NHỮNG SAI LẦM ĐÁNG TIẾC



 

    

Cuốn hồi ký của vua Bảo Đại -- Con Rồng Việt Nam, ấn bản tiếng Việt, do Nguyễn Phước Tộc xuất bản tại Mỹ năm 1990, Đại Nam tổng phát hành – ra đời đến nay cũng đã hơn 14 năm, vậy mà nay tôi mới lên tiếng, kể cũng quá muộn .  Tôi bắt gặp cuốn sách này trên kệ sách trong Thư viện của thành phố San Jose, khu Việt ngữ. Có thể có người đã viết về những điều giống như tôi sắp trình bày, nhưng tôi không được đọc; cũng có thể có người đọc dư biết những chỗ sai lầm đó nhưng kính trọng tác giả nên không lên tiếng v.v.  Riêng tôi, xin được lên tiếng, dù muộn màn,  vì không muốn xảy ra những sai lầm dây chuyền về sau, tội cho thế hệ tương lai, khi quá khứ đã trở thành dĩ vãng xa xăm mịt mờ; và nhất là do lòng tôn kính đối với tác giả, vốn là một nhân vật có một không hai trong lịch sử, dám từ bỏ ngai vàng không một chút luyến tiếc để tiết kiệm xương máu cho nhân dân, khác với bao kẻ tham quyền cố vị xưa nay,

 

Cuốn sách được đề Nguyễn Phước Tộc  xuất bản , không địa chỉ, không có tên người dịch, nhưng có lời tựa rất long trọng . Như vậy, có thể hiểu nhà xuất bản đã ý thức rằng đây là một tài liệu quan trọng, hữu ích, và cần thiết, không phải riêng chi cho con cháu Nguyễn Phước Tộc mà cả đến mọi người khác hằng quan tâm đến lịch sử nước nhà.  Thế có nghĩa là cuốn sách đã được biên dịch một cách trung thực , cẩn trọng, và khi nhà xuất bản cho ấn hành hẳn đã chăm sóc kỹ từ hình thức đến nội .dung, nhưng tiếc thay, đã có những điểm sai lầm khó hiểu.   Chẳng hạn, tác giả (?) đã lẫn lộn giữa danh hiệu của mẹ và bà nội, đã không nói đúng được cái nơi mình ở gọi là gì.

 

Sai lầm về danh hiệu

            Trang 38, CRVN, sách đã dẫn, viết:

            “ Đức Đoan Huy Hoàng thái hậu, bà nội tôi (VHA nhấn mạnh), cũng cho gọi tôi đến.  Ngài cũng hỏi tôi cả trăm ngàn câu hỏi về những ngày lưu trú ở Paris.  Bà nội tôi có thể so sánh  như Hoàng hậu Catherine de Medicis.  Khi cha tôi băng hà, và tôi còn ở xa, bà luôn cẩn mật giữ gìn  để ngôi Vua phải được  truyền lại cho tôi.  Để đánh tan mọi âm mưu thoán đoạt, chính Ngài đã giữ ngai vàng cho tôi vậy.”

 

    Đến trang 52, sách viết:

            “Đến trưa, tôi vào yết kiến chính thức hai Đức Hoàng thái hậu, là Đức Đoan Huy Hoàng Thái Hậu và đức Thứ Phi của vua Đồng Khánh, bà nội tôi (VHA nhấn mạnh), cả hai vị đều là vợ của vua Đồng Khánh, và do cha tôi tôn phong khi ngài lên làm Hoàng đế. . . Tôi cũng sang kính thăm thân mẫu tôi , Đức Từ Cung Thái Hậu (VHA nhấn mạnh), ngự ở một cung điện sát cạnh hai Đức Quốc Thái

 

            Hầu như không riêng chi những người trong Hoàng tộc hay cựu quan lại của triều đình Huế, mà nhiều người khác cũng biết rằng thân mẫu của vua Bảo Đại là Đoan Huy Hòang Thái Hậu, thường gọi là Đức Từ Cung.  Vậy mà ở đây, “tác giả” lại phân làm hai, đem cái danh hiệu Đoan Huy Hoàng Thái Hậu, vốn là của mẹ, do chính tác giả tấn tôn,  kính biếu cho bà nội đích,  và dành cái tên thường gọi Đức Từ Cung, ghép thêm hai chữ Thái hậu , để kính tặng mẹ mình.  Đó là một sai lầm khó hiểu điển hình.

