|
Thập niên 1960, Nhật Bản có một cuốn phim
đen trắng rất nổi tiếng, phim Rashomon, Lã Sinh Môn.
Phim nổi tiếng không vì tài tử xuất sắc, tiếng tăm gạo cội, cũng
không vì hình ảnh đẹp, dàn dựng công phu tốn kém, mà vì cốt
chuyện thâm thúy. Dưới cổng Rashomon một chiều mưa tầm tã, mấy
người trú mưa cùng kể về một vụ án mạng nhưng không ai giống
ai, vậy thì sự thật ở chỗ nào? Thế mới biết bắt đúng sự thật
không phải dễ, huống hồ là sự thật lịch sử, những việc khi chúng
ta nói tới đã cách chúng ta biền biệt cả hàng chục, hàng trăm
hay hàng ngàn năm. Tam sao thất bản, nếu có, cũng là chuyện
thường, nhất là khi người kể, người viết không nắm bắt được dữ
kiện, lại phóng chiếu câu chuyện bay bổng theo trí tưởng tượng
của văn chương. Tôi nhớ đến những hòn bi mù-u thời thơ ấu và
trận giặc mù-u lãng đãng mây khói trong không khí cổ tích
Lần đầu
tiên được thoát khỏi sự canh chừng của mệ ngoại để theo lũ bạn
hàng xóm mặc quần xà-lỏn, quẹt mũi ngang, chạy rông từ xóm Tả
Tam trong Thành Nội (Huế) lên Cầu Đất, ra đường Ngọ Môn (23
tháng 8), đường Cột Cờ (Ông Ích khiêm), lượm trái mù u về làm
bi để đánh bi mo, đánh đáo, quả là một cuộc phiêu lưu tuyệt
vời. Con nít, đứa nào lại không thích đánh bi, nhưng tiền đâu
để mua bi thủy tinh như tụi con nhà giàu? Những trái mù u chín
vàng, rụng xuống cỏ, lâu ngày mưa nắng làm cho lớp vỏ ngoài tróc
đi, còn lại cái hột tròn có vỏ cứng, con nhà nghèo lượm về làm
bi, tuy không đẹp như bi thủy tinh nhưng chơi cũng hết ý như ai.
Khi tôi vỗ vào hai cái túi áo cổ kiềng đầy mù-u để khoe thành
tích phiêu lưu với mệ ngoại, bà bình luận ngay:
-Hồi
xưa, mấy ông tướng của mình dùng mù-u ni để đánh trận với Tây
đó. Giết Tây chết như rạ.
Nghe
chuyện lạ, tôi hỏi ngay:
-Bộ mấy
ông dùng mù u làm đạn để bắn Tây hả mệ?
-Không,
nghe kể là mấy quan tướng của mình thấy Tây không có đầu gối
(?!), khi đi, hai chưn cứ thẳng băng như cột tre, nếu ngã té
chắc chắn không đứng dậy được. Bởi rứa, mấy quan tướng sức
dân nạp mù-u, rồi sai quân rải ra đầy đường. Tây đi giày, đạp
nhằm mù-u, trượt té, nằm thẳng cẳng. Quân mình phục sẵn, tha hồ
đổ ra đánh giết, Tây thua.
Lớn
lên, cũng có lúc nghe một đôi người cao giọng kể về thành tích
trận mù-u đánh Tây, nhưng khi hỏi đó là trận nào, xảy ra ở đâu,
thì không người nào nói cho ra vạch. Đọc trong sử, cũng không
thấy có chỗ nào nhắc đến vụ mù-u, lòng cứ vẩn vơ thắc mắc,
chuyện đánh giặc giữ nước mà nghe như đùa. May mắn, về sau
chuyện này lại được học giả Thái Văn Kiểm nhắc đến trong cuốn
Cố Đô Huế rất nổi tiếng của ông.
“Ngày
nay trong văn chương bình dân còn truyền lại câu ca dao:
Văn
Thánh trồng thông
Võ
Thánh trồng bàng
Ngó
vô Xã Tắc: hai hàng mù u
“Câu
này nhắc lại lại một chiến công dưới thời vua Tự Đức. Khi quân
Pháp đổ bộ lên cửa Thuận An, kéo binh vào thành Huế, quân ta mai
phục hai bên đường vào đàn Xã tắc, bèn lấy trái mù u đổ ra đầy
đường. Quân Pháp đi giày da, đạp lên mù –u, nhào té đảo điên.
