|
Triều đại nhà Nguyễn cáo chung cách đây mới năm mươi hai năm
(1945-1997); vậy mà mọi chuyện chừng như đã trở thành quá xưa cũ.
Tất cả đều đã trở thành đồ cổ mất rồi. Trong mớ đồ cổ đó, có
phần của Thầy tôi, tức bố tôi. Ông cụ, húy là Võ Văn Lang
(1897-1977), là vị Nhứt đẳng Thị vệ cuối cùng của triều nhà
Nguyễn. Tôi không có ý định viết về ông cụ. Anh chủ biên tạp chí
TSH nhân khi nghe tôi kể những mảnh ký ức của thầy tôi về cung
đình Huế đã xúi tôi cố ghi chép lại, vì “biết đâu có ích cho
những nhà nghiên cứu sử sau này, vì đây là những điều chưa ai
nói.” Vâng, vậy thì. . . .
Thầy tôi làm thị vệ trãi hai triều Khải Định (1916-1925) và
Bảo Đại (1925-1945). Thị vệ là bộ phận cận vệ của vua, ngày đêm
thay phiên nhau có mặt bên cạnh vua, vừa lo bảo vệ vua, vừa lo
hầu hạ mọi mặt , từ công việc triều đình đến đời sống riêng tư
hàng ngày. Chỉ có thị vệ mới hàng ngày vào ra phòng ngủ của
hoàng đế chứ không phải là thái giám.
Từ trước, các vua ăn ở và làm việc thường ngày tại điện Càn
Thành. Điện Cần Chánh chỉ dùng để họp các phiên thường triều.
Sau khi điện Kiến Trung hoàn tất, vua Khải Định dùng nơi này làm
chỗ cư trú và làm việc hàng ngày, vì đầy đủ tiện nghi (điện,
nước, điện thoại. . .) và khang trang hơn. Vua ở đâu thì thị vệ
ở đó. Vì vậy, mặc dầu không được ở ngay trong điện Kiến Trung
nhưng thị vệ cũng có chỗ ăn ở thường trực bên cạnh, gọi là Thị
Vệ Xứ. Nếu nhìn về hướng bắc thì Thị Vệ Xứ là một dãy nhà trệt
lợp ngói, nằm bên trái, xế về phía sau của địện Kiến Trung. Dãy
nhà này chia ra làm nhiều căn. Non một nửa thuộc cánh phải là
Thị Vệ Xứ, còn nửa kia dành cho các bộ phận phục dịch khác (nhà
để xe, chỗ ở của tài xế, thợ máy, thừa phái. . . Số này đặt dưới
sự sai phái sắp xếp của thị vệ) Hồi còn bé, có khi tôi được vào
trong Nội (chỉ Hòang thành, thường được gọi là Đại Nội , hay vắn
tắt là Nội), ở chơi với Thầy tôi hàng tuần, theo ông đi hết cung
này tới điện nọ nên các cung điện và đồ đạc trong Nội đối với
tôi dần dần trở thành quen thuộc. Sau này, khi thầy tôi tiếp tục
trông coi Đại Nội thời Chính phủ Quốc Gia của Quốc Trưởng Bảo
Đại (1949-1956) với chức vụ Chưởng vụ Đại Nội, tôi lại có nhiều
dịp vào thăm, nhìn ngắm kỹ hơn và ý thức hơn.
Nhớ lại, khi tôi được vào chơi trong Nội thì thầy tôi đã
được gọi là “Quan Nhứt” hay “Ông Nhứt” rồi, tức là đã lên đến
Nhứt đẳng Thị vệ. Có lẽ vì đã làm đàn anh nên thầy tôi có được
một phòng riêng trong Thị vệ xứ, còn các phòng khác thì thường ở
chung hai người. Người ta thường gọi các ông thị vệ bằng đẳng
trật, kèm theo cái tên (thấp nhất là Ngũ đẳng, cao nhất là Nhất
đẳng), ví dụ ông Nhứt Lang, ông Ngũ Huệ v.v.