            Cũng như mọi ông vua khác, vua Đồng Khánh (1885-1889) -- thân sinh vua Khải Định (1916-1925), ông nội của vua Bảo Đại (1926-1945) -- có nhiều vợ và cung phi, trong đó có hai bà được tác giả CRVN đề cập.  Bà thứ nhất là vợ cả, con gái của Vĩnh Lại Quận Công Nguyễn Hữu Độ, được phong làm Hoàng Quí Phi (tức Hoàng hậu của Nhà Nguyễn) ngay sau khi cưới, thường được giới cung đình gọi là Đức Thánh Cung; bà thứ hai, sinh ra vua Khải Định, là con gái của Phú Lộc Quận Công Dương Quang Hướng, thường được gọi là Đức Tiên Cung.  Sau khi lên ngôi, vua Khải Định làm lễ tấn tôn hai bà mẹ lên làm Hoàng Thái Phi, rồi đến năm 1924 mới tấn tôn bà Thánh Cung (mẹ đích) làm Khôn Nguyên Hoàng Thái hậu, và bà Tiên Cung (mẹ đẻ) làm Khôn Nghi Hoàng Thái hậu.  Đến năm 1933, vua Bảo Đại tấn tôn hai bà nội lên làm Thái Hoàng Thái hậu.

 

 Cũng trong  năm đó, 1933, vua Bảo Đại  tấn tơn mẹ là bà Nhất giai Huệ Phi Hoàng Thị Cúc làm Đoan Huy Hòang Thái Hậu. là tước vị chính thức, trong đời sống thường thì giới cung đình cũng như ngịai dân chúng, gọi bà là Đức Từ Cung, hay khi chỉ vắn tắt là Đức Từ, một cách đơn giản để gọi bà mẹ của ông vua đang tại vị.

 

Không biết rõ chỗ ở của mình!

            Trang 15, sách viết :

            “Tại điện Cận Thành là nơi cung điện cuối cùng của hoàng thành, một đội thị vệ đã túc trực sẵn sàng.”

            Đến trang 42, cái tên Cận Thành được lặp lại:

            “Linh cửu được rước ra lăng của Ngài, đã được xây từ lúc sinh tiền.  Bắt đầu rước từ cung Cận Thành ra cửa phía đông hoàng cung là cửa dành cho các vị hoàng đế băng hà.”

            Cung là cung, điện là điện.  Các vua Nhà Nguyễn khi đặt tên cho những ngôi nhà trong Đại Nội là cung này điện nọ là có ý phân biệt về công dụng và ý nghĩa, chứ không phải tùy tiện, cùng một cơ sở mà muốn gọi cung hay điện cũng được. Mặt khác, trong Đại Nội, không có một cung hay điện nào tên là Cận Thành cả, chỉ có điện Càn Thành.  Trước khi  điện Kiến Trung được xây dựng để làm chỗ ăn ở và làm việc của vua trong thời đại mới, thì điện Càn Thành là nơi ăn ở của càc vua Nhà Nguyễn.  Mặc dầu  vua Bảo Đại không còn ở trong điện Càn Thành nữa, nhưng chẳng lẽ vua không biết có cái điện tên Càn Thành, một trong những điện quan trọng của Tử Cấm Thành?  Thật là khó hiểu.

 

Những chuyện nhỏ khác         

            Ngoài hai chi tết căn bản vừa nói, còn có những sai lầm “nho nhỏ” khác, làm cho người đọc lấy làm tiếc cho sự hoàn hảo của một cuốn sách của một nhân vật đáng kính như thế.  Chẳng hạn:

 

1)     Gọi cái hốt của vua cầm trên hai tay trong lễ đại triều là “gậy ngọc” (tr. 23).  Tên chính thức của nó là ngọc trấn quê, hay nói theo kiểu thông thường là hốt ngọc.  Vua đã dùng nhiều lần rồi, sao lại không biết tên vật này?

2)     Hôm sau, tôi đến lăng thờ Đức Nguyễn Kim, là vị khai sáng ra dòng chúa Nguyễn, và thủy tổ của các vị Tiên đế. . . “  Lăng Đức Nguyễn Kim ở tại Thanh Hóa, gọi là lăng Trường Nguyên, ở núi Triệu Tường, thuộc Gia Miêu Ngoại Trang, huyện Tống Sơn.  Ở Huế chỉ có Triệu Miếu trong Đại Nội để thờ Đức Nguyễn Kim, đã được vua Gia Long truy tôn làm Triệu Tổ Tĩnh Hoàng Đế.  Vua Bảo Đại từng tới đây cúng tế nhiều lần, chẳng lẽ không biết?

