|
Tôi
muốn nói về cuốn Hình ảnh Bảo Đại, các chính khách quốc gia
và Hội nghị Hương Cảng 1947
(HABĐ) của Nguyễn Khắc Ngữ, do
Nhóm Nghiên Cứu Sử Địa Việt Nam xuất bản ở Canada năm 1991.
Tôi tình cờ bắt gặp cuốn này tại Thư viện Martin Luther King
của thành phố San Jose (California), trong khu sách tiếng
Việt.
Tác giả là một nhà biên khảo Sử Địa quen thuộc
tại miền Nam từ trước 1975. Cuốn sách trình bày và chú
thích một số hình ảnh do tác giả sưu tầm được về các đề tài
như đã nêu ở tựa sách. Sách cung cấp những hình ảnh hiếm
thấy, hoặc chưa hề được xuất bản, nên đấy là những tài liệu
sống động, rất hữu ích cho các nhà biên khảo lịch sử và xã
hội Việt Nam. Điều đáng tiếc là vì một lý do nào đó – có
thể là do thiếu tài liệu – tác giả đã chú thích sai lạc,
đặc biệt là phần đầu, những hình ảnh về Huế, về triều Nguyễn,
rút ra từ những sách báo của Pháp xuất bản trong thời Pháp
thuộc.
E rằng điều này sẽ dẫn đến những hậu
quả sai lầm dây chuyền về sau nên tôi không ngại kiến thức
hạn hẹp, xin dẫn chứng chỗ sai và đề nghị nói lại cho đúng.
Hình 4. Vua Khải Định dùng bữa
( Sách đã dẫn, Sđd., tr.8 )

Nói rằng vua Khải Định đang dùng bữa thì không
sai -- vì vua đang ngồi tại bàn ăn, có người hầu -- nhưng
không chính xác, vì tài liệu cho biết đây không phải là bữa
ăn thường.
Hình này đã được đăng trong Bulletin des Amis du Vieux Hue
(B.A.V.H.), số 2, tháng 4-6 năm 1924, với ghi chú:
Planche LV.- Le Quarantenaire de S.M. Khai Dinh: Empereur
( Phụ bản 55: Lễ Tứ tuần vua Khải Định: Hòang đế). Đây là
một trong những phụ bản đính kèm bài viết của H. Délétie,
Episode des Fêtes du Quarantenaire de S.M. Khai Dinh
(Các giai đọan trong lễ Tứ tuần của vua Khải Định).
Bài viết cho biết lễ chính thức diễn ra ngày 29/9/1924 tại
điện Thái Hòa, nhưng ngày trước đó, vua đã
đãi tiệc các quan lớn trong Đại Nội. Ngòai ra, mục
Ephémérides Annamites (Lịch Triều đình Huế) của Hồ
Đắc Hàm đăng trên B.A.V.H., số 3, năm 1925, trang 203, có
ghi rằng: Ngày 28/9/1924, nhằm ngày 30 tháng 8 năm Khải Định
thứ 9, vào lúc 10 giờ sáng, vua đãi tiệc các quan tại điện
Cần Chánh .
Như vậy, dù không có chú thích rõ ràng
ảnh chụp vào lúc nào trong dịp lễ Tứ tuần đại khánh năm
1924, nhưng những bằng cớ gián tiếp vừa nêu cho chúng ta
hiểu rằng đây là hình chụp vua Khải Định đang chủ tọa tiệc
khỏan đãi các quan lớn của triều đình Huế tại Điện Cần Chánh
vào dịp mừng thọ nhà vua được 40 tuổi
(Tứ tuần đại khánh). Kèm theo đây là hình chụp cảnh các
quan đang dự tiệc vào dịp đó, cũng tại điện Cần Chánh, để
làm mạnh thêm dẫn chứng của tôi.
