|
Già hơn
nửa đời người, nếu có ai tò mò hỏi tôi đã thấy ma chưa thì sẽ
xin trả lời là chưa. Nhưng nghe tiếng ma kêu thì có. Đó là
tiếng kêu của con ma Ơi, một con ma tôi tưởng rằng chỉ độc quyền
nổi tiếng tại quê nội tôi , làng An Ninh Hạ, ai dè cũng vang
danh một vùng, bao gồm mấy làng lân cận.
Tuy quê nội là làng An Ninh, nơi có thắng cảnh Thiên
Mụ nổi tiếng, nhưng phường Huệ An trong Thành Nội là nơi tôi đã
sinh ra và lớn lên . Chừng năm sáu tuổi đã lẽo đẽo theo cha
hay mẹ, theo ngã cửa Hữu ra khỏi Kinh thành , qua bến đò Kẽ Vạn
rồi nương bóng mát của những hàng tre bên đường , băng qua trước
nhà thờ Kẽ Vạn , xuyên làng Kim Long, về quê nội dự các lễ giỗ
lớn, quan trọng nhất là giỗ ông nội tôi vào tháng Mười âm lịch,
thường diễn ra một cách trọng thể tại nhà ông bác trưởng. Những
dịp như thế , theo truyền thống của Huế, là những ngày hội của
đại gia đình. Một lần nọ, ngày giỗ rơi đúng vào một ngày mưa
gió lạnh lẽo. Ở Huế , tháng Mười khó mà có được một ngày đẹp
trời, vì đó là thời điểm ngự trị của mưa lụt, lạnh lẽo, là lúc
Ông
tha mà bà chẳng tha,
Làm
cho cái lụt hăm ba tháng Mười.
Sau bữa cơm giỗ, các bà đang ngồi xĩa răng uống nước
ở nhà ngang thì bà bác tôi bỗng lên tiếng:
-Trời mưa gió lạnh lẽo như ri thì làm răng đêm ni
cũng có con ma Ơi.
Tức thì mạ tôi và hai bà em dâu khác vội lên tiếng
hỏi:
-Ma chi mà lại kêu là ma Ơi, chị?
-Mà
răng chỉ khi mô trời mưa gió lạnh lẽo mới có?
-Có ai
gặp hắn chưa, chị?
-Chưa.
Chỉ nghe kêu thôi. Gọi là ma Ơi vì hắn chỉ kêu có một
tiếng “ơi” mà thôi. Con ma này lạ lắm, chỉ xuất hiện vào mùa
Đông, những đêm mưa gió lạnh lẽo như ri, lúc gần sáng, khi
chuông chùa Linh Mụ vừa đánh. Khi mô cũng rứa cả. Hễ chuông
chùa Linh Mụ vừa đánh mấy tiếng là nó ơi liền. Mấy thím muốn
nghe nó ơi thì ráng tỉnh ngủ lúc gần sáng, làm răng cũng nghe
được tiếng nó ơi. Lúc đầu tui cũng sợ, nhưng rồi quen nên
không sợ nữa.
-Làm
răng lại có con ma Ơi đó, chị? Mạ tôi hỏi.
-Nghe
mấy ông già bà cả trong làng kể rằng hồi xưa có hai vợ chồng đó
lấy nhau đã lâu mà chưa có con. Mãi về sau người vợ mới sinh
được một đứa con trai nhưng dị dạng xấu xí, như quỉ sứ, ngó
không ra con người. Đã ba năm mà đứa nhỏ không nói năng đi đứng
chi được, cứ nằm miết trong nôi. Vợ chồng rất buồn. Đã rứa,
trong họ lại lụn bại lần , không có ai ăn nên làm ra như trước.
Mấy ông trưởng thượng trong họ cho rằng tại nhà đó sinh quỉ nên
họ mới bị như rứa. Mấy ông mới họp bàn, kêu hai vợ chồng tới,
biểu đi chợ mua hai miếng thịt heo, một sống một chín, đem về
treo nơi tao nôi để thử. Hai vợ chồng nghe lời , treo hai miếng
thịt xong, cả hai vợ chồng cùng mấy ông trong họ trốn núp quanh
nhà để rình. Khi trong nhà trở thành vắng vẻ, họ thấy đứa nhỏ
ngồi dậy, lấy miếng thịt sống ăn ngon lành. Mấy ông đó cùng hai
vợ chồng bấy giờ mới quyết chắc rằng đứa nhỏ là quỉ hiện hình
người, vì chỉ có quĩ mới ăn thịt sống, nên đem chôn sống để trừ
khử. Bị chết oan nó hiện thành con ma Ơi, báo oán cả họ đó tàn
mạt luôn. Người ta nói rằng nó kêu “Oan” chứ không phải nó “Ơi”
mô.