Quân ta thừa thế nhảy ra đánh áp lá cà làm cho quân Pháp phải
chạy tán loạn. Vì vậy mới gọi là trận giặc mù u. Ngày nay, hai
bên đường xã tắc, còn hai hàng mù- u (callophylum) cao ngất
nghểu thỉnh thoảng rụng trái trên vai người đi đường, như để
nhắc nhở một trang sử oanh liệt.”(Thái Văn Kiểm, tr.3)
Đã gọi
là “trang sử oanh liệt” thì người dân nào lại không lấy làm hãnh
diện về sự nghiệp giữ nước của tổ tiên mình, huống chi đối với
tôi, là người địa phương, nơi diễn ra chiến tích đó. Phải tìm
hiểu thì hãnh diện mới có căn chứ. Nhưng…vậy mà không phải vậy.
Thời Tự Đức, Pháp đánh Huế mấy lần?
Nước Pháp liên minh với Tây Ban Nha, mở đầu cuộc xâm
lăng Việt Nam lần đầu tiên vào ngày 1/9/1858 tại Đà Nẵng, dưới
thời vua Tự Đức (trị vì :1847-1883). Năm 1862, sau khi mất ba
tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường), triều
đình Huế phải ký Hòa ước Nhâm Tuất, nhường ba tỉnh đã mất cho
Pháp. Từ đó cho đến khi băng hà vào năm 1883, vua Tự Đức còn ký
thêm một hòa ước nữa, đánh dấu thêm một bước thụt lùi của nền
độc lập. Đó là Hòa ước Giáp Tuất ký năm 1874, sau khi thất thủ
thành Hà Nội lần thứ nhất vào năm 1873, tướng thủ thành là
Nguyễn Tri Phương bị thương, bị bắt nhưng đã can trường nhịn đói
chịu đau mà chết; thêm vào đó lại mất thêm mấy tỉnh miền trung
du.
Lịch sử cho thấy trong suốt thời gian vua Tự
Đức trị vì, quân Pháp chưa bao giờ tấn công Huế - ngay
cả tấn công cửa Thuận An, cổng ngỏ vào Huế, cũng chưa, nói chi
tới việc quân Pháp vô trong kinh thành, rồi tiến lên đàn Xã Tắc
giữa hai hàng mù-u để rồi bị phục binh của ta đánh giết!
Nhà
Nguyễn lập ra đàn Nam Giao để tế Trời, (Hiệu Thiên Thượng Đế)
lập ra đàn Xã Tắc để tế thần Đất (. Hai chữ xã-tắc cũng
chỉ về đất nước, sơn hà xã tắc). Vì vậy, thuở xa xưa bên
Tàu, hễ chiếm được đàn xã tắc của nước nào có nghĩa là làm chủ
được nước đó, nhưng đến thời Tây qua xâm lăng Việt Nam thì đâu
có cần làm vậy. Tây không cần chiếm đàn Xã Tắc hay đàn Nam
Giao, lại còn ủng hộ việc tế đàn Nam Giao, đàn Xã Tắc, mà Việt
Nam vẫn bị mất nước non cả trăm năm! Đàn Xã tắc chưa bao giờ là
một mục tiêu quân sự trong suốt quá trình xâm lăng của Pháp ở
Việt Nam.
Có hay không trận mù-u? Một chút lịch sử
Vậy thì
không có trận mù-u?
Có chứ. Nhưng không phải như Hương Giang Thái Văn
Kiểm đã dẫn. Nó thuộc về một biến cố khác, không ở dưới thời
vua Tự Đức, mà cũng không dính líu gì đến đàn Xã Tắc. Nó là một
phần nhỏ trong biến cố thất thủ kinh đô năm Ất Dậu, 1885, thời
vua Hàm Nghi (1884-1885). Tôi xin trích của Trần Trọng Kim môt
đoạn sử sau đây để bạn đọc có chút ý niệm về biến cố:
“
[1884] Nhưng ở các nơi, những quan cũ ta còn chống nhau với quân
Pháp, mà ở Huế thì Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết chuyên
chế đủ mọi đường. Tháng 9 năm Giáp Thân (1885), hai ông ấy đem
ông Dục Đức [thân phụ vua Thành Thái] giam vào nhà tối, không
cho ăn uống để chết đói, đổ tội cho là thông mưu với giặc. Hai
ông ấy lại mộ quân tập lính và lập đồn Tân Sở ở gần Cam Lộ thuộc
tỉnh Quảng Trị, đem đồ báu ngọc vàng bạc ra đấy, phòng khi có
việc gì thì đem quân ra đó để chống nhau với quân Pháp. Cũng vì
các ông ấy có ý muốn kháng cự, cho nên quân Pháp đã chiếm giữ
Mang Cá ở thành Huế và lại bắt bỏ súng đại bác ở trên thành đi.