Về
việc dùng bữa của vua Khải Định, tôi có ghi lại trong bài
viết Chuyện cung đình nghe kể lại ( niên san Tiếng
Sông Hương, Dallas, 1997. Phụ lục 1 trong sách này
hoặc
www.khoahoc.net/baivo/vohuongan/chuyencungdinhnghekelai.htm ) dựa vào
ký ức của thầy tôi, một Thị vệ của vua Khải
Định.
Hình 5. Từ Cung
Hoàng Hậu vợ vua
Khải Định (Sđd. tr. 9)

Chú
thích này có hai điểm sai.
Thứ nhất, người trong hình không phải là bà Từ Cung, vợ thứ hai của vua Khải Định, thân mẫu của vua Bảo Đại . Người trong hình là bà Hồ Thị Chỉ, con gái của quan Học
Bộ Thượng Thư Hồ Đắc Trung , được vua Khải
Định cưới làm chánh phi (vợ chính) vào tháng 12 năm 1917, và
phong ngay làm Nhứt giai Ân Phi . Người
Huế thường gọi là Bà Ân. Bà này không có con. Trong bài viết
Chuyện cung đình nghe kể lại (Tiếng Sông Hương, Dallas,
1997) tôi có viết vài dòng về cuộc hôn nhân của bà.
Trên website :
http://nguyentl.free.fr/index.htm, một hình tương tự đã được
đưa lên, với chú thích ban đầu khá mơ hồ, “Một bà hòang hậu”,
nhưng sau đó, có lẽ nhờ có thông tin mới, nên tác giả đã sửa
lại và ghi rõ rằng “Bà Ân phi Hồ Thị Chỉ, vợ của vua Khải
Định (theo ông Nguyễn Duy Chính ở Việt Nam) ” Sự cập nhật
đó rất đáng quí.
Thứ hai, sai lầm về cách gọi. Nói
“Từ Cung Hòang Hậu, vợ vua Khải Định “ là không được
chỉnh. Lý do sẽ được trình bày rõ ràng khi nhận xét về Hình 12,
hình của bà Từ Cung thật.
Hình 12. Hoàng tử Vĩnh Thụy
và mẹ là Hoàng
Hậu Từ Cung
(Sđd.,
tr.14)
Và , một cách chính danh, thì triều Nhà Nguyễn
không có nhân vật nào gọi là Hoàng Hậu Từ Cung cả.
Triều Nhà Nguyễn có 13 đời vua, chỉ có hai đời lập
Hòang Hậu, đó là vua Gia Long ( đã lập bà chánh phi họ Tống, mẹ
của Hòang tử Cảnh, làm Hoàng hậu vào năm 1806, tức Thừa Thiên
Hoàng Hậu ) và vua Bảo Đại
(lập Nam Phương
Hoàng). Còn các đời vua khác, đều
tuân theo qui định của vua Minh Mạng
, không lập hoàng hậu. Vợ chính thức được phong tới bậc Phi mà
thôi, ví dụ bà Ân Phi, vợ chính của vua Khải Định, như đã nói ở
trên.
Vua Khải Định khi chưa làm vua, là một ông hoàng với
tước Phụng Hóa Công, đã ăn ở với bà Hoàng Thị Cúc, xuất thân
bình dân, không cưới hỏi, sinh ra một người con trai vào năm
1913, đặt tên là Vĩnh Thụy. Năm 1916, sau khi lên làm vua, vua Khải Định đã phong cho bà
Hoàng Thị Cúc làm Tam giai Huệ Tân (1917), rồi thăng dần lên Nhị
giai Hữu Phi (1918), và cuối cùng là Nhất Giai Huệ Phi
(1923). Bà Hồ Thị Chỉ tuy là kẻ tới sau (đám cưới vào tháng 12
năm 1917) nhưng danh nghĩa to lớn, vì xuất thân thế gia, lại
được triều đình chính thức cưới hỏi, nên được phong ngay Nhất
giai Ân Phi, làm vợ chính.