Vào cái
tuổi ăn no ngủ kỹ mau quên, tôi đã bỏ qua cơ hội đêm đó để được
nghe tiếng kêu huyền bí của con ma Ơi, như câu chuyện đã được
nghe lóm. Và câu chuyện cũng chìm dần vào quên lãng cho đến mấy
năm sau.
Từ
tháng 8 năm 1946 dân Huế đã rục rịch tản cư để chuẩn bị cho cuộc
toàn quốc kháng chiến chống Pháp sẽ mở màn vào ngày 19 tháng
Chạp năm đó. Thầy mạ tôi đã thay nhau về quê nội, thuê người
làm một cái nhà tranh ba gian trong khu vườn thuộc ngôi lăng của
ông nội chú, mà trong làng quen gọi là khu Miếu Cụ Tiền, để làm
nơi tạm trú cho gia đình trong những năm khói lửa.
Gian
trên, thầy mạ tôi cho kê hai cái giường tre làm chỗ ngủ cho sáu
đứa con, ba trai một giường, ba gái một giường, ở giữa là lối đi
rộng chừng non một thước. Trên lối đi này, ngay sát cái phên
tre trét đất sét trộn cứt trâu, vào ban đêm, bà chị lớn của tôi
không quên để một cái chậu sành (hồi đó làm chi có thau nhôm,
thau nhựa !) làm chỗ đi tiểu đêm cho mấy đứa em. Chả là bọn tôi
đứa nào cũng thuộc loại gan thỏ đế cả. Nửa khuya mắc tiểu,
thường phải dựng bà dậy , nhờ dẫn ra hè để tè, làm bà mất ngủ.
Nếu mùa hè thì có khi còn hưởng được chút trăng thanh gió mát,
đến mùa đông mưa gió lạnh lẽo, đêm khuya ra ngoài quả là một khổ
hình. Vả chăng, nay nghĩ lại, tôi đoán là vì đóng vai chị cả
nên bà phải gồng mình chịu trận chứ thật ra bà cũng sợ ma như
ai, vì khu Miếu cụ Tiền vốn nổi tiếng nhiều ma, cả làng đều
biết. Để sẵn cái chậu sành cho sáp nhỏ tiện dụng đêm hôm thật
là một sáng kiến hai bên cùng có lợi!
Một đêm
mưa gió mùa Đông, tôi chợt thưc giấc vì mắc tiểu quá, không thể
nằm ráng được. Vừa mới mở vòi nửa chừng, tôi bỗng nghe tiếng
chuông chùa Linh Mụ ngân nga. Trong một thoáng, toàn bộ câu
chuyện nghe lõm năm xưa về con ma Ơi được nhớ lại như in. Như
đáp lại cái hồi ức thầm kín đó của tôi, một tiếng “ơi” nghe rõ
ràng, vang to và ngân dài , khá não nùng, cất lên trong cái tịch
lặng của đêm đông lạnh lẽo, nghe mồn một như tiếng “ơi” ấy phát
xuất từ một người đàn ông dồi dào nội lực , đang đứng đâu đó ở
bên bờ này của con sông Bạch Yến chảy ngang trước nhà. Bất kể
là đã đóng vòi hay chưa, tôi nhảy đại lên giường, chun vào mền ,
thúc cùi chõ vào ông anh đang nằm bên cạnh, thì thào “con ma Ơi
!” Ông suỵt suỵt nho nhỏ, “im, tau nghe rồi!”. Tiếp theo tiếng
“ơi” đầu tiên là chừng năm sáu riếng nữa, nghe nhỏ hơn, xa dần,
rồi mất hẳn.
Cho đến
nay, tôi vẫn nhớ như in cái tiếng “ơi” rất người , rất khó nhầm
lẫn đó. Đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng tôi được
nghe tiếng kêu của con ma Ơi, chỉ vì tôi không có cơ hội tỉnh
giấc như thế lần thứ hai.
Năm
1948, gia đình tôi hồi cư về ngôi nhà cũ trong Thành Nội. Sau
đó chiến tranh lan đến quê tôi. Sau hiệp định Genève 1954, khi
tình hình trở nên yên ổn, tôi có nhiều dịp trở về thăm làng.
Hỏi chuyện bà con về con ma Ơi thì được cho biết là từ khi bom
đạn chiến tranh lan đến , nó không còn xuất hiện nữa, hẳn vì nó
sợ tiếng bom tiếng súng. Thế hệ nhỏ hơn tôi chừng mươi tuổi
không còn có cơ hội để được biết đến con ma trứ danh này.