3)     “Hoàng đế chấp thuận, và một vị quan trong Bộ Lại (tức Bộ Nội Vụ) đến lấy tờ sắc  chỉ để trong ống quyển, có đầu chim Phụng bằng vàng, cho rước ra phòng sắc chỉ.  Tại đây, sắc chỉ được niêm yết trước khi được đem phổ biến cho các cơ quan  và các tỉnh.” (tr.23).  Thực ra, không làm chi có cái gọi là phòng sắc chỉ.  Thưa, đó là Phu Văn Lâu, nơi niêm yết những mệnh lệnh và thông báo của nhà vua, chẳng hạn các chiếu, dụ, v.v.  Chẳng lẽ tác giả không biết? 

4)     “Ba ngày sau, lại một lễ nữa tổ chức ở triều đình để các quan đến dâng Vua lời xưng tụng, đựng trong một hộp gỗ sơn son thếp vàng, và phủ một vuông nhiễu điều.” (tr. 23).  Vua dư biết đó là tờø hạ biểu, nhưng sao phải diễn tả dài dòng như thế?  Cứ trong hoặc sau những dịp lễ long trọng, triều đình thường dâng lên vua lời chúc mừng, gọi là hạ biểu.

5)“Sau đó, theo đúng lễ nghi, tôi phải đến một mình trước nhà Thái Miếu, lễ trước bàn thờ Đức Vua khai sáng Gia Long, mà  tất cả các vị Hoàng đế kế tiếp đều phải vào lạy khi lên ngôi, như một hình thức tuyên thệ.” (tr.41) Không, ở Thái Miếu không có bàn thờ vua Gia Long. Vua Gia Long được thờ ở căn giữa của Thế Miếu.  Thái Miếu là nơi thờ các chúa Nguyễn.  Cựu Hoàng dư biết điều đó.

6) “Quen cái mùi lấn át đó, chính phủ Pháp lại dựa vào một thiểu số ở triều đình để đưa người em út của vua Thành Thái, lên nối ngôi, lấy hiệu Duy Tân, mới lên bảy tuổi.” (tr, 73).  Ai cũng biết, vua Duy Tân là con thứ của vua Thành Thái.

7)     “Chiều hôm ấy chúng tôi ra Quảng Trị, khỏi Mỹ Chàm, chúng tôi có gặp một đoàn quân xa Nhật . . . “  (tr.176). Vua đi săn ở Quảng Trị biết bao nhiêu lần.  Hẳn vua biết chỗ đó là Mỹ Chánh chứ không phải Mỹ Chàm.

8)     “Ngày hôm sau, ở dinh La Grandière( sau này là dinh Độc Lập) . . . (tr. 432)  Một độc giả nào đó đọc đến đây, có lẽ bực mình quá, bèn lấy bút ghi ngay  bên lề rằng “Dinh Độc lập là Dinh Norodom cũ! Nguyễn Phước Tộc xuất bản mà không biết gì cả?!” (xem hình trang sách được chụp lại)

Trên đây chỉ là những tình cờ bắt gặp trong khi đọc.  Nếu đọc thật kỷ, có thể tìm thấy những sai lầm khác. 

 

Thử tìm một lời giải đáp

           

            Không lẽ một cựu hoàng đế viết hồi ký mà lại vấp những sai lầm đáng tiếc như vậy sao?  Hỏi như thế nên tôi phải tự đi tìm cho mình một lời giải đáp.

Tôi đem thắc mắc này hỏi anh Nguyễn Cúc, chủ biên tạp chí Tiếng Sông Hương ở Dallas, Texas, người có nhiều dịp gặp gỡ Cựu Hoàng ở Pháp.  Anh cho biết:  trong một lần đến thăm Cựu Hoàng, nói chuyện về cuốn hồi ký Con Rồng Việt Nam bằng tiếng Việt xuất bản ở Mỹ thì Cựu Hoàng nói ngài không biết gì về việc đó cả, không ai nói năng thưa gởi chi với ngài về việc đó cả. 