Chỉ sau khi làm vua ( sau1925) vua Bảo Đại
mới tấn
tôn mẹ làm Đoan Huy Hòang Thái Hậu
. Đó là
tước vị chính thức, còn trong đời sống thường thì giới cung đình
cũng như ngoài dân chúng, gọi bà là Đức Từ Cung, hay có khi chỉ vắn tắt là Đức Từ, một cách đơn
giản để gọi bà mẹ của ông vua đang tại vị. Điều đó cho ta hiểu
rằng chỉ sau khi vua Khải Định mất (1925), danh xưng Từ Cung
mới xuất hiện.
Vì vậy, tôi nghĩ , nếu nói về mối quan hệ giữa
hai người trong hình, thì nên chú thích : Hòang tử Vĩnh
Thụy
và mẹ là bà Huệ Phi, tức Đoan Huy Hòang Thái Hậu
sau này (tục gọi là Đức Từ Cung
).
Hình 13. Hoàng tử
Vĩnh Thụy
ngồi
với
bà nội, Hoàng Thái Hậu, và vua cha, Hoàng đế Khải Định (Sđd.,
tr.15)

Cách chú thích tấm hình này cũng
không được chỉnh, sơ suất cũng như trong trường hợp Hình 12 ở
trên.
Nên
viết: Vua Khải Định, với mẹ ruột, Khôn Nghi Hòang Thái Hậu(
tục gọi là Đức Tiên Cung
) và con là Hòang tử Vĩnh Thụy
.
Vua Khải Định có hai bà mẹ. Khi lên làm vua, ông đã
tấn tôn mẹ đích (vợ chánh của vua Đồng Khánh)
làm Khôn Nguyên Hoàng Thái Hậu, thường gọi là Đức Thánh Cung ; và tấn tôn mẹ ruột (vợ thứ của vua Đồng Khánh)
làm Khôn Nghi Hoàng Thái Hậu, thường được gọi là Đức Tiên Cung
. Khi lên làm vua, vua Bảo Đại đã
tấn tôn hai bà nội lên làm Thái Hoàng Thái Hậu. Do đó, nên lấy
vua Khải Định làm chuẩn để chú thích thì nghe thuận tai hơn.
Hình 23. Tượng thần
bằng đồng (Sđd., tr.20)

Đây
là tượng đồng nhân, nghĩa là tượng người bằng đồng , dùng
trong lễ Tế Nam Giao của triều Nguyễn, chứ chẳng
phải tượng thần nào cả. Hình này đã xuất hiện hai lần trong tập
san B.A.V.H. , số chuyên đề về Tế Nam Giao (Số 2 năm 1915, và số
1 năm 1936).
Theo điển lệ Nhà Nguyễn, bốn ngày trước ngày tế, Bộ
Lễ rước tượng đồng nhân vào hòang cung hoặc trai cung
(nhà tại đàn Nam Giao để vua tạm trú chờ cử hành
lễ tế) để vua bắt đầu một cuộc trai giới ba ngày, giữ mình trong
sạch, chuẩn bị lễ tế thiêng liêng. Tượng là một hình người mặc
lễ phục, đứng thẳng, hai tay chắp lại, cầm thẻ bài có khắc hai
chữ “trai giới”. Trong thời gian trai giới, tượng được
để trước mặt vua, có công dụng giúp cho vua tập trung nghĩ
tưởng điều trong sạch.
Hình 25 Kỳ đài khi đòan kỵ binh Hoàng gia diễn hành
(Sđd., tr.21)
Kỳ đài, tức Cột Cờ, như dân Huế thường gọi, là đúng,
nhưng tôi tìm hòai mà chẳng thấy cái gọi là “đòan kỵ binh Hoàng
gia” ở đâu cả. Trên các bản đồ vẽ kinh thành Huế cũng như trên
các bài viết, khi nói về Kỳ đài, người Pháp thường ghi là “le
Cavalier du Roi” , và đó là lý do có chú thích “đòan kỵ binh
Hòang gia”.
Tác giả không cho biết trích từ tài
liệu nào. Căn cứ vào bài viết về lễ Tứ tuần đại khánh của vua
Khải Định (1924) cùng những hình ảnh đi kèm đăng trong B.A.V.H.,
số 2, năm 1925 -- như đã dẫn, khi nhận xét về Hình 4 ở trên
-- có thể nói không sợ sai rằng đó là cảnh dân chúng kinh
đô đi xem triển lãm các lễ vật do các quan và các địa phương
dâng mừng nhà vua vào dịp lễ Tứ tuần.
Vào dịp lễ này, quan lại và các
địa phương đều có dâng lễ vật để mừng thọ. Nhà vua cho dựng tám
cái nhà theo kiểu xưa, chia làm hai dãy, tòan bằng cót nhưng
sơn vẽ như thiệt, ngay truớc sân Ngọ Môn (sau Kỳ
đài), để chưng bày các lễ vật đó, và mở cửa cho dân chúng vào
xem.
Sau đây là hình tòan cảnh cuộc
triễn lãm, trích từ B.A.V.H, trong số báo đã dẫn.

Hình 38. Quân vũ
(múa quân) (Sđd.; tr. 30)
Tác giả
không ghi xuất xứ tấm hình, nhưng tôi tin rằng đây là hình chụp
đội múa võ đang chuẩn bị trình diễn để dâng cúng trong lễ Tế Nam
Giao
.
Trong suốt mấy chục năm tồn tại trên kinh đô Huế,
tập san B.A.V.H. đã hai lần dành hai số cho chuyên đề Tế Nam
Giao , do hai cây bút chủ lực là R. Orband và L.
Cadière phụ trách. Lần thứ nhất đăng ở số 2 năm 1915, và lần
thứ hai tái bản có bổ sung, đăng trên số1 năm 1936. Bài viết và
hình ảnh rất giá trị. Trong các hình ảnh đó có hình tương tự
như trên.

Bộ phận
ca-vũ-nhạc của Nhà Nguyễn được thành lập, ban đầu gọi là Thanh
Bình Thự, sau đổi tên là Võ Can Thự, rồi cuối cùng là Ban Ba Vũ
(từ đời Đồng Khánh
, 1885-1889, trở
đi). Ca-múa-nhạc không phải chỉ để giải trí cho Hòang gia mà
còn là một bộ phận không thể thiếu trong nghi lễ của triều
đình. Trong Tế Nam Giao
, tùy giai đọan,
phải có múa võ và múa văn.
“Vũ sinh chia làm hai đội, múa võ trước, múa văn sau. Đội
võ 64 người, 8 hàng, người cầm đầu mang cờ Tiết, đội
văn cũng chừng ấy người, người cầm đầu mang cờ Mao. Vũ sinh đội
võ một tay cầm mộc sơn son thếp vàng, một tay cầm búa (bằng gỗ)
vừa hát vừa múa, lên xuống trong vị trí 8 hàng hay di chuyển
thành đội hình tám hướng.” (PHƯƠNG ANH TRANG, Vang bóng một
thời: Các điệu múa cung đình, Tiếng Sông Hương, Dallas,
1994, p.114)
Vì vậy, đề nghị nên chú thích rằng:
Ban Ba Vũ múa võ trong lễ Tế Nam Giao
năm . .
. thì có lẽ rõ ràng hơn là nói rằng “quân vũ” hay “múa quân”, vì
chữ dùng không đúng. Hình sau đây trích từ B.A.V.H, cho thấy
một vũ sinh trong trang phục múa võ cùng các trang cụ cần thiết.

Hình 39. Ninh điện,
nơi bà Từ Cung
Hoàng Thái Hậu ở.
