
Địa phương được đề cập
trong bài này có đến ba tên gọi: Đà Nẵng, Hàn và Tourane. Cả
ba địa danh này đã được mọi người - giới biên khảo cũng như đại
chúng bàn thảo nhiều , hoặc qua sách vở hoặc qua những cuộc mạn
đàm trong buổi trà dư tửu hậu. Những vấn đề được nêu lên ở đây
là: Các địa danh này do đâu mà có? Người ta đã xây dựng nên
những giả thuyết nào quanh các tên gọi đó? Các địa danh ấy có từ
bao giờ?
1)
ĐÀ NẴNG
Nhiều nhà biên
khảo, chẳng hạn ông Thái Văn Kiểm , Linh mục Phan Phát Huờn và
ông Lam Giang đều đồng ý rằng cái tên Đà Nẵng bắt nguồn từ tiếng
Chàm mà ra. Theo Lam Giang, nguyên tiếng Chàm „Hang Danak“ là
bờ biển buôn bán. Còn „Danak“ hay „Darak“ có nghĩa là sông lớn,
tức sông Hàn, mà sông lớn thì cố nhiên việc thủy vận tiện lợi,
buôn bán phồn thịnh . Như vậy, Đà Nẵng là tên gọi do người
Việt đã Việt hoá tiếng Chàm „Danak“ hay „Darak“ mà thành. Một
câu hỏi khác được đặt ra: tên gọi Đà Nẵng có từ bao giờ ?
Thật khó trả lời cho chính
xác câu hỏi này. Sử cho ta biết rằng năm 1305, do cuộc hôn nhân
giữa gái Việt trai Chiêm là công chúa Huyền Trân và vua Chế Mân,
Đà Nẵng đã theo chân hai châu Ô và Lý nhập vào lãnh thổ Việt
Nam. Tuy nhiên, không có tài liệu nào cho phép chúng ta ngày nay
quả quyết rằng danh xưng Đà Nẵng đã xuất hiện ngay sau khi việc
sáp nhập đó xảy ra, dù là đẩy thời điểm này lùi xa hơn về sau,
cho đến hết thế kỷ XIV.
Tài liệu xưa nhất, theo
chỗ chúng tôi biết, có gọi đích danh Đà Nẵng là sách Ô Châu Cận
Lục của một tác giả vô danh viết vào năm 1553, đời nhà Mạc .
Sách này, khi viết về đền Tùng Giang thờ thần Nguyễn Phục có ghi
một câu vắn tắt như sau: „Đền ở cửa bể Tư Khách huyện Tư Vinh ,
còn một đền nữa ở cửa bể Đà Nẵng tỉnh Quảng Nam“ (tr. 73)
Nhưng Nguyễn Phục là ai?
Cớ sao được dân Thừa Thiên và Đà Nẵng đua nhau lập đền thờ phụng
làm thần? Sách Ô Châu Cận Lục kể lại câu chuyện khá chi tiết:
Ông đỗ tiến sĩ năm Quí Dậu,
làm Chuyển vận sứ kiêm Hành khiển đạo Thanh Hóa. Khi (vua)
Thánh Tông nhà Lê còn là ông Hoàng, ông từng làm chức Sư phó dạy
Vương. Khi ngài lên ngôi vua, ông được thăng làm Hàn lâm viện
Tham trưởng. Ba lần đi sứ Bắc quốc, lúc về được cử làm Đại lý Tự
khanh, giữ việc thẩm lý những từ tụng trong nước. Rồi chuyển
sang chức Hữu Tham nghị Bình chính viện, lại làm Đô chỉ huy sứ
Thiêm viện ở Vệ Cẩm y, Thân quân. Hồi vua Lê đi đánh Chiêm
Thành, ông phụng mệnh làm Phi vận tướng quân, Tán lý đội Chuyển
thâu. Thuyền (chở lương) đến cửa bể Tư Khách chợt gặp bão, lộ
trình rất là nguy hiểm . Mọi người sợ lương chậm thì bị tội,
giục ông cho đội thuyền cứ lên đường. Ông nói: --Thà đem tấm
thân bé nhỏ chịu hình phạt búa rìu chứ không nở đem của nông sản
hữu hạn mà để chìm xuống biển, đưa bọn người vô tội làm mồi cho
cá. Nói xong, mới quyết chí cho neo thuyền lương lại.Vì cớ chậm
trễ như thế nên quân lương bị thiếu thốn, vua Lê thấy vận lương
sai nhật kỳ, nổi giận sai giam vào ngục. Bọn cung nhân và cận
thần nhân đó gièm pha với vua, xin giết đi. Đến lúc vua sực
giác ngộ ra, tuyên chiếu tha tội cho ông thì ông đã bị xử tử rồi.