Có
nhiều giải thích về hiện tượng con ma Ơi giữa những người có học
trong làng. Chẳng hạn, người ta cho rằng đó là tiếng kêu của
một loài chim to lớn đặc biệt nào đó, thường xuất hiện vào mùa
đông, vì cảm ứng với tiếng chuông chùa mà kêu lên, nghe như “ơi”
chứ thật ra chẳng có ma quỉ nào.
* * *
Năm
1986, tại Đà Nẵng, một số đồng hương thuộc các làng Kim Long,
Xuân Hòa, Trúc Lâm, An Ninh Thượng, Hạ, nghĩa là những làng
quanh quanh chùa Linh Mụ, tổ chức họp mặt tất niên âm lịch. Ăn
cơm mới nói chuyện cũ, hầu như ai cũng có một mẩu chuyện quê xưa
để nhắc nhở, để kể lại. Trong cái đà hoài niệm đó, tôi hỏi một
ông cùng làng, nhưng không quen biết, ngồi bên cạnh:
-Nì,
anh cũng là dân An-Ninh, vậy chứ anh có nhớ con ma Ơi làng mình
không? Nghe nói có ông chi đó, tôi quên mất tên, đi cày sớm,
nghe nó “ơi”, liền nói, “Muốn kêu ai thì kêu, ơi chi ơi hoài.”
Sau đó, ông ta bịnh ba ngày rồi chết. Người ta nói tại ông đó
thách nó kêu nên nó kêu ông đi luôn. Có không?
Câu hỏi
khơi khơi như vậy không ngờ lại được mấy ông Xuân Hòa, Trúc Lâm
ngồi gần đó nghe được. Vậy là có ngay một màn tham gia sôi nổi:
-Anh mà
cũng biết con ma Ơi à? Con ma Ơi thuộc làng tui mới đúng. Nó
kêu ngay nới xóm tui mà!
-Không,
nó ở xóm tui. Hồi còn ở làng, về mùa lạnh, tui nghe thường. Cứ
chuông chùa Thiên Mụ dộng mấy tiếng là nó ơi liền. Rõ ràng ngay
trong xóm tui chớ đâu xa.
Hỏi
qua, nói lại, góp chuyện một hồi thì mọi người cùng nhận ra một
điều đặc biệt ở con ma Ơi , là ngoài đặc điểm đúng thời tiết
(đêm đông lạnh lẽo), và đúng giờ (chuông công phu sáng của chùa
Thiên Mụ), tiếng “ơi” của nó to và rõ tới nổi ai cũng có cảm
tưởng nó đang ở trong làng trong xóm của mình, đúng y như cái
cảm nghĩ mà tôi đã ghi nhận trong mùa Đông năm nọ, là nghe như
con ma Ơi đang ở bên bờ sông trước mặt nhà !
Tôi
không buồn đi tìm lời giải thích con ma Ơi là thực hay hư. Thực
hay hư, trong mỗi khía cạnh đều có ý nghĩa riêng của nó, tùy
quan niệm của mỗi người. Cái điều làm tôi thích thú là vai trò
của con ma Ơi trong câu chuyện tất niên của đồng hương năm nào.
Nào Đà
Nẵng với Huế có khác chi mấy về lối sống, ngôn ngữ, tập quán mô
mà cũng bày họp đồng hương cuối năm cho rậm đám? Chung quanh
vẫn đất nước mình, vậy mà vẫn mang cái mặc cảm tha phương cầu
thực, khiến cho câu chuyện con ma Ơi huyền hoặc nọ bỗng trở
thành cái gạch nối làm cho cái tập thể nhỏ kia, những Trúc lâm,
La Chữ, An Ninh, Xuân Hòa xa xứ, đã từng quen biết hay chưa
quen biết, chợt thấy gần gũi nhau hơn, có thể chia xẻ với nhau
những kỹ niệm, những cảm xúc quê hương rất thực.
Nay
chúng ta cách quê hương hơn hai vạn dặm, qua cả một đại dương
rộng lớn mênh mông. Nó lạ cảnh lạ người, lạ từ miếng ăn thức
uống lạ đi. Đây mới thực là tha hương ly tổ, vì đời đổi nên chi
phải đổi đời để mưu cầu cuộc sống. Sao lại không có một ngày
họp mặt với nhau?
NGÀY
HỘI HUẾ, vì thế, là cơ hội để cho những kỹ niệm xưa sống lại, dù
chỉ để nhớ những chuyện tào lao, đại loại như chuyện con ma Ơi
tôi kể, tưởng cũng đủ làm cho Huế mình gần nhau hơn, tìm lại
chút hương xưa./
VÕ HƯƠNG-AN
95-05
Ý kiến, Phê bình xin gửi về :
vohuongan@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |