. Cung A-Phòng của vua Tần Thủy Hoàng đã
nổi tiếng trong lịch sử, văn học và truyền thuyết với số lượng
cung nữ lên đến hàng nghìn. Các vua Nhà Nguyễn tuy không bằng
các vua Trung Quóc về số người đẹp trong hậu cung, nhưng vẫn có
hàng chục bà phục vụ bên mình, ngoài các bà vợ chính thức. Việc
một người đẹp nào đó do một cơ may hy hữu được lọt vào mắt xanh
của vua để rồi một bước nhảy lên ngôi vị cao sang mà cô gái nào
cũng mơ ước – như trường hợp của bà Nguyên phi Ỷ-Lan, vợ vua Lý
Thánh Tông, vốn là một thôn nữ làng Thổ Lỗi tỉnh Bắc Ninh – là
điều thường có nhiều trong chuyện cổ tích hơn trong thực tế.
Thực tế phũ phàng hơn nhiều. Vì vậy , khi có lệnh truyền tuyển
chọn các thiếu nữ xuân thì đẹp người đẹp nết để đưa vào cung
cấm, các bậc cha mẹ có con gái xinh đẹp trong lứa tuổi mười tám
đôi mươi phải một phen mất ăn mất ngủ. Có người sẽ hỏi: bộ có
con gái được tuyển làm cung phi không phải là một niềm hãnh
diện, một diễm phúc hay sao mà lại âu lo lắm chuyện?
Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều
đã trả lời cho câu hỏi đó. May mắn được nhà vua sủng ái và có
một địa vị xứng đáng trong cung cấm để làm vẻ vang cho cha mẹ,
làng nước, là điều khó khăn cũng như trúng số độc đắc vậy.
Điều chắc chắn là một khi đã được đưa về
kinh đô, nhập vào Đại Nội, thường được gọi tắt là Nội, trong khu
vực cung cấm thuộc Tử Cấm Thành, thì người con gái vinh hạnh bất
đắc dĩ đó cũng như Kinh Kha thuở nào bên sông Dịch chuẩn bị sang
đất Tần: tráng sĩ và giai nhân đều một đi không trở lại!
Dù cuộc sống về sau có thể huy hoàng hay
chỉ âm thầm trong bóng tối cung đình, số phận của người con gái
tiến cung coi như đã chôn chặt sau mấy vòng thành quách. Cha mẹ
cầm bằng như đã mất con. Khi vua băng hà, thân phận của các cung
nữ hoàn toàn tùy thuộc vào lòng tốt của vua mới. Một số may mắn
có thể được trả về nguyên quán để làm lại cuộc đời. còn đa số
được đưa đến sống tại khu vực lăng tẩm của vị vua vừa qua đời để
tiếp tục hầu hạ khói hương cho đến khi chính họ được hương khói.
Đưa
con vô Nội có nghĩa là sẽ mất con,
chẳng khác gì vật sở hữu của mình đưa cho người khác mượn rồi bị
mất hẳn. Đúng là một lối ví von không giống ai, một đặc sản của
người dân sống gần gũi chốn cung đình.
Đẽ
ông Bộ cho làng nhờ
Lại nhớ môt buổi trưa nọ, mẹ tôi đi chợ
về, đang chuẩn bị bữa cơm trưa thì tiếng bà Cửu hàng xóm đã hỏi
vọng sang:
-Cô đi chợ
về rồi à? Răng đó ? Con cá hanh khi rồi ngon như rứa, mà cô có
mua được không?
-Không.
Con mẹ đó nói thách thấu trời, ai mua cho nổi. Họa là mua ăn để
đẻ ông Bộ cho làng nhờ thì tui cũng mua đó.
Với cái tuổi “Đệ Nhị chuyên khoa” hồi đó
(lớp 11), tôi tạm hiểu rằng mẹ tôi muốn nói đó là một cuộc đầu
tư không đáng, nhưng tôi không thể hiểu ông Bộ là ai mà làng lại
có thể nhờ vã được. Tôi có hỏi nhưng mẹ tôi không cắt nghĩa được
ngọn ngành, chỉ nói vắn tắt rằng ông Bộ là ông Giám, lớn rồi
biết.