Thầy tôi thường gọi phòng làm việc của vua là phòng phê và
bàn giấy của vua là bàn ngự phê. Đời Khải Định, bộ phận văn
phòng của vua được đặt ở một nơi khác, gọi là Nội các, thường
gọi tắt là Các . Đến đời Bảo Đại, từ 1932 trở đi, sau khi ở Pháp
về, vua cho cải tổ lại nhiều mặt, trong đó, văn phòng của vua
được gọi là Ngự tiền Văn phòng, cầm đầu là một Đổng lý. Các quan
của Nội các đều lấy từ các bậc đại khoa (xuất thân tiến sĩ hay
phó bảng), được đặc cách mang bài bạc chứ không phải bài ngà như
các quan khác. Các quan ở Các, vừa có học vị cao, vừa được gần
gũi với vua, nên cả triều đình đều nễ vì, kính trọng. Đời vua
Khải Định chữ Hán đang còn thịnh. Vua thường phê giấy tờ bằng
chữ Hán với bút son . Công việc của thị vệ trực tại phòng phê
không những lo hầu trà, hầu thuốc, hầu quạt, mà còn cả việc mài
mực, mài son, sắp đặt giấy tờ, đóng ấn, truyền đạt mệnh lệnh của
vua. Cái ấn “Đại Nam Hoàng Đế Chi Bửu” bằng vàng ròng, nặng
khoảng 5 kilo thường được đóng trên các đạo sắc phong và các
giấy tờ quan trọng khác. Thầy tôi nói “Đóng ấn gì cũng lấy sức
mà đè để nó ăn cho đều chứ còn với cái bửu ni thì cứ cầm cho
vững, để nhè nhẹ lên hộp son, xong, nhắm vị trí trên tờ giấy cho
ngay ngắn, rồi để xuống nhè nhẹ là tự nó ăn đều ngay.”

Vua Khải Định trong phòng Ngự phê.
Một ông quan đang nghe chỉ thị.
Vua thường chỉ thị cho các Bộ, Viện qua Nội các. Thị vệ là
con thoi liên lạc giữa vua và Nội các. Muốn truyền một chỉ thị
gì, đại khái vua sẽ nói với thị vệ trực rằng: “Này, X (tên thị
vệ), truyền cho Các rằng ta . . . (nội dung chỉ thị)”. Sau khi
nghe xong, Người thị vệ vái , tâu “Tuân mạng” rồi nhẹ nhàng lui
ra, thi hành phận sự. Đến nơi làm việc của Nội các (ngày đêm đều
có quan túc trực, gọi là trực thần) thị vệ hô “Hoàng đế truyền
chỉ”. Trực thần vội sửa sang khăn áo tề chỉnh, đứng dậy với giấy
bút cầm tay, sẵn sàng ghi chép, miệng nói “Dạ, chúng tôi xin
tiếp chỉ”. Người Thị vệ lặp lại lời vua dặn, quan Nội các nghe
đến đâu ghi đến đó. Nội dung này sẽ được trang trọng chép lại
trên tờ giấy khác, cho vào tráp sơn son thếp vàng để đệ ngược
trở lại cho vua xác nhận. Công việc này được gọi là thỉnh
huấn. Vua đọc lại, nếu thấy nội dung do thị vệ truyền đạt
phản ánh đúng ý của vua thì chỉ cần điểm một chấm son nơi đầu
chữ Tấu (tâu), có nghĩa là đúng như vậy, đồng ý. Động tác này
gọi là châu điểm. Còn nếu không, vua sẽ thêm bớt cho rõ ý
hơn,. Tờ giấy mang bút tích xác nhận đó sẽ được trả lại cho Các.
Bấy giờ quan ở Các sẽ sao mệnh lệnh ấy ra, đóng ấn Nội các, rồi
gởi cho Bộ, Viện hay người liên hệ thi hành, còn bản chính sẽ
được lưu vào văn khố, về sau sẽ trở thành sử liệu để Quốc Sử
Quán chép sử.
Người thị vệ vâng mệnh đi truyền lệnh mà sai ý vua, dĩ
nhiên sẽ bị khiển trách. Do đó, ai cũng phải lo thi hành nghiêm
túc. Khi được thăng Ngũ đẳng, thầy tôi chưa được ba mươi (ông
sinh năm 1887), nghĩa là thuộc lọai trẻ trong quan trường, và
theo ông cụ, sự lựa chọn ấy là do lòng ưu ái của vua Khải Định,
vì “ không biết răng mà Ngài thương thầy như con vậy, dạy vẻ
từng chút một. Như chuyện đi thỉnh huấn đó, Ngài dạy: “ Vì các
quan ở Các đều là bậc đại khoa, còn Lang là người của ta sai
bảo. Lang làm sai, bị lỗi đã đành mà các quan ở Các còn nghĩ
rằng ta dùng người bất xứng, như vậy ta cũng hổ lây. Vậy nên
phải rất thận trọng. Khi ta bảo đi truyền chỉ, hãy lắng nghe cho
kỹ. Có gì không hiểu hoặc nghe không rõ thì hỏi lại. Nhược bằng
sợ mà không dám hỏi thì đứng yên đó, ta biết ý, sẽ giảng lại cho
rõ, nghe, nhận hiểu rồi mới đi. Khi nói, phải từ tốn, rõ ràng.
