|
Trong chuyện Mahakapijakata, kiếp
ngài là một chúa khỉ mạnh dạn, lãnh đạo một bầy tám vạn con ở
miền núi tuyết Himavant (Hy mã lạp sơn). Trên bờ sông Ganga
(Hằng hà) có một cây xoài cao lớn, quả trái sum sê mà lại ngon
ngọt. Đến mùa trái chín, cả bầy khỉ mặc sức hái ăn. Hồi ấy ở
Baranasi (Ba la nại) có vua Brahmadatta trị vì. Muốn chiếm lấy
cây xoài, nhà vua sai lính bủa lưới trùm cây hầu bắn chết bầy
khỉ. Để cứu chúng, đức Phật cắt dây làm cầu cho bầy khỉ vượt
lưới. Rủi đo lầm dây thiếu một đoạn, đức Phật liền lấy thân thế
dây cho bầy khỉ đạp lên chạy trốn. Trong đám tùy tùng của nhà
vua có một người bà con với đức Phật tên là Devadatta (Đề bà đạt
ba) thường hay ganh tỵ và có lòng căm ghét Ngài. Trèo lên cành
cao, anh ta nhảy xuống giậm thân đức Phật làm Ngài rơi xuống
đất, tử thương. Nhà vua theo dõi sự việc từ đầu, rất cảm kích
trước hành động của chúa khỉ, cho mang lên giường săn sóc và hỏi
han sự tình. Trước khi viên tịch, đức Phật nhân đó khuyến khích
nhà vua phải luôn làm tròn phận sự bảo vệ hạnh phúc cho người
dân bần cùng cũng như nhà chiến sĩ hào kiệt. Nhà vua truyền lệnh
tổ chức lễ hỏa táng theo nghi thức một vị quốc vương và cho xây
một ngôi tháp để đặt thánh tích của đức Phật. Sau đó, nhà vua
sống và trị vì đúng với những lời dạy của Ngài (1).
Duyên nợ đức Phật với cây xoài
không chỉ có ở đời tiền thân. Sau nầy, trong sách vở còn thấy
Ngài ở Jetavana (Kỳ đà viên), lúc vua Prasenajit (Ba tư nặc) tổ
chức một cuộc tranh luận giữa Ngài và 6 vị chủ trì những giáo
phái cùng thời. Thấy như lần nầy, tài hùng biện của Ngài không
đủ để thuyết phục các vị kia, và mặc dầu ít thích dùng đến những
quyền lực siêu nhiên, Ngài cho mọc lên một cây xoài lộng lẫy đầy
trái (theo các môn phái phương bắc, Ngài xuất hiện trên một toà
sen một nghìn cánh), ngồi xuống gốc cây rồi vươn lên trên không,
cho tỏa ra bốn phương nào lửa nào nước trước khi biến hóa thân
mình ra thiên hình vạn trạng, một hiện tượng mà môn hình tượng
học gọi là Phép lạ Sravasti (Xá vệ). Đằng khác, vào thời vua
Bimbisara (Tần bà sa la), vị lương y Jivaka (Kỳ bà) được nhà
vua cử chăm nom sức khỏe cho tăng đoàn, tặng đức Phật một công
trình xây dựng to lớn gọi là « vườn xoài » Jivakambavana. Sau
nữa, vào gần cuối đời, sử Phật kể Ngài ở lại trong một vườn xoài
của bà Ambapali ở vùng Vaishali (Tỳ xa li). Người kỷ nữ nầy sắc
đẹp vô song , thường đi lại với nhiều vị quốc vương. Truyền
thuyết bảo bà đã có một đứa con với vua Bimbisara, hoàng tử nầy
đã sớm theo làm đồ đệ đức Phật. Ngay bà Ambapali cũng xin thọ
giáo theo Ngài. Ngay sau khi Ngài nhận lời đến dùng cơm ở nhà
bà, những hoàng thân Licchavi của Hợp ban Vrji (Bạt kỳ) cũng
muốn mời Ngài, Ngài nhất thiết từ chối để giữ lời hứa với bà
Ambapali, bất chấp quan niệm đẳng cấp rất khắc khe thời ấy. Sau
đó, bà cúng dường toàn cánh vườn xoài cho đức Phật, trở nên một
nơi được hậu thế ghi chép và viếng thăm. Ngài ở đó ít lâu trước
khi lên đường di Beluva Grama và mắc bệnh…
(2)

Ảnh của
tác giả : Hình tượng phép lạ Sravasti, phong cách Gandhara,
trình bày ở Viện Bảo tàng Á Đông Guimet, Paris.