Sau đó thường hiển linh, nên dân địa phương lập đền thờ (tr.73)
Đoạn trích dẫn dài dòng
trên đây thiết tưởng sẽ giúp chúng ta ngày nay soi sáng phần nào
vấn đề đã được nêu ra: danh xưng Đà Nẵng có từ khi nào?
Thực vậy, Ô Châu Cận Lục
viết năm 1553, nhưng lại kể một chuyện liên quan đến Đà Nẵng
vào đời Lê Thánh Tông (1460-1497). Theo tinh thần câu chuyện đã
kể, lại theo tiết lộ có đến hai đền thờ Nguyễn Phục làm thần -
một ở Thừa Thiên và một ở Đà Nẵng - ta có thể hiểu rằng Nguyễn
Phục đã bị giết ở Đà Nẵng. Chính ông thọ tử ở nơi này trong một
tinh thần khẳng khái nên đã hiển linh ở đây và cũng hiển linh cả
nơi đã từng trú quân khiến dân hai nơi đều cảm phục mà thờ
phượng. Việc này chắc phải được đương thời truyền tụng dữ lắm
nên mới có chuyện một tác giả vô danh của non một trăm năm sau
biết đến và ghi chép khá ngọn ngành với đầy đủ yếu tố thời gian
và nơi chốn v.v.
Chính vì vậy, ta có thể
ước đóan rằng địa danh Đà Nẵng phải có trước năm 1470 (là năm Lê
Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành), tức là trước năm Nguyễn Phục
thọ tử . Nếu lạc quan hơn một chút, có thể nói rằng danh xưng
Đà Nẵng đã có từ nửa trước thế kỷ XV.
*
Nhân đây, chúng tôi cũng
xin đưa ra một phát kiến liên hệ tới danh xưng Đà Nẵng. Gọi là
một phát kiến vì đây là một khám phá mới mẻ đối với người Việt (bởi
chưa có ai, chưa có sách vở nào nói tới) về một sự thực vốn đã
hiện hữu bao thế kỷ nay: Đó là việc người Trung Hoa, dù thuộc
bất cứ tỉnh nào, dù ở chính quốc hay hải ngoại, cũng không bao
giờ gọi Đà Nẵng là Đà Nẵng. Họ gọi Đà Nẵng là HIỆN CẢNG hay
MIẾN CẢNG .
Hán Việt Từ Điển của Đào
Duy Anh cho thấy:
HIỆN (
)
: con hến
CẢNG (
) : cửa biển
Hai chữ này được người
Trung Hoa phát âm như sau:
Hải Nam :HÀNH
CÀNG hay HÀNG CÀNG
Phúc Kiến :HIAN
CÀNG
Triều Châu :HIEN
CÀNG
Quảng Đông :HÍN CÓONG
Quan thọai :HÌN
CÓONG
Tại sao lại gọi là Hiện
Cảng ? Phải chăng vì vịnh Đà Nẵng ngày xưa có quá nhiều các
loại sò hến sinh sống ? Điều này rất có thể, vì tại Đà Nẵng còn
truyền khẩu câu ca dao đề cập đến nghề làm vôi hàu (vôi nung từ
vỏ hàu vỏ hến mà ra) ngày xưa tại vùng Nại Hiên bây giờ:
Gió Nam thổi xuống Lò
Vôi
Ai nói với bạn ta có
đôi cho bạn buồn?
Tuy nhiên, chính một số
Hoa kiều trên lục tuần (thập niên 1970) khi được chúng tôi phỏng
vấn đã giải thích như sau:
Từ lâu lắm, không biết vào
đời nào, chỉ biết người Tàu cha truyền con nối bảo nhau khi đi
buôn bằng đường biển về phương Nam mà muốn đến xứ Quảng Nam bằng
Hiện Cảng thì cứ men theo bờ biển, khi trông thấy chỗ nào có
hòn đảo giống hình con hến là theo cửa biển nơi đó mà vào, đó
là Hiện Cảng, không sai.