Phải luôn luôn giữ gìn tư cách nhiêm chỉnh, vì đang thưà hành
vương mạng” Sau khi kể lại câu chuyện đó, thầy tôi kết luận: Đó,
con thấy không? Đó không phải là lời vua dặn bầy tôi. Đó là lời
cha dạy con. Ông cũng nói thêm rằng sở dĩ ông có chút hiểu biết
khá rành rẽ về Đại Nội và nghi thức cung đình cũng là do vua
Khải Định giảng dạy cả. Chẳng hạn khi hầu vua tới một cung điện
nào đó, nếu có thì giờ, vua thường giảng cho biết ý nghĩa của
tên cung điện, cung điện đó được xây dựng đời nào, để làm gì, đã
thay đổi ra sao v.v.
Những chi tiết về bữa cơm của vua mà tôi dùng làm tài liệu
để viết bài Ảnh hưởng cung đình trong phong cách Huế
(TSH, 1993) cũng là do thầy tôi kể lại. Mâm cơm với ba mươi lăm
phẩm vị (ba mươi lăm món) dành cho hòang đế có lẽ chỉ tồn tại
dưới thời Khải Định. Tôi không được nghe kể về bữa ăn của vua
Bảo Đại (mà cũng quên hỏi) nhưng tôi nghĩ vị hòang đế Tây học
này hẳn không ưa nghi lễ rườm rà và thích không khí gia đình
hơn. Như tôi đã viết trong bài ấy, bộ phận lo bữa ăn hàng ngày
cho vua và nội cung là Thượng Thiện. Vua ăn cơm gọi là hòang đế
ngự thiện. Hầu vua trong bữa ăn gọi là chầu thiện.
Chầu thiện, ngoài thị vệ luôn luôn có mặt để hầu hạ, sai bảo,
còn có hai vị quan từ tam tứ phẩm trở lên ngồi hầu chuyện với
vua cho vui bữa ăn. Mùa nóng, thị vệ còn phải lo quạt hầu. Hồi
đó đã có điện, nghĩa là có quạt điện, nhưng quạt hầu vẫn còn. Có
lẽ đó là dấu hiệu của quyền quí ? Quạt hầu là cả một kỹ thuật và
nghệ thuật. Theo thầy tôi, khi quạt phải giữ lễ, nghĩa là không
phải quạt bằng hai tay và quạt phành phạch để lấy gió cho nhiều,
như quạt bếp, quạt lò. Cây quạt lông to như cái lá vả, cán gỗ
sơn son, chỉ được cầm bằng tay mặt ( hồi trước, tối kỵ tay
trái), còn tay trái thì khoanh ngang ngực, bàn tay dấu dưới nách
phải, vừa có vẻ giữ lễ, vừa có công dụng đở bớt gánh nặng cho
tay phải. Phải quạt thong thả, khoan thai, tạo thành ngọn gió
mát tự nhiên nhẹ nhàng đưa qua, mát người mà không được làm bay
giấy, bay tóc, hoặc làm bay miếng bánh tráng (bánh đa) nướng
trong mâm cơm.
Riêng về món tráng miệng là do các bà phục vụ, hoặc trái
cây, bánh ngọt, mứt hay chè. Mỗi bà, theo sáng kiến và tài nghệ
riêng của thị nữ dưới tay, làm một món, đưa vào cho thị vệ dọn
lên sau bữa ăn. Đó là chưa kể những món ngon vật lạ khác do các
quan địa phương dâng tiến. Vì vậy, các món tráng miệng thường
họp thành một khay lớn, gồm nhiều thứ, mỗi thứ một vẻ, một vị,
chế biến tinh vi và nghệ thuật.. Dĩ nhiên, vua không bao giờ
dùng hết các món đó, chỉ nếm qua một đôi chút các món ưa thích,
số còn lại thường ban phát cho thị vệ hoặc làm quà tặng cho các
quan chầu thiện.