Sau điện này bị hư, bà phải sang ở Vạn Thọ cung (Sđd. tr. 31)

Hình này được chú thích khá dài,
chứng tỏ tác giả nắm được nhiều thông tin, nhưng sai lầm hòan
tòan về nhiều điểm; thật đáng tiếc.
Thứ nhất, Lâu đài trong hình không phải là Ninh
điện, mà là cung An Định
; dòng sông
trong hình là sông An Cựu. Nhà nhiếp ảnh đã đứng
dưới sông chụp lên để lấy tòan cảnh cung An Định. Người Huế,
nếu quen thuộc cố đô, nhìn bức hình này có thể nhận diện được
ngay. Cái tháp nổi trên sông cho phép chúng ta suy đoán rằng
hình này được chụp vào một dịp lễ nào đó khá quan trọng nên có
trang hoàng cờ xí và có kết thuyền hoa.
Tiền thân của cung An Định là phủ
Phụng Hóa, do vua Đồng Khánh (1885-1888) xây
cho hoàng trưởng tử là Phụng Hóa Công Bửu Đảo. Sau khi trở
thành vua Khải Định (5/1916), nhà vua đã cho xây dựng lại, to
lớn, đẹp đẽ hơn, theo kiểu thức phối hợp Âu-Á, với vật liệu và
kỹ thuật xây dựng mới du nhập từ phương Tây, và đổi tên thành An
Định Cung, dành cho Đông cung Thái tử Vĩnh Thụy .
Thứ hai, trong danh mục các cung điện của cố đô
Huế không có một kiến trúc nào mang tên là Ninh Điện hay Vạn Thọ
Cung cả.
Chúng ta thường nghe nói đến Tam
cung lục viện. Về mặt kiến trúc, triều Nguyễn quả có xây ba
cung và sáu viện. Ba cung là Khôn Thái , Trường Sanh
và Diên
Thọ, trong
đó, cung Khôn Thái cùng sáu viện đều nằm trong Tử Cấm thành
. Sáu viện là Thuận Huy, Đoan Huy, Đoan Tường,
Đoan Trang, Đoan Thuận, và Đoan Hòa.
.
Cung Trường Sanh xây từ đời Minh
Mạng (1822), ban đầu có tên là Trường Ninh, sau
vua Khải Định đổi làm Trường Sanh.
Cung Diên Thọ
xây từ đời Gia Long (1803), ban đầu có tên là
Trường Thọ, sau nhiều lần đổi tên (Từ Thọ, Gia Thọ . . . Muốn
rõ, xin xem Đại Nam Nhất Thống Chí, quyển Kinh sư) qua các
triều, cuối cùng mang tên Diên Thọ dưới triều Khải Định. Cung
này hiện đang còn nguyên vẹn tại Đại Nội.
Khi vua Khải Định mới lên ngôi, bà Từ Cung , lúc đó mới chỉ là Tam giai Nghi Tân, chưa đủ tư cách để
ở cung Khôn Thái. Cung Diên Thọ bấy giờ dành cho
bà Thánh Cung (mẹ đích của vua Khải Định), cung
Trường Sanh dành cho bà Tiên Cung (mẹ ruột của vua Khải Định). Bà Thánh Cung mất năm
1940, bà Tiên Cung mất năm 1944 . Thế có nghĩa là bà Từ Cung
chỉ có thể ở cung Trường Sanh sau năm 1940, và ở cung Diên Thọ
sau năm 1944, theo thời gian mà đuợc đôn lên, khi các người ở
trước đã ra đi. Điều tôi biết chắc là sau khi vua Bảo Đại thóai vị vào tháng 8 năm 1945, bà về ở tại cung An
Định , sau đó, khi Cựu hòang Bảo Đại làm Quốc
Trưởng , bà lại vào ở cung Diên Thọ vào năm 1950, tại lầu Tịnh
Minh. Sau khi Thủ tướng Ngô Đình Diệm truất phế Quốc Trưởng Bảo
Đại (1955), cung An Định bị tịch thu, bà Từ Cung xây một biệt
thự khác gần đấy để ở cho tới ngày mãn phần. Nói tóm lại, tùy
theo từng thời kỳ, bà Từ Cung quả có ở tại các cung Trường Sanh,
Diên Thọ và An Định, nhưng chắc chắn không hề và không thể ở
Ninh Điện và Vạn Thọ Cung vì không có hai cơ sở đó, dù chỉ là
cái tên.