            Tôi được biết ấn bản nguyên thủy của tác giả viết bằng tiếng Pháp.  Thông tin do anh Nguyễn Cúc cung cấp khiến tôi nghĩ rằng chắc chắn đã có một sự sai lầm nào đó trong khi chuyển ngữ từ tiếng Pháp sang tiếng Việt.  Muốn kiểm chứng điều đó, phải đọc cho được  bản tiếng Pháp.  Nhờ sự giúp đở của bạn bè, tôi đã có trong tay cuốn Le Dragon d’ Annam. (DDA) do nhà Plon xuất bản ở Pháp năm 1980, để so sánh với bản tiếng Việt xuất bản ở Hoa Kỳ năm 1991.

            Sau khi đối chiếu, có thể thấy mọi việc sáng tỏ y như tôi đã suy nghĩ.  Trong nguyên bản tiếng Pháp không có những sai lầm đáng tiếc như trong bản tiếng Việt xuất bản lần đầu vào năm 1991.

Chính người phiên dịch khuyết danh nào đó đã tạo ra những sai lầm đáng tiếc ấy, và điều này đã không được nhà xuất bản quan tâm.  Không phải do ông ta (?) yếu kém về ngôn  ngữ, trái lại, ông ta rất giỏi tiếng Pháp và tiếng Việt, nên chuyển dịch rất nhuần nhuyễn.  Điều làm cho ông ta chuyển dịch sai là  thiếu kiến thức về văn minh Nhà Nguyễn. Tôi nghĩ, nếu Cựu Hoàng hay người có thẩm quyền duyệt lại bản dịch trước khi xuất bản thì có lẽ sẽ không có những sai lầm như đã dẫn, hoặc ít ra, thì cũng ít sai lầm hơn.  Tôi tin rằng anh Nguyễn Cúc đã nói đúng khi tiết lộ rằng Cựu Hoàng đã không hay biết gì về ấn bản tiếng Việt ở Hoa Kỳ, nghĩa là trong việc xuất bản này  có chỗ không được ngay thẳng.

 

Con đường dẫn đến sai lạc

Cũng như các nhân vật quan trọng khác khi viết hồi ký, chắc chắn Cựu Hoàng Bảo Đại không tự tay cầm bút (cũng kiểu như hồi ký của Hillary và Clinton mới đây) mà chỉ kể lại trong máy ghi âm cho một ông Tây nào đó có khả năng viết lách  chấp bút.  Nếu thấy có điểm nào không được sáng tỏ, người chấp bút có thể đặt thêm câu hỏi. Nếu tác giả có tài liệu, sẽ cung cấp cho người viết, nếu không, anh ta phải lục tìm trong văn khố và thư viện để bổ sung, theo lời tác giả yêu cầu.

Nếu tác giả và người viết có cùng một ngôn ngữ và văn hóa thì mọi việc dễ dàng.  Ở đây, một ông vua Việt Nam kể chuyện Việt Nam thời xưa cho một ông Tây nghe để viết lại, trong đó có những chi tiết đặc thù mà văn hóa Pháp không có.  Trong trường hợp đó, chính vua Bảo Đại phải phiên dịch, phải cắt nghĩa để cho người chấp bút hiểu, có vậy mới viết được.  Hãy lấy một vài dụ:  thay vì nói Thế Miếu, vua đã gọi là temple des ancêtres (DDA., p.25); thay vì gọi điện Thái Hòa, vua nói là la Salle du Trône (DDA., p.25); thay vì gọi là hạ biểu, vua nói une lettre de félicitations (DDA., p.15),

Đến khi người phiên dịch chuyển ngữ, nếu chỗ nào biết được nghĩa tương đương của Việt Nam thì ông ta dịch đúng -- ví dụ: les Illustres Empereurs d’autrefois (D DA.,p.13) dịch là Hoàng triều liệt thánh trước đây (CRV N., tr.19) là rất đúng ngôn ngữ thời đại -- còn không thì ông ta cứ theo từng chữ mà dịch, bởi vậy mới xảy ra chuyện sceptre de jade (D DA., p.14) thành gậy ngọc  (CRVN, tr.21) une lettre de félicitations (D DA.,p.15) thành lời xưng tụng (CRV N., tr.23), pavillon des Edits (D DA., p.14) thành phòng sắc chỉ (CRV N., tr.23) v.v.