*
Vua Khải Định có hai bà vợ chính và hai hay ba bà vợ thứ
khác. Triều nhà Nguyễn -- ngoại trừ vua Gia Long (vua đầu) và
vua Bảo Đại (vua cuối) -- không có lệ phong hoàng hậu và đông
cung thái tử. Các bà vợ chính sẽ được phong là Phi (Nhứt giai
phi, Nhị giai phi. . . ) Hễ bà nào có con lên làm vua thì con sẽ
tấn tôn mẹ làm Hoàng thái hậu. Bởi vậy mới có câu tử quí
mẫu vinh (con quyền quí thì mẹ được vinh hiển). Trong hai bà phi
của vua Khải Định, bà thứ hai họ Hoàng, người Mỹ Lợi (huyện Vinh
Lộc, Thừa Thiên) sinh ra vua Bảo Đại sau này. Khi vua Khải Định
sanh tiền, bà chỉ được phong làm thứ phi mà thôi. Đến khi vua
Bảo Đại lên ngôi mới tấn tôn mẹ làm Đoan Huy Hoàng Thái Hậu (khi
còn là bà Phi, bà ở viện Đoan Huy, một trong lục viện của nội
cung), thường được gọi là Đức Từ Cung hay Đức Từ. Bà có con với
vua Khải Định khi vua đang còn tiềm để, tức là thời đang
còn là ông hoàng ở tại phủ Phụng Hóa thuộc làng An Cựu. Sau này,
khi đã làm vua, phủ Phụng Hóa mới được xây dựng lại theo kiến
trúc mới, nguy nga bề thế hơn và được gọi là cung An Định. Người
ta thường dùng chữ tiềm để để chỉ thời kỳ ông vua tương
lai đang còn hàn vi. Tướng tinh của vua là rồng. Ông hoàng lúc
hàn vi cũng ví như con rồng đang còn nằm phục ở đáy biển (tiềm
để). Khi thời cơ tới thì rồng từ đáy biển vụt bay bổng lên trời,
vùng vẫy tung mây lướt gió. Rồng mây gặp hội là vậy. Còn bà số
một, được phong làm Nhứt giai Ân phi ngay sau khi cưới, là con
gái của ông Hồ Đắc Trung, một vị đại thần có uy tín và thế lực
của triều đình lúc bấy giờ. Theo lời kể của bà ngoại tôi, thời
hàn vi ở phủ An Định, Đức Từ là một trong những người thiếp,
thường được gọi là chị Út . Cơ trời đưa đẩy, chị Út lọt mắt xanh
ông hoàng phủ Phụng Hóa và sinh ra hoàng tử Vĩnh Thụy tức vua
Bảo Đại sau này. Có lần tôi hỏi thầy tôi: “ Dạ, tại răng ngài
(chỉ vua Khải Định) gặp và có con với Đức Từ từ hồi còn là ông
hoàng ở phủ Phụng Hóa, vậy mà khi làm vua lại cưới thêm một bà
nữa và lại phong cho bà sau này làm Nhứt giai phi, còn Đức Từ
thì cấp bậc thấp hơn ?” Thầy tôi cắt nghĩa khá dài, đại khái, đó
là một cuộc hôn nhân có tính cách chính trị. Vua Khải Định lên
ngôi năm 1916, sau khi vua Duy Tân mưu cùng hai nhà cách mạng
Trần Cao Vân và Thái Phiên lật đổ người Pháp không thành và bị
đày sang Algérie (Phi châu). Oâng Hồ Đắc Trung là quan đầu triều
lúc bấy giờ, có uy tín và thế lực. Tuy rằng vua Khải Định đã có
vợ và có con nhưng đây là cuộc hôn nhân không cưới hỏi, nghĩa là
không chính thức, không đúng nghi lễ. Do đó, dưới ảnh hưởng của
ông Hồ Đắc Trung, Triều đình đã đứng ra cưới vợ cho vua, và vua
trở thành rễ của quan đầu triều. Mặc dầu bà là người đến sau
nhưng do Triều đình cưới hỏi, có danh nghĩa to lớn, lại con nhà
gia thế, nên đương nhiên phải giữ ngôi vị thứ nhất.
Hễ nói đến hoàng hậu và công chúa thì mười người như một
đều nghĩ rằng các bà này hẳn phải sắc nước hương trời. Tôi cũng
không ra ngoài lệ đó, nên hỏi thầy tôi : “Dạ, chắc bà con cụ
Trung đẹp ghê lắm ?” Thầy tôi cười, bảo: “Không, không đẹp lắm,
nước da bồ quân chứ không phải trắng. Người nghiêm trang, thùy
mị” . Cụ Khổng (?) dạy rằng “phu phụ tương kính như tân”, nghĩa
là trong cư xử, vợ chồng phải kính trọng nhau như khách. Ai đâu
thì không biết chứ theo lời kể của thầy tôi thì quan hệ tình cảm
giữa vua Khải Định và bà Nhứt giai phi họ Hồ là điển hình cho
lời dạy đó. Vua ở một mình tại điện Kiến Trung. Thỉnh thoảng ,
bà đến thăm chồng, thường là ban tối. Trong khu Tử Cấm Thành
trong Đại Nội, các cung điện được nối nhau bằng những dãy hành
lang lát gạch Bát Tràng có mái che mưa nắng lợp ngói, gọi là nhà
cầu. Có những dãy nhà cầu dài hun hút. Có những dãy nhà cầu có
tường che chắn một bên nếu bên ấy xây về hướng bắc, để ngăn mưa
gió mùa đông. Nhà cầu được chiếu sáng về đêm bằng đèn điện. Dầu
vậy, khi bà Phi đi thăm vua, thường có hai thị nữ đi trước cầm
đèn lồng và hai thị nữ đi sau hầu hạ. Vua ngồi trên sập hay bàn.