Cung
Trường Ninh bị hư hỏng nên được triệt hạ năm 1907, sau đó Bộ
Công đã thiết kế để xây dựng lại với tiện nghi mới. Sau khi
hòan tất đâu vào đấy, bà mẹ của vua Duy Tân đã dọn
vô ở ngày 1/10/1914 ( B.A.V.H., số 4, 1914, p.333). Có lẽ tác
giả biết được nguồn tin này nên mới ghi rằng “sau điện này bị
hư” chăng?
Hình 40. Lính Thị vệ
canh phòng Hoàng
thành Huế. Ở góc là
Binh
Bộ Thượng thư Nguyễn Hữu
Bài
(Sđd.; tr. 31)
Ở góc
phải của ảnh, đúng là hình của Thượng thư Bộ Binh Nguyễn Hữu Bài
. Nhưng nói rằng lính Thị vệ canh phòng Hòang thành Huế là sai hòan tòan, không biết gì về
qui chế Thị vệ của triều Nguyễn.
Bằng hiểu biết riêng của tôi thì hình đó là cảnh
lính Thân binh đang dàn nghi trượng (tàn, lọng, cờ . . . ) trong
một buổi lễ long trọng nào đó, có sự hiện diện của vua, tại
Huế.

Trong quan chế Nhà Nguyễn, không có lính Thị Vệ, vì
Thị vệ thuộc về hàng quan Võ đặc biệt, lập thành
một bộ phận riêng trong Đại Nội, gọi là Thị Vệ Xứ. Trong bài
viết Chuyện Cung đình nghe kể lại (đã dẫn ở Hình 4), tôi
đã có dịp nói về công việc của Thị vệ. Vai trò quan trọng nhất
của Thị vệ là bảo vệ an ninh cho vua, ngoài ra, như Khâm Định
Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, quyển 122, cho biết Thị vệ xứ đảm nhận
công việc đóng ấn, kiểm sóat thẻ bài, hầu hạ vua trong công việc
cũng như cuộc sống riêng, truyền đạt mệnh lệnh của vua, truyền
đưa các phẩm vật, tiếp nhận chương sớ v.v. Thị vệ có năm bậc,
thấp nhất là Ngũ đẳng và cao nhất là Nhất đẳng.
Quan chế Nhà Nguyễn chia làm hai ban là Văn và Võ.
Mỗi ban lại chia làm 9 bậc, thấp nhất là cửu phẩm, cao nhất là
nhất phẩm. Mỗi phẩm lại chia làm hai trật, là chánh và tòng.
Ngũ đẳng Thị vệ là quan Võ, hàng chánh lục phẩm.
Đối với quan Văn, đó Hàn lâm viện trước tác, Đồng Tri Phủ, Tri
huyện. Còn Nhất đẳng Thị vệ là chánh tam phẩm, ngang hàng với
Thị Lang, Bố Chính, Phủ Dõan bên Văn. Vì vậy không thể nói
“lính Thị vệ canh phòng Hòang thành Huế” được, vì Thị vệ thuộc
hàng sĩ quan, có lính để sai khiến.
Như đã nói từ đầu, vì sợ sự sai lầm này sẽ dẫn đến
sai lầm dây chuyền mai sau nên tôi mạo muội lên tiếng. Ước mong
có chút hữu ích chung.
VÕ HƯƠNG-AN, 7/2004
Tạp chí NGUỒN, số 15, San Jose, California,
6/2005
Trở về Trang Chính |