Việc đó cũng thường thôi, vì ai cũng có thể gặp phải trong việc dịch thuật, bởi vì thông thạo ngôn ngữ của mọi thời đại không phải là điều dễ dàng.  Cái điều đáng trách là dịch giả khuyết danh nào đó đã “phịa” thêm ra, và chính điều này mới đưa đến tình trạng sai một ly đi một dặm, những sai lầm mà tôi gọi là khó hiểu.  Xin nêu vài ví dụ để dẫn chứng:

Ví dụ 1: Nguyên văn “ L’Impératrice douairière me fit appeler.” (p.25) thì dịch giả đã nhanh nhẩu dịch là “ Đức Đoan Huy Hoàng thái hậu, bà nội tôi, cũng cho gọi tôi đến.” (tr.38) .  Nếu  dịch giả cứ dịch y từng chữ thì ý nghĩa sẽ không có gì sai cả.  Ở đây, vớ được đâu đó cái danh hiệu Đoan Huy Hoàng thái hậu, và nghĩ rằng đó chính là danh hiệu của bà nội  vua, nên người dịch đã tự ý  thêm vào, với thiện chí làm  cho sáng tỏ, cho đầy đủ hơn, đâu biết rằng đã đem râu ông nọ cắm cằm bà kia, tạo nên sai lầm đáng tiếc. 

 Lỗi này được lặp lai ở cuối trang 52 trong bản Việt ngữ.  L’Impératrice douairière nói trong sách chính là bà vợ thứ nhất của vua Đồng Khánh, được vua Khải Định tấn tôn làm Khôn Nguyên Hoàng Thái Hậu (1924) và vua Bảo Đại tấn tôn làm  Thái Hoàng Thái Hậu (1933), giới cung đình thường gọi là Đức Thánh Cung.

Ví dụ 2:  nguyên văn ,“Le lendemain matin, je me rends seul au temple de mes ancêtres.  Un septième autel a été érigé à la mémoire de mon père, l’empereur Khai Dinh.” (p.34) đã được dịch thêm là, “Sáng hôm sau, tôi đi một mình đến nhà Thái Miếu.  Nơi đây đã đặt bàn thờ thứ bảy để thờ cha tôi là Hoàng đế Khải Định.” (tr.52)

Ở đây cũng vậy, chỉ vì dặm thêm hai chữ Thái Miếu nên trở thành sai.

Để phụng thờ tổ tiên, Nhà Nguyễn đã xây trong khuôn viên Đại Nội bốn miếu và một điện.  Triệu Miếu để thờ Triệu tổ Tĩnh Hoàng Đế Nguyễn Kim; Thái Miếu để thờ các chúa Nguyễn; Hưng Miếu để thờ thân sinh và thân mẫu vua Gia Long; Thế Miếu để thờ các vua Nhà Nguyễn, từ vua Gia Long trở đi.  Ngoài ra, vì phái nữ không được phép đến các miếu nên vua Minh Mạng đã cho xây điện Phụng Tiên làm nơi thờ cúng có tính cách gia đình để cho các bà có thể tới đó làm tròn bổn phận thờ kính tổ tiên.  Vì vậy, nói rằng vua Khải Định được thờ ở Thái Miếu là sai lầm.  Lẫn lộn  giữa Thái Miếu và Thế Miếu được lặp đi lặp lại ở các trang 21, 40, và 52 trong bản tiếng Việt.

 

Cũng do không biết trong Đại Nội có điện Càn Thành nên khi thấy bản tiếng Pháp viết palais Can Thanh, liền đọc là Cận Thành, rồi cũng không biết dinh Grandière đã được đổi làm dinh Gia Long nên  mới chú thích ẩu  “sau này là dinh Độc Lập”, khiến một độc giả nào đó đã phàn nàn ngay trên trang sách.

 

  Qua lời tựa, tôi thấy nhà xuất bản đã có một mối hảo cảm và trân trọng đối với tác giả.  Nhưng khi xuất bản sách mà không kiểm soát kỹ để cho những sai lầm đáng tiếc đó xảy ra thì thật là trái với tinh thần của bài Tựa. Vì vậy, vì uy tín của tác giả,  vì uy tín của Nguyễn Phước Tộc, vì nhu cầu hiểu biết quá khứ một cách trung thực và chính xác của thế hệ tương lai, tôi thiết tha đề nghị nhà xuất bản (?) nên hiệu đính cẩn thận bản dịch khi tái bản./

 

VÕ HƯƠNG-AN

8/2004 

 

  Ý kiến, Phê bình xin gửi về : vohuongan@khoahoc.net

 

    

Trở về Trang Chính