Sau khi vái chào, bà Phi được vua mời ngồi nơi ghế do thị vệ
mang lại. Vua gọi vợ bằng bà và bà Phi gọi vua bằng hoàng đế hay
ngài. Hai bên hỏi thăm sức khỏe của nhau và nói chuyện với nhau
như khách. Chừng mươi lăm phút là chấm dứt buổi thăm.
Người ta thường đồn rằng vua Khải Định bất lực nên không
thích gần đàn bà. Vì vậy, cũng có nhiều lời đồn đãi về gốc gác
vua Bảo Đại, cho rằng ông không phải là con vua Khải Định. Điều
này thật khó xác định và tôi cũng chưa bao giờ hởi thầy tôi về
việc này vì cảm thấy rằng hỏi như thế có vẻ phạm thượng và chắc
chắn sẽ làm cho ông phật ý. Trong khi đó, một người không có
dính dáng gì đến vua quan thì lại có một thông tin rất độc đáo,
đó là bà ngoại tôi. Bà người ở Vạn Vạn, có hàng quán ở chợ An
Cựu, cung câp thực phẩm cho phủ Phụng Hóa (vua Khải Định bấy giờ
đang còn là ông Hoàng nên chỗ ở chỉ được gọi là Phủ. Sau khi lên
làm vua, mới đổi thành Cung An Định) nên có dịp vào ra nơi này
và có cơ hội chuyện trò với kẻ ăn người làm trong đó. Bà ngoại
tôi kể rằng khi thấy chị Út có bầu, Đức Thánh Cung và Đức Tiên
Cung ( tiếng tôn xưng hai bà vợ của vua Đồng Khánh; một bà là
chánh mẫu, một bà là mẹ đẽ của vua Khải Định) đã mở một cuộc tra
hỏi gắt gao, xem tác giả là ai. Khi nghe khai tác giả là ông
Hoàng phủ An Định, hai bà bắt khai ngày tháng gần nhau, bảo ghi
sổ và hăm “ Nếu sau ni mi đẽ không đúng ngày đúng tháng thì tau
chém đầu ba họ”. Chị Út đã khóc lóc cam đoan là đúng sự thật.
Hai bà đem việc này hỏi ông Hoàng, cũng được xác nhận như thế.
Đến khi sinh ra, tính ngày tháng đúng y như đã khai nên hai ngài
bề trên mới cho công nhận người con của chị Út sinh ra là giòng
giõi Nguyễn phước tộc. Bà tôi kể chuyện này là để chứng minh
quan điểm của bà rằng “Ở đời, cái chi cũng do số Trời định đoạt
cả”.
Giữa những chuyện đồn đãi về nguồn gốc vua Bảo Đại, tôi
nghĩ rằng người ta quên một điều rất quan trọng, đó là việc
hoàng tử Vĩnh Thụy được sinh ra và được công nhận là chính thống
ngay từ khi vua Khải Định đang còn tiềm để, nghĩa là đang còn là
một ông hoàng ngồi chờ thời. Đang là một ông hoàng chờ thời, vậy
mà đã toan tính nuôi con người khác để chờ kế vị? Làm sao có
chuyện ngược đời đến thế? Tôi cũng nghĩ rằng bà ngoại tôi là
người dân giả thật thà, chỉ vì việc sinh nhai mà có cơ hội tiếp
cận phủ Phụng Hóa, nhờ đó mới được biết câu chuyện độc đáo như
thế. Đứng về mặt phương pháp sử mà xét, đó là nguồn tin chưa bị
ô nhiễm.
Trở lại bà Nhứt giai phi họ Hồ một chút. Sau khi vua Khải
Định băng hà, hoàng tử Vĩnh Thụy nối ngôi tức vua Bảo Đại. Tử
quí thì mẫu vinh. Cái cảnh bà thứ phi họ Hoàng trở thành đấng
mẫu nghi thiên hạ, ai ai cũng kính cẩn phục tùng càng làm cho bà
Nhứt giai phi họ Hồ thêm cám cảnh bẽ bàng. Nghe đâu về sau bà
xin xuất giá (?). Dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, bà vẫn còn
được chính phủ trợ cấp và nghe nói người ta thường gặp bà đi
lang thang, người không được bình thường.