Ngày 18
tháng 4 năm Ất Dậu (1885), thống tướng De Courcy sang tới Bắc
kỳ. Bấy giờ sự hòa ước với Tàu đã xong, bởi vậy thống tướng mới
định vào Huế bắt Triều đình ta phải chịu quyền bảo hộ. Thống
tướng đến Hà Nội đã nói chuyện với các người Pháp và những người
Nam ra làm quan với Pháp, đã biết tình hình ở trong Huế là thế
nào. Đến ngày 19 tháng 5 thì thống tướng đem non 500 quân đi tàu
vào Huế. Triều đình cử hai quan đại thần theo viên Khâm sứ Pháp
là ông De Champeaux ra đón thống tướng ở cửa Thuận An. Sáng hôm
sau, thống tướng cho đòi hai quan phụ chính sang bên Khâm sứ để
định việc vào yết kiến vua Hàm Nghi.
Hai ông ấy
lúc bấy giờ còn đang lừng lẫy, việc Triều chính ở trong tay mình
cả, mà thấy thống tướng làm sự đường đột như thế, cũng đã tức
giận lắm…Ông Tường thì là một tay giao thiệp giỏi, lại có nhiều
mưu cơ và tài nghề ứng biến, cho nên lúc ấy chỉ có một mình ông
Tường sang ra mắt quan thống tướng De Courcy mà thôi, còn ông
Thuyết thì cáo bệnh không sang.Thống tướng thấy vậy, bảo đau
cũng phải khiêng sang.Tôn Thất Thuyết thấy quan Pháp ra oai như
thế, phần thì tức giận, phần thì sợ, lại nhân lúc bấy giờ mới có
điềm động đất, mới nghĩ bụng rằng đấy là điềm trời xui khiến bèn
quyết ý sửa soạn để đánh nhau.
Thống
tướng De Courcy định đến hôm vào điện yết kiến vua Hàm Nghi, thì
phải mở cửa chính, không những chỉ để quan nước Pháp đi mà thôi,
nhưng lại phải để cả quân lính cùng đi vào cửa ấy. Triều đình
thấy điều ấy trái với quốc lễ, xin để thống tướng đi cửa giữa,
theo như sứ Tàu ngày trước, còn quân lính thì xin đi cửa hai
bên, thống tướng nhất định không chịu.
…Trưa hôm
22 các quan ở Cơ Mật Viện sang Khâm sứ xin vào bàn định cho xong
việc đi cửa chính, cửa bên, nhưng thống tướng De Courcy không
tiếp. Bà Từ Dụ Thái Hậu sai quan đem đồ lễ vật sang tặng thống
tướng, thống tướng cũng khước đi không nhận. Các quan thấy thống
tướng làm dữ dội như vậy, đều ngơ ngác không hiểu ra ý tứ gì mà
khinh mạn Triều đình đến như thế. Tôn Thất Thuyết càng thấy thế
càng lấy làm tức giận, thôi thì sống chết cũng liều một trận,
họa may trời có giúp kẻ yếu hèn gì chăng? Ấy là lúc tướng sĩ lúc
bấy giờ ai cũng tưởng như thế, cho nên mới định đến nửa đêm khởi
sự phát súng bắn sang Khâm sứ và đánh trại lính của Pháp ở
Mang Cá [VHA nhấn mạnh]
Chiều hôm
ấy thống tướng làm tiệc đãi các quan Pháp. Tiệc vừa tan xong,
thì súng ở trong thành nổ ra đùng đùng, rồi những nhà ở chung
quanh
dinh Khâm sứ cháy, lửa đỏ rực trời. Quân Pháp
thấy bất thình lình nửa đêm
quân ta đánh phá như vậy, chưa biết ra thế nào, chỉ yên lặng mà
chống giữ. Đến sáng ngày 23
[4/7/1885] mới tiến lên đánh, thì quân ta thua chạy.”