Hòn đảo nào gần Đà Nẵng có
hình giống con hến ? Những người được phỏng vấn dù biết chuyện
nhưng không thể chỉ ra được. Điều này cũng dễ hiểu, vì mặc dầu
những người này đã lớn tuổi nhưng khi đến lập nghiệp ở Hội An,
Đà Nẵng vào đầu thế kỷ XX họ đã không còn dùng phương tiện di
chuyển bằng thuyền buồm trên lộ trình bắc nam nữa, như tiền
nhân họ đã làm. Như vậy làm sao họ có thể được chỉ cho thấy đâu
là „hòn đảo giống hình con hến“ ? Nghe được nguyên do câu chuyện
để kể lại cho hậu thế đã là điều quí hiếm rồi, hà huống là được
trông thấy hòn đảo !

Tương quan vị trí
của Hòn Sôn Chà, Vịnh Đà Nẵng và Đà Nẵng
(Vịnh Đà Nẵng nhìn theo hướng Bắc-Nam từ trên không)
Để giải đáp câu hỏi: hòn
đảo nào có hình dáng con hến, điều cần nhớ trước tiên là hãy tự
đặt mình vào địa vị của những người Trung Hoa đi biển về phương
Nam ngày trước, nghĩa là phải nhìn hòn đảo từ trên mặt biển và
nhìn từ hướng Bắc. Khảo sát các bản đồ Quảng Nam-Đà Nẵng có tỉ
lệ lớn (1/25,000 hay 1/100,000) có thể thấy rõ duyên hải từ Thừa
Thiên đến Quảng Nam chỉ có hòn Sơn Chà và cù lao Chàm là đáng
để ý hơn cả. Cù lao Chàm là một nhóm đảo, ở xế về phía đông nam
của Đà Nẵng nên không thể là một tiêu điểm tốt để chỉ lối cho
người đi biển đến từ hướng Bắc tìm vào Đà Nẵng được. Chỉ có hòn
Sơn Chà là đáp ứng đầy đủ các yếu tố định hướng cần thiết :
trông từ hướng Bắc trên mặt biển hòn đảo trông giống như hình
con hến hay con sò nhìn nghiêng, đảo lại nằm đúng trên hải trình
Bắc-Nam đối với các loại thuyền buồm cận duyên; đến đảo này thì
vào đúng ngay vịnh Đà Nẵng.
Cũng cần nói
thêm rằng khi viết chữ Hiện (trong Hiện Cảng) đa số viết với bộ
trùng (
)
( vì con hến được xếp vào loại côn trùng ) nhưng cũng có một số
người Hoa viết với bộ sơn (
). Khi được hỏi lý do về sự sai khác này, một vài trong số các
người Tàu lớn tuổi được phỏng vấn đã giải thích rằng những người
viết chữ Hiện với bộ sơn vì họ không được biết nguồn gốc của tên
gọi, không biết được chuyện có hòn đảo giống hình con hến chỉ
lối mà chỉ thấy chung quanh Đà Nẵng toàn là núi non bao bọc nên
họ nghĩ rằng viết với bộ sơn thấy hợp lý hơn. Dầu vậy, số này
không nhiều.
Tóm lại, có một thực tế
không thể nào chối cải - và thực tế này đã xuất hiện từ lâu lắm
rồi, rất khó xác định thời điểm, và vẫn tồn tại cho đến bây giờ
- là người Trung Hoa khi muốn nói đến địa phương mà ngưới Việt
gọi là Đà Nẵng
thì
họ gọi và viết là Hiện Cảng
hay
Tình trạng này ăn sâu vào
tâm trí của ngưới Tàu đến nổi khi thử yêu cầu một số đồng bào
Việt gốc Hoa ở Hội An và Đà Nẵng viết hai chữ Đà Nẵng bằng chữ
Hán thì họ nhanh nhẩu viết ngay hai chữ Hiện Cảng vì yên trí
rằng đó chính là hai chữ mà người Việt đọc là Đà Nẵng. Mời bạn
đọc xem phụ bản về một thiệp mời đề ngày 18-3-1974 của Đông
Phương Ngân Hàng để thấy rõ bằng cớ hiển nhiên về những điều đã
được trình bày.
2) HÀN
Đây là địa danh thông dụng
nhất đối với quãng đại quần chúng ở Thừa Thiên và Quảng Nam, ít
ra cũng dưới thời Pháp thuộc. Hồi bấy giờ, đối với người có Tây
học họ quen nói đến Tourane ; còn đối với đa số, chỉ biết có Hàn.
Hầu như không mấy ai thắc mắc về danh xưng này; chừng như tất
cả đều đồng ý rằng đó là tên gọi thuần tuý Việt Nam của Đà Nẵng
( có nguồn gốc Chiêm Thành). Riêng chúng tôi không nghĩ thế.
Như sách Đại Nam Nhất
Thống Chí (tỉnh Quảng Nam) trích dẫn lại từ tài liệu của Trung
Hoa, là người Tàu đã biết và đã đến giao dịch với vùng đất Quảng
Nam - cái nôi của Đà Nẵng - rất sớm, rất lâu trước khi vùng đất
này trở thành lãnh thổ của Việt Nam. Do đó, theo truyền thống
Hán tộc, người Trung Hoa đã bất kể người dân gọi địa phương đó
là gì, mà tự đặt cho nó một tên riêng để gọi với nhau, do dó cái
tên Hiện Cảng thành hình.
Từ tên gọi này những di
dân Việt Nam đầu tiên khi định cư ở Đà Nẵng đã nghe và Việt hoá
thành Hàn. Nói rõ hơn, chúng tôi nghĩ rằng cái tên Hàn cũng
không có nguồn gốc thuần tuý Việt Nam. Người Việt Nam đã nghe
người Tàu gốc Hải Nam phát âm Hiện Cảng là „Hành Càng“ hay „Hàn
Càng“ mà Việt hoá thành Hàn. Trước khi bày tiến trình luận lý
dẫn đến kiến giải vừa nói, tưởng cũng nên nói rằng không thể
nào quả quyết hay đưa ra một kết luận , dù chỉ là tạm thời, rằng
Đà Nẵng có trước hay Hàn có trước. Tuy nhiên, dù danh xưng nào
có trước đi nữa cũng không ảnh hưởng gì đến giả thuyết vừa nêu
trên và tiến trình luận lý sau đây:
Đối với những vùng đất mới
khai phá hay sáp nhập, chính quyền thường giành lấy quyền đặt
tên để chứng tỏ chủ quyền quốc gia. Tuy nhiên, điều này không
ngăn cản việc dân chúng đặt cho vùng đất đó một tên riêng theo
cảm tính của họ, phù hợp với đặc điểm địa phương, nhất là đối
với những vùng hẻo lánh, nhỏ bé như Đà Nẵng vào buổi sơ khai mới
nhập Việt tịch. Phải đặt tên mới cho dễ gọi vì tên cũ của Chiêm
không phải dễ nghe dễ đọc đối với dân khai hoang. Cách đặt tên
dễ nhất, nhanh nhất, trong trường hợp này là mô phỏng theo tên
sẵn có. Muốn thế, phải hỏi người đang sống ở địa phương rằng:
Đây gọi là gì ?
Nếu người được hỏi là
người Chàm thì câu trả lời là „Darak“ hay „Danak“, từ đó được
Việt hoá thành Đà Nẵng.
Nếu người được hỏi là
người Tàu (Hải Nam) thì câu trả lời là „Hành Càng“ hay „Hàn Càng“,
từ đó được Việt hoá và rút gọn thành Hàn.
Đến đây,có ít nhất ba vấn
đề được đặt ra cho người viết, là:
Tại sao đã có „Đà Nẵng“
rồi, lại còn đặt thêm „Hàn“ ? (Nếu cho rằng Đà Nẵng có trước Hàn)
hoặc tại sao có „Hàn“ rồi, lại đặt thêm „Đà Nẵng“? (Nếu cho rằng
Hàn có trước)
Tại sao lại mô phỏng theo
cách phát âm của người Tàu Hải Nam mà không phải là người Tàu
các tỉnh khác ? Thiếu gì người Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều
Châu, Quảng Tây
qua
làm ăn sinh sống ở Việt Nam .
Tại sao :“Darak“ hay
„Danak“ được Việt hóa thành Đà Nẵng với đầy đủ hai âm tiết , còn
„Hàn Càng“ hay „Hàn Càng“ thì cụt lũn thành Hàn? Sau đây là
những giải đáp:
Để trả lời câu hỏi thứ
nhất, cần biết rằng tại vùng Quảng Nam-Đà Nẵng,trong khi chưa
thấp thoáng bóng người Việt thì bên cạnh người Chiêm đã có người
Trung Hoa đến giao dịch hoặc sinh sống, như sử sách và tài liệu
đã ghi chép. Vì thường lui tới nên phải tìm cách chỉ cho nhau
biết nơi muốn đến. Đà Nẵng được người Tàu gọi là Hiện Cảng là
vậy. Vì sao người Trung Hoa không mô phỏng theo tên địa phương
sẵn có của người Chiêm mà lại đặt tên riêng ? Cần nhớ rằng
người Tàu luôn luôn mang mặc cảm tự tôn của thiên triều, của
con người thuộc đất nước là trung tâm bốn phương thiên hạ (
Trung Hoa) nên thường sáng tác địa danh nước người để dùng
riêng với nhau và không mấy khi chịu tham khảo hay mô phỏng theo
dân địa phương.
Vậy khi người Việt đầu
tiên đến Đà Nẵng thì tại đây đã có người Chiêm và người Trung
Hoa. Đối với cả hai hạng người này người Việt đều có lý do để
làm quen và nêu lên câu hỏi: Đây gọi là gì ?
Hỏi người Chiêm vì người
Chiêm là dân thổ sinh thổ cư. Hỏi người Tàu vì giữa người Hoa
và người Việt từ bao đời vẫn có một mối giao tình quen thuộc;
người Việt hay tin ở „các chú“.
Nếu hỏi người Tàu trước để
có danh xưng Hàn thì việc gì không hỏi người Chiêm thêm nữa, để
xem Hời nó gọi cách sao, và từ đó có thêm tên Đà Nẵng.
Nếu đã hỏi người Chiêm trước để có danh xưng Đà Nẵng thì việc
gì gặp các chú lại không hỏi thêm, để coi các chú gọi nơi này
là gì, vì họ tới trước mình, từ đó có thêm Hàn. Ngoài ra, một
địa phương có nhiều tên cũng không có gì đáng ngạc nhiên và
cũng không có gì để gọi là thừa.
Vấn đề thứ hai : tại sao
danh xưng Hàn mang nguồn gốc Hải Nam ?
Tuy khó viện dẫn sử liệu
thành văn hoặc những thống kê dân số để chứng minh nhưng có một
sự thực hiển nhiên là tại các tỉnh miền Trung (từ Thừa Thiên đến
Quảng Ngãi) thành phần người Hoa gốc Hải Nam chiếm đa số trong
lớp người Tàu đến lập nghiệp. Chúng tôi nghĩ rằng đây không
phải là một hiện tượng mới của thời hiện đại mà chỉ là sự tiếp
nối của một thói quen đã có từ trước, thuở xa xưa.
Thật vậy, so với đồng bào
họ thuộc các tỉnh khác như Quảng Đông, Phúc Kiến, Triết Giang
v.v. thì người Tàu ở Hải Nam có điều kiện thuận tiện nhất để
đến Việt Nam với số đông. Trước hết, họ là dân hải đảo nên rành
nghề đi biển. Thứ hai, với vị trí đặc biệt của nó, Hải Nam gần
như cách đều duyên hải Việt Nam từ Mông Cái đến Quảng Ngãi. Vào
mùa gió thuận, chỉ cần dong buồm một ngày hơn là họ có thể xuôi
về phía Nam, đến Đà Nẵng-Hội An một cách dễ dàng. Theo đường
chim bay, cực nam của Hải Nam, nơi có cảng Yulikan (Du Lân
Cảng), chỉ cách Đà Nẵng chừng 270 km.
Vì sự có mặt đông đảo đó
nên người Việt khi bước chân đến vùng đất mới đã dễ dàng gặp
người Hải Nam trước hết, và qua cách phát âm của họ về cái tên
Hiện Cảng thành „Hành Càng“, Hàn Càng người Việt đã tạo ra địa
danh Hàn.
Câu hỏi còn lại : tại sao
từ Hành Càng Hàn Càng sau khi Việt hoá chỉ còn lại có Hàn?
Có hai lý do để giải thích:
thứ nhất, khi người Hải Nam phát âm hai chữ Hiện Cảng, chữ Hiện
được nhấn mạnh hơn chữ Cảng. Do đó, có thể người Việt đã chú ý
nhiều đến „Hành“ và Hàn và bỏ qua Càng để chỉ còn
lại Hàn mà thôi.