Bên trong Kinh thành Huế có một khu vực
rộng lớn thâm nghiêm, kín cổng cao tường. Đó là Hoàng thành, tức
Đại Nội, gọi tắt là Nội. Đại Nội có nhiều khu vực khác nhau,
trong đó quan yếu hơn cả là Tử Cấm thành. Đây chính là nơi các
vua Nhà Nguyễn điều khiển guồng máy cai trị từ ải Nam Quan ở cực
Bắc cho đến mũi Cà Mau ở cực Nam. Đây cũng là nơi vua ăn ngủ,
giải trí, sống đời sống gia đình, như mọi con người khác. Tử Cấm
thành có nhiều lâu đài, cung điện, mang nhiều tên gọi khác nhau,
là nơi vua và bầu đoàn thê tử cư trú. Do ảnh hưởng của sử Tàu,
khi nói đến tam cung lục viện người ta thường nghĩ rằng đó là
chốn hậu cung của vua, bao gồm các bà vợ chính thức và đám vợ lẽ
nàng hầu , thường được gọi là cung phi mỹ nữ. Điều này có thể
đúng với Tàu và một số triều đại khác của Việt Nam, còn theo chỗ
chúng tôi biết, khi đề cập đến Nhà Nguyễn, nhất là từ đời Minh
Mạng đến Khải Định, mấy chữ tam cung lục viện nên được hiểu
chính xác hơn một chút.

Năm
thái giám (hình bưu thiếp)
Vua làm việc tại điện Cần Chánh hay điện
Văn Minh, và ăn ở tại điện Càn Thành, còn chánh phi thì ở tại
cung Khôn Thái. Các thứ phi thì ở điện Trinh Minh, các cung tần
thì chia nhau ở trong 6 viện (lục viện) là Thuận Huy, Đoan Huy,
Đoan Thuận, Đoan Hòa, Đoan Trang và Đoan Trường. Sát về phía Tây
của Tử Cấm thành có hai cung quan trọng khác dành cho các bậc bề
trên của vua. Đó là cung Diên Thọ, dành cho bà nội vua (Thái
hoàng thái hậu) và cung Trường Sanh dành cho mẹ vua (Thái hậu).
Vậy thì
tam cung lục viện của Nhà Nguyễn bao gồm thế giới đàn bà sau
lưng vua, gồm cả thế hệ trên trước lẫn phi tần cung nữ. Thế giới
này là cung cấm, hiểu theo nghĩa đen, vì ngoài vua ra, cấm không
có một bóng dáng đàn ông nào được lai vãng. Để lửa gần rơm thế
nào rồi cũng có ngày sinh chuyện, nên phải nghiêm cấm như thế
cho đúng phép tắc lễ nghi, và … an toàn! Tuy nhiên, cung cấm
cũng có lúc cần đến người có sức khỏe, cần người làm con thoi
liên lạc giữa vua và hậu cung, nghĩa là cần người có sức khỏe
phục vụ mà vẫn bảo đảm đươc sự an toàn như ý muốn của vua. Đó là
các thái giám, thường được gọi là các ông giám.
Về mặt
sinh lý, thái giám là người thuộc loại không rõ ràng về mặt
giới tính (á nam ái nữ) do bẩm sinh (ông bộ nắp), hoặc do
người nam tự nguyện hũy bộ phận sinh dục để được làm giám (giám
thiến, giám lặt), suốt đời phục vụ trong cung cấm, vừa có
địa vị, bổng lộc, gần gũi vua chúa, lại khỏi nắng mưa vất vả
ngoài đời.
Ngay cả
với phương tiện giải phẩu tiến bộ như ngày nay, vừa an toàn vừa
không đau đớn, liệu có đấng nam nhi nào dám hy sinh “của quí” để
mưu cầu một địa vị nào đó chăng? Thời xưa, có triều đại đã dùng
biện pháp cắt bỏ bộ phận sinh dục nam như một nhục hình dành cho
trọng tội. Vậy nên số người vì miếng cơm manh áo mà tự nguyện
làm giám hẳn là rất hiếm hoi, trong khi đó nhu cầu cung cấm đòi
hỏi phải có đầy đủ nhân lực kế thừa liên tục. Thế nên chỉ còn
trông cậy vào hạng giám . . . trời cho (bẩm sinh).