Quân Pháp
phản công bằng hai mũi: mũi thứ nhất, phát xuất từ Mang Cá; mũi
thứ hai từ Tòa Khâm, băng qua sông Hương. Cả hai mũi
đều nhắm Đại Nội làm mục tiêu. Khoảng 7 giờ rưỡi sáng, vua Hàm
Nghi và tam cung lục viện thoát ra Đại Nội bằng cửa Chương Đức ở
phía tây, rồi sau đó ra khỏi kinh thành bằng Cửa Hữu, bắt đầu
một cuộc hành trình đầy gian nan. Tám giờ sáng, quân Pháp treo
cờ trên Kỳ đài trước Ngọ Môn, họ hoàn toàn làm chủ kinh đô và họ
không đụng gì đến đàn Xã Tắc.
Nhân
chứng hiếm hoi của trận mù-u
Sử ghi vắn tắt về biến cố Ất Dậu, thì làm sao biết
được mù-u đã được sử dụng ở đâu và khi nào? Ngày nay, khó ai
trả lời được câu hỏi này nếu tác giả Lô Giang Tiểu Sử đã
không chịu khó ghi lại đôi dòng cho con cháu trong nhà. Lô
Giang Tiểu Sử là hồi ký của cụ Thượng thư hưu trí Nguyễn Văn
Mại, hiệu Tiểu Cao, viết bằng chữ Nho, đã được con trai là ông
Nguyễn Hy Xước dịch ra Việt ngữ năm 1947, in ronéo, lưu hành nội
bộ gia đình. Một vài thân hữu của gia đình may mắn được đọc hồi
ký này, đã nhận ra rằng ngoài chuyện cũ của cá nhân và gia đình
được ghi lại, Lô Giang Tiểu Sử còn là một nguồn sử liệu hữu ích
vì chứa đựng nhiều chi tiết liên quan tới lịch sử Việt Nam vào
cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX; vì vậy, bản phóng ảnh Lô Giang
Tiểu Sử cũng được lưu hành giữa một số người nghiên cứu sử xuất
thân từ Huế. Cụ Tiểu Cao đỗ Phó bảng khoa thi Hội năm Ất Dậu
(1885). Ngày 15 tháng Năm (âm lịch) vào thi Đình, đang chờ kết
quả thì xảy ra biến cố thất thủ kinh đô vào sáng ngày 23 tháng
Năm, Ất Dậu (4/7/1885).
Xin mời bạn đọc vui lòng xem bản đồ in kèm bài này
để nắm vững những địa danh được nói đến, để thấy sự việc rõ hơn.

Ngay từ
ngày 22 tháng 5, cống sĩ
Nguyễn Văn Mại đã ghi nhận rằng :
“Lúc
đó, ta vào thi Đình xong, cùng với anh Trần Đào Tiềm đến Bộ Lễ
để chờ kết quả kỳ thi, thì thấy trong thành [kinh thành], từ
Trấn Bình Đài [Mang Cá] cho đến Lục Bộ, hai bên đường đều đào
hào, lính các trại đều mang gươm súng sẵn sàng, trước các trại
lính đều chất đầy những thùng chứa cột chuối để phòng bị.
Hai bên đường từ Trấn Bình Đài mà ra chất đầy những đống trái
bàng và mù - u ”(VHA nhấn mạnh) (tr. 35)
…“ 7
giờ đêm hôm ấy, trước khi giao chiến thì Tôn Thất Thuyết mật
phái một toán quân đến vây Tòa Sứ, còn quân lính trong thành đều
chủ lực về mặt bắc Trấn Bình Đài, và để lại trại không. Đến giờ
bắt đầu giao chiến, quân ta bắn trước mà quân Pháp chỉ bắn trả
mà thôi…Trong thành, quân ta bắn tiếp vào Trấn Bình Đài từ 8 giờ
đêm cho tới 1 giờ sáng, nghe trong đài ít bắn ra, quân ta áp vào
và la to: đã áp vào Trấn Bình Đài rồi. Tiếng la như sấm. Không
ngờ khi quân ta bắn thì quân Pháp đều núp xuống hầm để đợi, chỉ
thỉnh thoảng bắn trả ít thôi. Đến 3 giờ sáng quân Pháp nghe
chừng quân ta bắn sưa ra và sắp áp vào Trấn Bình Đài thì họ vùng
dậy bắn cả một loạt, quân ta thuốc đạn ít, không địch nổi, đua
nhau mà chạy, quân Pháp đuổi theo và bắn chỉ thiên.”