Thứ hai, hơn dân tộc nào
hết, người Việt có một khiếu thẩm âm rất bén nhạy. Cả một rừng
ca dao tục ngữ của nền văn chương bình dân đã chứng tỏ điều đó.
Âm điệu luôn luôn được chú trọng trong ngôn ngữ Việt Nam. Sự
trầm bổng , nhịp nhàng trong câu văn, lời thơ, câu nói, thường
ít khi bị bỏ quên vì đó là yếu tính.
Vì vậy, không lý gì lại
duy trì tiếng Càng sau chữ Hàn để tạo thành một
cái đuôi nặng nề, lổn nhổn khó nghe. Do đó, sự rút gọn thành
Hàn là hợp lý.
2)
TOURANE
Tourane là tên chính thức,
tên pháp định của Đà Nẵng từ 1888 cho đến hết thời Pháp thuộc,
dù rằng trước đó danh xưng này đã có rồi. Cái tên Tourane được
dùng từ bao giờ?
Điều có thể nói được là
danh xưng này chỉ mới thông dụng đối với người Pháp khoảng từ
nửa sau thế kỷ XVIII trở đi, khó mà sớm hơn được. Điều này được
xác nhận qua những tài liệu, sách vở của các giáo sĩ, thương
gia, các nhà hàng hải Pháp viết về Việt Nam từ khi họ tiếp xúc
với nước ta cho đến đầu thế kỷ XIX.
Vậy, trước khi có
Tourane người Tây phương nói chung và người Pháp nói riêng
gọi Đà Nẵng bằng gì ? Giáo sĩ Buzomi, đến Đà Nẵng năm 1615, đã
gọi nơi này là Porte de Kéan . Có lẽ chữ Kéan là do giáo sĩ nghe
từ chữ Cửa Hàn hay Kẻ Hàn mà ra. Bản đồ châu Á do Sanson
d'Abbeville vẽ năm 1652 ghi Đà Nẵng là Turaon Giáo sĩ
Christoforo Borri, đến Đà Nẵng năm 1618, khi viết hồi ký về xứ
Đàng Trong của chúa Nguyễn đã gọi Đà Nẵng là Touron .
Giáo sĩ
Alexandre de Rhodes, đến Đàng Trong năm 1624, từng lui tới Đà
Nẵng nhiều lần , đã gọi nơi này là Turon. Còn trong các bản đồ
do ông vẽ thì vị trí Đà Nẵng được ghi là Cuahan ou Chean ou
Turon hoặc Cuahan
Những danh xưng như
Cuahan, Porte de Kéan, Turon, Touraon đều dần dần biến mất nhanh
chóng. Đến nửa sau thế kỷ XVIII chỉ còn lại Touron và sự thịnh
hành của Tourane. Chẳng hạn bản đồ Đông Duong do giáo sĩ
Prévost vẽ năm 1752, vịnh Đà Nẵng được ghi là Baie de Touron .
Cái tên Touron cũng được nói đến trong lá thư đề ngày 12-2-1778
của Chevallier, thống đốc Chandernagor ( Ấn Độ thuộc Pháp) gởi
cho Toàn quyền Pháp ở Pondichéry.