*
Vua Khải Định mất sớm, hình như mới ngoài 40 và nghe đâu vì
chứng lao xương. Chữa bệnh cho vua theo tây y thì có bác sĩ
Normet (?), còn đông y thì có Thái Y Viện. Thầy tôi kể rằng
thuốc vua dùng chỉ sắc có một nước. Để tăng cường sức khỏe cho
vua, Thái Y Viện dâng thang thuốc bổ. Sau khi sắc nước đầu dâng
vua, một y sinh thấy xác thuốc còn tốt quá, tiếc của đời, không
nở vất đi, bèn đem phơi khô. Tích trử được mấy chục thang như
vậy, ông ta đem tán làm thành thuốc tể, bán lại cho một anh thợ
hớt tóc bị lao. Anh thợ hớt tóc uống xong tể thuốc, lành bệnh,
mập mạnh hơn xưa. Thầy tôi kể câu chuyện này nhân nói chuyện về
cách sắc thuốc bắc, và theo ông cụ, thuốc bắc mà sắc một nước là
phí của. Mặc dầu được đông, tây y tận tình chữa trị nhưng bệnh
tình của vua không có dấu hiệu thuyên giảm. Ngoài lễ cầu an
chính thức ở các chùa, các bà nội cung nghe đền miếu nào linh
thiêng là cho ngay thị nữ thân tín đem lễ vật đến cầu xin cho
vua được tai qua nạn khỏi. Hồi đó nhà thờ La Vang ở Quảng Trị (
trở thành Vương cung Thánh đường thời Tổng thống Diệm) có tiếng
là thiêng, nên bà thứ phi họ Hòang cũng cho người đến cầu cúng,
dù vua không phải là người theo Thiên Chúa giáo.
Có lẽ biết rõ bệnh tình của mình nên vua Khải Định lo soạn
sẵn di chiếu để đề phòng sự ra đi đột ngột. Tôi hỏi :
-Dạ, di chiếu đó là do ngài tự tay viết hay ngài đọc cho các
quan viết ?
-Ngài viết nháp trên một cuốn vở học trò bằng viết chì rồi sau
đó quan Nội các chép lại, ngài duyệt và cho đóng ấn, niêm phong.
Cuốn vở và cây viết khi nào cũng để sẵn nơi cái bàn đầu giường,
khi nào khoẻ thì ngài biểu kê cái gối cao lên và lót gối dựa đở
lưng, rồi nửa nằm nửa ngồi mà viết, một lát mệt, lại nghỉ.
Thầy tôi rất thán phục bản di chiếu này vì trong đó vua
Khải Định đã dự kiến hiểm họa cọng sản mà người kế vị sẽ phải
đương đầu. Thây tôi nói “Ngài thường nói ta sợ sau này con ta
khổ vì nạn cọng sản thôi”. Nếu ta biết rằng vua Khải Định
băng hà năm 1925, lúc đó Cọng sản Việt Nam mới manh nha, vậy mà
sớm thấy được mối đại họa đó thì thật là phi thường. Sau này,
dường như tôi có đọc đâu đó một sử gia Pháp viết về lịch sử Việt
Nam cận đại cũng đã có nhận xét rằng bản di chiếu của vua Khải
Định là một di chúc tiên, tri khi đề cập đến hiểm họa cọng sản ở
Việt Nam rất sớm, khi chưa có dấu hiệu nào đáng quan ngại.
Người chủ trì đám tang vua Khải Định là ông Hồ Đắc Trung,
nhạc gia của vua. Khi vua băng hà thì sở lăng ở Châu Ê, thường
gọi là lăng Khải Định, xây chưa xong (khởi công từ 1920, đến
1931 mới hoàn thành). Trong khu vực lăng tẩm của các vua chúa,
nơi chôn quan tài là vị trí bí mật nhất. Chính vì muốn bảo mật
vị trí này mà ngưới ta đồn đãi rằng thợ xây cất nơi đó đều bị
giết chết để tuyệt đường tin tức. Như trường hợp lăng Minh Mạng
và lăng Tự Đức, đó là cả một khu rừng, chả biết nơi nào mà rờ.