Đã gọi rằng của trời cho thì hẳn không phải
dễ kiếm. Vua biết rõ sự chênh lệch về cung cầu này nên đã ban
hành một qui chế đặc biệt cho giám bẩm sinh. Theo đó, hễ làng xã
nào trong nước có gia đình sinh con ái nam ái nữ thì phải báo
ngay lên huyện để huyện khám xét. Sau khi xác minh được tình
trạng đặc biệt của hài nhi, huyện sẽ theo hệ thống hành chánh để
báo lên phủ, rồi lên tỉnh. Tỉnh sẽ báo về Bộ Lễ, là cơ quan
trung ương đặc trách về giáo dục và nghi lễ của triều đình. Lý
lịch đứa bé như thế đã được “đăng ký” và từ đó nhà nước sẽ chu
cấp để nuôi dưỡng.
Cha mẹ đứa bé, vì có công sinh con hữu ích
cho vua, nên được miễn sưu dịch và thuế đinh, lại còn được cấp
công điền công thổ để cày cấy nuôi con. Làng sở tại, nơi có đứa
bé sinh ra, cũng được hưởng chút thơm lây, ấy là làng được miễn
sưu thuế trong một số năm nào đó, chưa kể có thể có những đặc ân
bất thường khác, tùy dịp và tùy lòng tốt của vua. Có đứa bé mang
khuyết tật bẩm sinh nào lại có thể mang vinh dự và lợi lộc về
cho cha mẹ và làng nước như vậy chăng? Có đứa bé nào mới sinh ra
mà đã trờ thành người của vua như vậy chăng? Quả là hiếm hoi quí
báu!
Vậy thì để tỏ lòng biết ơn (người đã mang
lại ân huệ) và kính trọng (người của vua), làng không gọi đứa bé
kia là thằng này thằng nọ nữa, mà gọi là ông Bộ. Rõ ràng
là đẻ ông Bộ thì làng được nhờ. Tôi chưa được xem tài liệu hay
nghe người nào khác giải thích về nguồn gốc và ý nghĩa của chữ
“Bộ” này. Thiết nghĩ đứa bé do Bộ Lễ quản lý, là người của Bộ,
của vua, nên được gọi là ông Bộ chăng?
Đến năm ông Bộ được 12 tuổi, Bộ Lễ yêu cầu
tỉnh sở tại lập thủ tục đưa đứa bé về Kinh. Cũng như số phận của
người con gái vô Nội, ông Bộ cũng một đi không trở lại. Cuộc
chia tay này thường là một vĩnh biệt. Theo hệ thống giao thông
cung trạm, ông Bộ được hộ tống về Huế, trình diện Bộ Lễ. Tại
đây, sau khi được kiểm tra lần cuối về tình trạng giới tính
(giám thật hay giám giả), nếu được chấp thuận, đứa bé được
chuyển vào cung cấm. Một thái giám giàu kinh nghiệm sẽ được giao
làm người đỡ đầu, có nhiệm vụ rèn cặp ông Bộ công việc sẽ
đảm đương, cùng những lễ nghi cung cách chốn cung đình để khi
trưởng thành có thể nối nghiệp đàn cha đàn anh.
Trong lịch sử Việt Nam, có lẽ thời vua Lê
chúa Trịnh là thời hoàng kim của các thái giám. Sử cho biết rằng
quan chế thời ấy được tổ chức thành ba ban thay vì hai ban như
các triều đại khác. Đó là ban quan Văn, ban quan Võ và ban Thái
giám. Thái giám thời ấy được dự vào việc cai trị chứ không phải
quanh quẩn trong cung cấm. Có nhiều thái giám được phong tới
tước Hầu và rất có thế lực trong triều đình .