Cũng đáng kể là một điều
khá kỳ cục khi có nhiều học giả bận tâm bàn luận hoặc
xây dựng những giả thuyết về nguồn gốc cái tên Tourane mà không
hề đả động gì đến những cái tên tiền thân của nó như Turaon,
Turon hay Touron. Làm như trước sau cũng chỉ có một Tourane mà
thôi, quên mất rằng cái tên này chỉ có khi Pháp qua chinh phục
Việt Nam. Điều này sẽ được thấy rõ qua các thuyết sau đây:
Thuyết của ông G. Cordier
G. Cordier, trong cuốn
Cours de Langue Annamite trang 40, đã giải thích về nguồn
gốc chữ Tourane rằng :
„Tourane , theo một vài
người , là lối nói trại chữ Châu Ranh; theo vài người khác, là
nói trại chữ Đà Nẵng (
) mà người Trung Hoa ở Hải Nam phát âm thành Tou-nan, còn người
bản xứ gọi là cửa Hàn. Bulletin de la Société d' Enseignement
Mutuel du Tonkin (B.S.E.M.T.) là một tập san giáo dục. Khi ban
biên tập trích dẫn kiến giải của Cordier để giải đáp thắc mắc
cho độc giả có nghĩa là họ cũng tán đồng giải thích đó. Thực ra,
giải thích ấy chỉ có vẻ hợp lý bề ngoài. Thử hỏi danh xưng
Châu Ranh đã đắc dụng vào thời nào để có thể là nguyên nhân biến
hoá thành Tourane ? Nếu cho rằng Châu Ranh là tên gọi của Hoá
Châu (bao gồm vùng Bắc Quảng Nam, trong đó có Đà Nẵng), một vùng
lãnh thỗ của Đại Việt giáp ranh với Chiêm Thành, vậy cái tên
Hoá Châu quen thuộc trong sử sách đã không được người đương
thời dùng đến hay sao ? Mặt khác, khi Cordier nói Tourane là do
người Pháp phiên âm từ hai chữ Tou-nan (đọc là Tu-nân) theo cách
đọc của người Tàu Hải Nam thì rõ ràng ông ta đã không biết rằng
từ bao đời nay người Trung Hoa không biết tới Đà Nẵng mà chỉ
biết có Hiện Cảng. Vậy họ căn cứ vào đâu để đọc Đà Nẵng thành
Tou-nan ?
Điều chúng tôi muốn bổ túc
để làm vững thuyết này là giả thuyết rằng khi người Pháp đầu
tiên đến Đà Nẵng, không biết nơi này gọi là gì theo cách ghi chú
bằng chữ Hán trên bản đồ nên đã đưa bản đồ nhờ một Hoa kiều ở Đà
Nẵng đọc giúp. Tình cờ, người này lại là một Hoa kiều gốc Hải
Nam , thấy bản đồ ghi hai chữ Đà Nẵng bèn đọc là Tu nân,
thế là ông Tây ghi thành Tourane. Chúng tôi nhấn mạnh là đưa
bản đồ nhờ đọc hộ địa danh đã được ai đó ghi chú bằng chữ Hán,
vì, nếu người Pháp hỏi miệng rằng Nơi này gọi là gì ? thì
câu trả lời sẽ là Hành Càng hay Hàn Càng chứ không
phải là Tou-nan. Khi Cordier nói người Pháp gặp người
Tàu Hải Nam chứ không phải Phúc Kiến hay Triều Châu ông đã làm
mạnh thêm luận cứ chúng tôi nêu ở trước: Hoa kiều Hải Nam có
mặt đông đảo hơn Hoa kiều các tỉnh khác nên người ta dễ dàng gặp
gỡ, thế thôi.
Mặc dù có thiếu sót,
thuyết này tương đối đáng được chấp nhận hơn các thuyết khác -
như sẽ thấy sau đây – vì Tou-nan vừa có thể cắt nghĩa
được sự thành hình của Tourane mà còn giải thích được những danh
xưng tiền thân của nó, như Turaon, Turon, Touron.
Thuyết do ông Thái Văn
Kiểm dẫn.
Khi đề cập nguồn gốc địa
danh Đà Nẵng, ông Thái Văn Kiểm viết: „Có người táo bạo cho rằng
Tourane do hai chữ Châu Ranh, có nghĩa là châu làm ranh giới
giữa nước Việt và nước Chiêm ngày xưa kia. Còn một thuyết nữa,
khá vững vàng, cho rằng Tourane bắt nguồn từ một làng sở tại tên
là Thạc Gián
mà
viết lầm là Tu Gián
vì
hai chữ Thạc và Tu viết gần giống nhau; do đó, qua một người
thông ngôn bất thông, người Tây phương đã phiên âm Tu Gián ra
Tourane.“
Chúng tôi thiết nghĩ,
nếu chấp thuận việc Tourane là do Tu Gián mà ra, thì có hai vấn
đề được đặt ra:
Thứ nhất, nếu Tu Gián
biến thành Tourane thì tiền thân của nó là Turon, Touraon,
Touron do đâu mà ra ? Thứ hai, nếu đã sống ở địa phương hoặc có
nghiên cứu ít nhiều bản đồ hình thể và hành chánh Đà Nẵng người
ta lại càng khó chấp nhận thuyết đã dẫn. Thật vậy, sau khi vào
cửa Hàn, thuyền buồm thường đổ bến tại tả ngạn (khu trung tâm
thành phố ngày nay) là nơi dân cư quần tụ đông đúc và có các cơ
quan kiểm soát của nhà nước. Kể từ cửa sông đi ngược lên, dọc
tả ngạn, người ta sẽ lần lượt gặp các làng Thạch Thang, Hải Châu
chánh xã, Phước Ninh, Nại Hiên Tây. Sau khi lên bờ, băng qua
một trong các làng vừa nói, tiến về phía tây sẽ gặp làng Thạc
Gián. Tại sao lại có người Pháp ngớ ngẩn đến độ không hỏi những
người gặp ngay sau khi đổ bộ mà phải lặn lội vào trong xa, gặp
làng Thạc Gián mới hỏi để rồi từ đó sinh ra lầm lẫn mà thành
Tourane ?