Còn lăng Khải Định thì lại khác, không thấy khu rừng mai táng
đâu cả. Ai đã vào thăm bên trong lăng, đều thấy trong chính điện
có tượng của vua mặc triều phục ngồi trên ngai. Người ta nói
rằng bên dưới cái bệ vua ngồi chính là nơi đặt quan tài. Tôi đem
việc này hỏi thì được thầy tôi trả lời:
-Không chắc như vậy. Sau khi thầy đia lý tìm được huyệt
tốt, nhắm hướng, phân kim đàng hoàng và chỗ đó được xây khuôn
tĩnh bằng gạch hay đá Thanh thật chắc chắn. Thầy địa lý kiểm
soát lại phương hướng kỹ càng và cho đặt bốn góc bốn mốc bằng
đá, để cho quan tài phải nằm đúng vị trí giữa các mốc đó. Xong,
người ta đặt một hệ thống róc rách và một đường ray (rail) từ đó
dẫn ra xa. Huyệt mã và đường ray được xây thành một đường hầm, ở
trên che kín và lấp đất laiï, trồng cây cỏ hay xây dựng gì đó để
ngụy trang; cửa vào đường hầm được niêm phong. Sau khi đã lấp
đất che phủ toàn bộ thì mấy ai biết đích xác cái tẩm (nơi đặt
quan tài) nằm chỗ nào. Nói rằng quan tài được hạ huyệt như đám
ma thường, là không đúng. Quan tài có bánh xe ở dưới, được đặt
trên đường ray, như toa xe nằm trên đường ray vậy. Tới giờ hạ
huyệt, lính chỉ việc đứng hai hàng hai bên đường ray, nắm dây mà
kéo, quan tài theo đường ray đi vào trong, đến khi đụng cái mốc
bằng đá thì dừng lại. Bấy giờ cụ Hồ Đắc Trung mới đích thân cầm
đèn một mình đi vào trong hầm kiểm soát lần cuối xem quan đã nằm
đúng vị trí tính toán chưa. Khi thấy đâu vào đấy, cụ trở ra, cho
lệnh hạ cánh cửa đá để đóng huyệt lại. Còn cửa vào đường hầm
cũng được ngụy trang, xoá hết mọi dấu vết, vậy làm sao biết chắc
là nơi nào?
Khi vua Khải Định băng hà, hoàng tử Vĩnh Thụy mới 12 tuổi,
đang học ở Pháp. Về nước nối ngôi và chịu tang vua cha xong, vua
Bảo Đại lại tiếp tục sang Pháp học cho tới năm 1932 mới về nước
cầm quyền. Một trong những cải cách đầu tiên của ông vua tây học
này là bỏ phép lạy khi triều bái. Về lạy, có nhiều cách. Lạy
người sống thì hai lạy, lạy ông bà tổ tiên khi cúng giỗ thì bốn
lạy, nhưng lạy vua phải đến năm lạy. Vua Bảo Đại cho rút gọn lại
còn ba xá (hành tam khấu lễ). Việc cải cách quan trọng
nhất của vua là cho về hưu một loạt năm ông đại thần cựu học nắm
giữ năm bộ của chính phủ Nam triều để thay vào đó bằng những
người có tây học (chẳng hạn học giả Phạm Quỳnh, quan Tuần phủ
Ngô Đình Diệm). Đây là một biến cố chính trị lớn lúc đó, nên có
người đã làm bài thơ theo kiểu chơi chữ như sau:
Năm cụ khi không rớt cái ình,
Đất bằng sấm dậy, thảy đều kinh.
Bài không đeo nữa, xin dâng lại;
Đàn chẳng ai nghe, khéo dở hình.
Liệu thế không xong, binh chẳng
đặng;
Liêm đành giữ trọn, lễ dừng rinh.
Công danh như rứa đà hưu hỉ,
Đại sự xin nhường lũ hậu sinh.
Năm ông Thượng thư hưu trí là:
1. Ông Nguyễn Hữu Bài, Thượng thư Bộ Lại (Nội vụ);
2. Ông Tôn Thất Đàn, Thượng thư Bộ Hình (Tư pháp);
3. Ông Phạm Liệu, Thượng thư Bộ Binh (Quốc phòng);
4. Ông Võ Liêm , Thượng thư Bộ Lễ (Giáo dục và Nghi lễ)
5. Ông Vương Tứ Đại, Thượng thư Bộ Công ( Xây dựng)
Cái khéo của bài thơ là trong mỗi một câu vừa mô tả sự
việc, vừa ghép được tên ông quan cùng cơ quan họ đảm trách, chưa
kể cái ý nhẹ nhàng châm biếm trong đó. Phải là tay làm thơ Đường
tài ba mới chơi chữ được như thế. Vì vậy, bài thơ rất được
truyền tụng và trở thành giai thọai văn chương của đất thần
kinh. Và khi đã trở thành giai thọai thì dễ lâm vào cảnh tam sao
thất bản. Người ta gán ghép bài thơ cho ông này ông kia là tác
giả mà không nghe ai nói tới nhân vật thầy tôi đề cập. Khi tôi
còn học trung học, chính thầy tôi đọc cho nghe bài thơ này, cắt
nghĩa về xuất xứ và ý nghĩa, tôi thích quá, học thuộc lòng cho
đến giờ. Theo ông cụ, tác giả bài thơ là một nhân vật người
Quảng Trị, đang làm quan trong triều. Ông tên là Võ Cẩn, khoa
bảng xuất thân, học rất giỏi, tính tình lại ngay thẳng, cương
trực, có phần cao ngạo là đằng khác, không sợ mất lòng ai bao
giờ, dù là quan lớn cấp trên. Khi đứng nói chuyện, thường chống
nạnh sau lưng bằng cách xỏ cả hai tay vào lưng quần. Trong triều
ai cũng nễ, không gọi ông bằng chức tước mà gọi tôn là tiên
sanh. Sau này, do một sự tình cờ, tôi được kết bạn với một người
cháu gọi ông Võ Cẩn bằng ông, đó là anh Võ Huyến, nguyên Chỉ huy
phó Cảnh Sát Quốc Gia Quảng Trị trước 1975. Chính anh Huyến xác
nhận chuyện thầy tôi kể về bài thơ thời thế năm 1932 và cho biết
còn bút tích của tác giả.