Đời Nhà Nguyễn, thái giám có cuộc đời khiêm
tốn hơn. Tuy họ cũng làm quan – vì họ cũng có đẳng cấp và bổng
lộc – nhưng chỉ có mỗi một quyền, đó là quyền được phục vụ hoàng
gia trong cung cấm cho đến mãn đời. Do vị trí đăc biệt ở trong
cung nên thái giám được coi là hạng người có ưu thế biết rõ
chuyện thâm cung bí sử hơn bất cứ ai khác. Tiếc thay, cho đến
nay họ không để lại cho hậu thế một tiết lộ nào về những bí mật
ấy.
Trong quan niệm của Nho giáo, bất hiếu là
một tôi nặng, trong đó nặng nhất là không có con trai để nối dõi
tông đường (bất hiếu hữu tam, vô tự vi đại). Dĩ nhiên luân lý
của xã hội xưa không lấy đó làm điều để trách cứ mấy

Cổng chùa Từ Hiếu, bên trong
ông thái giám. Tuy nhiên, lúc đến cái tuổi
trăng tà bóng xế, ngó quanh ngó quẩn không thấy ai ở bên mình,
chạnh nghĩ tới cảnh hương tàn bàn lạnh khi nằm xuống, các thái
giám không khỏi buồn tủi.
Chính vì cảm thông điều này và để cho
các thái giám có nơi nương tựa phần hồn sau khi chết nên chùa Từ
Hiếu được vua ban sắc chỉ thành lập. Hầu hết các thái giám đều
được ký tự ở đó. Ngày trước, chùa Từ Hiếu được xem là một ngôi
chùa giàu ở Huế. Gọi rằng giàu là vì người ta thấy chùa có nhiều
ruộng đất làm hoa lợi, do các thái giám mua cúng vào chùa để
được hưởng hương khói, kinh kệ về sau .
Ở góc đường Đoàn Thị Điểm và Hòa Bình
(Đặng Thái Thân ngày nay) trong Thành Nội, ngay góc Đông Bắc của
Đại Nội, có một ngôi nhà cổ nằm cô độc sát bờ hồ, ít ai để ý. Đó
là Bình An Đường của ngày xưa, nằm trong danh sách quần thể kiến
trúc của kinh đô.
Như cái tên gọi của nó – nhà bình an –
ngôi nhà này chính là trạm điều dưỡng của cung nữ và thái giám.
Khi cung nữ hay thái giám bị bịnh nặng, họ được đưa ra điều trị
và an dưỡng tại đây, vừa tránh được lây lan vừa tiện cho thân
nhân ở lại chăm sóc thuốc men, cơm cháo. Vạn nhất, nếu không qua
khỏi thì cũng tiện cho thân nhân lo việc ma chay. Nếu cung nữ
hay thái giám chẳng may bị bạo bệnh, chết đột ngột ở trong cung,
họ sẽ lâm vào cảnh khá tủi thân, ấy là xác của họ sẽ được bó
chiếu, rồi người ta sẽ dùng dây đưa lên mặt hoàng thành phía
Bắc, gần cửa Hòa Bình, để đưa ra ngoài cho thân nhân nhận về lo
ma chay. Theo qui định thời đó, người không thuộc về hoàng gia
mà chết trong cung cấm thì không được đưa xác ra ngoài qua các
cửa hoàng thành. Xác của cung nữ hay thái giám phải “leo thành”
là vậy.

Bình-An Đường
Chế độ
quân chủ cuối cùng của Việt Nam chấm dứt vào tháng 8 năm 1945.
Tính ra nới tròm trèm 50 năm, thời gian quá ngắn để một vật dụng
trở thành món đồ cổ. Vậy mà những cái Huế rặt vừa nói xem ra đã
trở thành đồ cổ mất rồi. Ngay trên đất quê hương những lối nói
như thế cũng không còn thông dụng trong thế hệ trẻ nữa, nói chi
ở xứ người./
Võ Hương-An (11/1995)
Ý kiến, Phê bình xin gửi về :
vohuongan@khoahoc.net

(Sách
dày 256 trang- Nam Việt xuất bản 2006. Giá bán $15.00, bao gồm
bưu phí gởi đến nhà. Chi phiếu xin đề HANG HO, 14011 Milan St.,
Westminster, CA 92683)
Trở về Trang Chính |