Thuyết của Auguste
Haussmann.
Haussmann là một thương nhân Pháp, cùng đi trên tàu Alcmène của
Fornier Duplan, đến Đà Nẵng vào tháng 6-1845 (đời Thiệu Trị).
Trong cuốn hồi ký Voyage en Chine, Cochinchine, Inde et Malaise,
xuất bản ở Paris năm 1848, có đoạn nói về nguồn gốc danh xưng Đà
Nẵng như sau: „Ngày hôm sau, khoảng 5 giờ sáng, chúng tôi ngược
giòng sông để thăm thành phố hay làng Tourane mà người bản xứ đã
gọi một cách giản dị là Hane (tức Hàn) rồi người Pháp đã sửa lại
cái tên (thành Tourane), vì lý do ngày xưa có một cái tháp dựng
trên lối vào (sông)“ (Le lendemain, à 5 heures du matin, nous
partons par le grand canal pour aller visiter la ville ou
village de Tourane, que les indigènes ont appelé simplement Hane
et dont les Francaises ont altéré le nom à cause d'un tour (sic)
qui s'élevait jadis à son entré
)
Căn cứ vào nguyên văn,
điều nhận xét đầu tiên của chúng tôi là chữ un tour không
ổn và sự sai lầm này không biết do ai, tác giả hay ấn công ?
Trong tiếng Pháp, un tour có nghĩa là một vòng, một lượt,
còn une tour mới là cái tháp. Vì thế, căn cứ vào mạch
văn và ý tác giả muốn nói gì, chúng tôi đã hiểu là une tour
qui s'e'levait một cái tháp dựng lên thay vì bám vào chữ
un tour vô nghĩa.
Theo như trích dẫn vừa nói
thì Haussmann có ý muốn cắt nghĩa rằng chữ Tourane là do người
Pháp ghép hai chữ Tour (cái tháp) và Hane (Hàn) mà thành.
Nói một cách khác, vì ngày xưa trên lối vào sông Hàn có một cái
tháp nên người Pháp đã nhân đó gọi Đà Nẵng là vùng Tháp Hàn tức
Tour Hane rồi biến thành Tourane. Điều này mới nghe qua thấy
cũng có vẻ lý thú vì nghe ra khá hợp lý, nhưng xét lại thì
thuyết này không đứng vững được vì không giải thích được hai câu
hỏi sau:
-Tháp nào được dựng lên
trên lối vào sông Hàn ? Dựng vào thời nào ? Để kỷ niệm ai hay
ghi nhớ điều gì ?
-Nếu do Tour Hane
mà thành Tourane thì những danh xưng có trước Tourane như
Turon, Touraon, Touron do đâu mà có, trong khi những cách gọi
này đã được những người đến Đà Nẵng trước Haussmann cả trăm năm
dùng đến rồi ?
Tóm lại, nguồn gốc cái tên
Tourane quả đã gây cảm hứng cho nhiều người, làm nảy sinh nhiều
giả thuyết, nhưng xem ra chả có thuyết nào chấp nhận được , vì
không vấp khuyết điểm này thì cũng rơi vào khuyết điểm khác.
Thành ra, cho đến nay vấn đề nguồn gốc danh xưng Tourane vẫn
chưa được giải quyết. Ngày nay cái tên Tourane đang đi dần vào
lãng quên đối với mọi người nhưng dầu sao nó cũng đã có mặt
trong lịch sử, không thể không ghi lại như dấu tích một thời