Thị vệ cầm kiếm theo hầu vua Bảo Đại trong một buổi lễ năm
1933
Một buổi sáng đầu năm 1946, đang khi tôi ngồi chơi trước
hiên nhà và thầy tôi đang rửa mặt thì có hai người đàn ông mặc
quân phục kaki vàng cuỡi hai con ngựa to lớn đi ngang nhà và lên
tiếng chào thầy tôi. Sau khi họ đi khỏi, mẹ tôi hỏi: “Ai đó?”
thì thầy tôi trả lời: “À. đó lầ mấy ông trong Ủy ban. Mấy tháng
ni tui làm việc trong trong Nội là làm với mấy ông đó. Chính mấy
ông cấp giấy cho tui về. Nay nhân có việc đi ngang nhà , họ hỏi
thăm rứa thôi.”
Khi vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị (tháng 8 năm 1945) trước
lầu Ngọ Môn và trao ấn kiếm tượng trưng vương quyền cho đại diện
chính quyền Việt Minh thì chế độ quân chủ của Việt Nam cũng
chính thức cáo chung. Cả bộ máy triều đình Nhà Nguyễn cũng theo
đó mà rã đám . Tất cả các quan lại, bất kể lớn bé, tuổi tác, đều
nhất loạt về vườn. Nói về sự kiện này, thầy tôi gọi là “giải
tán”. Thầy tôi kể lại: sau khi làm lễ thoái vị, vua Bảo Đại
đã giới thiệu thầy tôi với ủy ban tiếp thu chính quyền của Việt
Minh và nói rằng “ Tôi giao cho ông Nhứt Lang việc bàn giao toàn
bộ Đại Nội này với Ủy ban. Mọi việc liên quan đến tài sản trong
Nội ông Nhứt đều biết rõ cả, các ông cứ hỏi ông Nhứt.”
Sau khi lặp lại câu nói này của vua Bảo Đại, thầy tôi thêm: “
Ngài (vua Bảo Đại) thương mình, tin mình mà giao công việc,
nhưng giao việc như rứa thì cũng như kê gươm vô cổ. Nếu họ đối
chiếu sổ sách với hiện vật mà không ăn khớp, đem ra lục vấn
mình, nói không ra vạch thì có chết không? Với câu nói của ngài,
nếu có chi thất thoát thì mình chớ ai vô đó.”
Theo thầy tôi, công việc bàn giao tài sản này kéo dài ba
tháng mới xong. Khi nghe kể việc bàn giao cho Việt Minh tất cả
Kim sách (sách bằng vàng), Ngân sách (sách bằng bạc) và các loại
ấn tín, tôi ngạc nhiên hỏi: “Theo con thì vua bàn giao ấn và
kiếm tượng trưng vương quyền cho chính phủ Việt Minh như vậy là
đủ rồi, còn Kim sách, Ngân sách và các thứ ấn khác thì coi như
của riêng của vua, việc chi phải giao cho họ?” Thầy tôi trả lời
:” Khi nói tới việc bàn giao những gì, thầy cũng đem ý đó ra tâu
với ngài nhưng ngài dạy: nếu những thứ đó bằng sắt hay bằng
đồng thì không nói làm gì. Ở đây nó bằng vàng. Nếu giữ lại làm
kỷ niệm, người ta sẽ nghĩ rằng ta còn tham. Cả cái ngai vàng ta
còn chưa tiếc, tiếc chi mấy thứ đó. . .”
Câu nói đó chưa thấy sách nào ghi, vậy nhân kể chuyện xưa, khi
vua Bảo Đại đang còn, xin ghi lại kẻo lâu ngày quên mất./-
VÕ HƯƠNG-AN
San Jose, 3.1977- Edited 7-2004
GHI CHÚ: Bài này đã đăng trên tạp chí TIẾNG SÔNG HƯƠNG, Dallas,
USA, 1997, pp. 93-98. |