“Quân ta nghe tiếng súng không biết ngã nào, đạp nhau mà chết
trong hào hoặc giữa đường, người trước bước trên mù-u té ngã,
người sau đạp lên mà chết hàng ngàn. Trước kia đào hào, rải
mù-u lên đường, chủ ý là để hại quân Pháp, mà hóa ra làm hại
quân ta. Tại các cửa thành, trai gái già trẻ, người mang
của, kẻ bế con, tranh nhau mà ra, người trước ngã, người sau đạp
lên, thây liệt đầy đường…” (tr. 35-36)
Những dòng vắn tắt của Tiểu Cao đã làm sáng tỏ những điểm sau:
-
Quả thật có
trận mù –u xảy ra vào đêm 22 rạng ngày 23/5 Ất Dậu, 1885;
-
Nơi chiến
trận xảy ra là quãng đường từ Mang Cá đến Đại Nội (đường Đinh
Tiên Hoàng ngày nay) đoạn gần Mang Cá. Không dính gì đến Xã
Tắc.
-
Trong trận
này, quân Việt không những dùng mù-u mà còn dùng cả trái bàng
như một phương tiện hỗ trợ hành quân chiến đấu để hại quân Pháp
.
Mù-u và
trái bàng không hại được quân Pháp mà chỉ làm hại quân Việt vì
lính Pháp đi giày đinh, đạp nát mu-u và trái bàng dễ dàng, còn
quân dân Việt thì đi chân đất ,đạp nhằm mù u và trái bàng, té
ngã, bị dẫm đạp mà chết, chưa nói chi tới tên bay đạn lạc. Tất
cả ngoài dự liệu của các quan tướng. Rõ ràng là không có một
chiến thắng vinh quang nào như đã được kể lại theo truyền
thuyết.
Ngó
vô Xã Tắc hai hàng mù-u nghĩa là sao?
Khi đã
biết sự thật như đã trình bày thì có thể thấy được rằng giải
thich về ý nghĩa của câu hát dân gian Ngó vô Xã Tắc hai hàng
mù-u như Hương Giang Thái Văn Kiểm đã viết là nặng phần
tưởng tượng hơn thực tế đã diễn ra.
Vậy thì
toàn bộ câu hát chỉ là những câu tả cảnh thôi sao? Rất có thể.
Văn Thánh
tức Văn Miếu, xây dựng vào năm Gia Long thứ 7 (1808), thờ Khổng
Tử và các danh Nho. Khuôn viên trồng đầy thông.
Võ Thánh
tức Võ Miếu, xây dựng năm Minh Mạng thứ 16 (1835), thờ Khương Tử
Nha và các danh tướng Trung Hoa và Việt Nam. Trong khuôn viên
miếu này người ta trồng cây bàng. Cả hai miếu nằm đều nằm về tả
ngạn sông Hương, cách chùa Thiên Mụ về phía tây không bao xa.
Trong khi
đó, đàn Xã Tắc lại đặt trong Kinh thành, bên phía tay phải của
Đại Nội, trên đường Trần Nguyên Hãn ngày nay, xưa gọi là đường
Xã Tắc. Đàn này lập ra năm Gia Long thứ 5 (1806) để thờ các
thần chủ về đất đai (Thái Xã Thần) và mùa màng (Thái
Tắc Thần). Trong một nước lấy nông nghiệp làm gốc thì đất
đai và mùa màng là sự sống còn của quốc gia. Trong khuôn viên
Xã Tắc người ta trồng ba thứ cây, là thông, xoài và mù-u. Con
đường đi vào Xã Tắc cũng trồng mù-u nên mới có câu hát trên.
Ta hãy xem
người xưa đánh giá ba loại cây này như thế nào. Đại Nam Nhất
Thống Chí chép:
-Tùng
(thông): Bản Thảo nói rằng tùng là đàn anh trong các loài mộc,
cho nên viết theo chữ công, lại nói tùng già thì dư khí
kết thành phục linh một nghìn năm thì nhựa nó kết thành hổ
phách. Nay ở đàn Nam Giao, các sơn lăng, núi Ngự Bình các nơi
thong mọc thành rừng…(tr.352)
- Cây
mù-u: Nam mai, hoa như hoa mai trắng, quả tròn như ngón chân
cái, ép dầu, trị vết đao thương, thắp đèn kiến gián không ăn.
Cây cong queo bền chắc, nhà nước hay trồng để dùng làm tay cong
và bánh lái ở thuyền.(tr.360)
-Cây bàng:
Sơn phong, thân cây cao lớn, cành lá mọc thành tầng, hình vòng
tròn như hình tán lọng; sau tiết sương giáng lá biến thành sắc
đỏ, như lá cây phong, nên gọi là sơn phong. Nay trồng nhiều ở
các cung điện, phủ, thự (tr.365)
Khi nghe
câu hát:
Văn
Thánh trồng thông,
Võ
Thánh trồng bàng,
Ngó vô
Xã Tắc hai hàng mù-u
Tôi có hỏi
Thầy tôi, tức bố tôi, : tại sao lại trồng mấy thứ cây đó mà
không trồng thứ khác? Ông cụ đủng đỉnh trả lởi:
- Đền
miếu, cung điện hay chùa chiền phải trồng cây và phải lựa thứ
thích hợp để trồng thì cảnh quang mới đẹp đẽ trang nghiêm. Ở
đây , các cụ xưa lại muốn chơi chữ. Văn Miếu là nơi văn học thì
phải tinh thông nghĩa lý văn chương sách vở, nên
trồng thông để ngụ ý nhắc nhở người đi học. Còn võ miếu
là nơi tượng trưng cho việc dụng binh thì phải luận bàn
kế hoạch cho chu đáo nên trồng bàng. Riêng Xã Tắc là nơi
giao tiếp với đất trời, mà thiên địa mịt mù nên mượn mù-u để
tượng trưng.
Tôi phải
cảm ơn Thầy tôi, đã giải thích điều này, ít nhiều cũng có lý, và
không làm méo mó lịch sử. Đúng hay sai, tùy bạn đọc thẩm định,
và nếu được nghe một kiến giải khác hợp lý hơn, ý nghĩa hơn, thì
thật là quí báu vô cùng. Riêng tôi, thấy trong hướng giải thích
này nổi rõ cái phong vị Huế trong việc chơi chữ. Người Huế phát
âm không chuẩn như người Bắc. Không phân biệt các âm hỏi,
ngã (ví dụ: nghĩ ngợi và nghỉ ngơi); không phân biệt các âm
cuối có g hay không g, vì vậy mới dám “cả gan” cho
“luận bàn” nghe không khác “cây bàng”!
Còn tại
sao người ta trồng xoài cùng với thông và mù-u trong khu Xã tắc?
Khi theo bạn bè “thám hiểm ”, tôi không thấy cây xoài, có lẽ đã
chết tiêu đâu mất, vì là cây ăn quả nên dễ bị hại. Bởi vậy tôi
không biết để đem ra hỏi Thầy tôi. Khi lớn lên, đọc Đại Nam
Nhất Thống Chí, mới biết đàn Xã Tắc có trồng xoài như một lại
cây chính thức, thì không biết hỏi ai nữa. Lúc rảnh , rỉ rả
đọc lại ĐNNTC., mục Thổ sản, mới thấy lý do tại sao các cụ xưa
lại chọn cây xoài để trồng nơi này. Sách này xếp quả xoài là
một “phẩm quí ở phương Nam”. Và ghi nhận: “Vân Đài Loại Ngữ
của Lê Quí Đôn chép rằng : Tục truyền năm nào xoài sai quả thì
ngũ cốc mất mùa, xoái ít quả thì ngũ cốc được mùa. Ứng với thời
tiết cũng có nghiệm.” (tr.301). Hèn gì! Xã Tắc là nơi thờ thần
chủ về đất đai mùa màng. Muốn biết về mùa màng trong năm được
hay mất mà đem ra hỏi thần cũng khó, chi bằng trồng cây xoài, cứ
trông quả nhiều quả ít thì biết. Cây xoài ltrở thành khí cụ dự
báo mùa màng của triều đình!
VÕ
HƯƠNG-AN
01/2008
Tài
liệu tham khảo
-Thái Văn Kiểm, Cố đô Huế, Nha Văn Hoá Bộ
QGGD, Saigon, 1960, bản in lại ở Mỹ không đề năm
-Tiểu Cao
Nguyễn Văn Mại, Lô Giang Tiểu sử, bản dịch của Nguyễn Hy
Xước, bản in ronéo, lưu hành gia đình.
-Quốc Sử
Quán triều Nguyễn, Đại Nam Nhất Thống Chí, bản dịch
Viện Sử Học, Tập I, nxb Thuận Hóa, 1997
Trở về Trang Chính |