Xoài là
một cây cao khoảng 15-20 m, tươi xanh suốt năm, lá nguyên, thuôn
dài, rộng 5-7 cm, dài 15-30 cm, trái khá to, hình thận, thịt
mọng nước, thơm, ngon, ngọt, hạch dẹt, cứng, ngoài có những thớ
sợi. Cây xoài nguồn gốc ở các nước nhiệt đới Á Đông như Ấn Độ,
Myanmar, Mã Lai, Việt Nam,…, nay mọc cả bên các nước nhiệt đới
Phi châu, Mỹ châu và vài nước ở Âu châu. Thuộc họ Đào lộn hột
Anacardiaceae, xoài mang tên La Tinh Mangifera indica
L. Người Âu Mỹ gọi nó là mango, mangue, manguier, từ danh từ
manga của Malabar. Tuy mang cùng tên, nó có hàng chục loại ở Á
châu : Alphonso, Chausa, Safeda,…(Ấn Độ) ; Keaw, Khieo,
Sawoei,…(Thái Lan); Sannian, Lusong, Martssu,…(Trung Hoa) cũng
như ở Mỹ châu : Cheiro, Chana, Bacuri,…(Brazyl) ; Paheri, Adams,
Zill,…(Puerto Rico) ; Kensington (Hoa Kỳ) ; Úc châu : Bowen.
Swai là tên Campuchia, bên Lào gọi nó mak mouang. Ở bên ta, cây
xoài trồng phổ biến khắp miền Nam, tại miền Bắc nhiều nơi như
Yên Châu (Sơn La) cũng đã trồng. Bên cạnh xoài cơm, xoài thanh
ca, hai loại thường gặp là xoài tượng, trái lớn, và xoài cát,
trái nhỏ và dẹp hơn nhưng cũng ngọt hơn. Ngoài ra, ở ngoài Bắc,
còn có cây quéo Mangifera reba và cây muỗm Mangifera
foetida trái gần giống xoài nhưng vỏ dày, vị chua hơn và kém
ngọt (*).
Xoài có
mùi thơm tho, lẽ tất nhiên các phòng khảo cứu đã xem xét cấu
chất của nó, chú trọng nhiều đến những hoá chất dễ bốc hơi. Song
trên thế giới ngày nay có nhiều loại, theo khí hậu, đất đai, có
thành phần không giống nhau, từ đấy hương vị cũng rất khác nhau.
Bên Ấn Độ, trong 152 chất hương đã được xác định trong trái xoài
Alphonse tươi, chín, 90% là mono và sesquiterpen. Trong trái
xoài Safeda, sesquiterpen chiếm 50% gồm có humulen,
caryophyllen, selinen, gurjumen,… Farnesolid và farnesendiol là
thành phần sesquiterpen vỏ thân xoài Chausa. Ở Thái Lan, trái
xoài Sawoei chứa nhiều nhất hexanal, hexenal, hexenol, terpinen,
ocimen, còn trong xoài Keaw thì bên cạnh hexanal, hexenal, đã
tìm ra được terpinolen, furanon, caren, pinen, damascenon ,…Bên
Trung Hoa, nếu xoài Sannian rực mùi terpinolen, những loại ít
thơm hơn như Lusong, Martssu không có chất ấy nhưng chứa đựng
caryophyllen. Ở Brazyl, Venezuela, tùy theo loại, ở mỗi loại,
nhiều nhất là terpinolen, caren, ocimen hay myrcen. Terpinolen
cũng là chất có nhiều nhất cùng với ethyl butanoat bên cạnh
những ester trong số những chất dễ bốc hơi của xoài Bowen và
Kensington. Nói chung, terpinolen, caryophyllen (mùi hoa) cùng
caren (mùi hắc cay), myrcen, ocimen (mùi cỏ) có mặt trong đủ
loại xoài và thường là những chất nổi trội, hòa lẫn với những
chất tuy số lượng ít hơn cũng góp phần vào mùi hương đặc biệt
của xoài : acetophenon, phenylacetaldehyd (mùi ngọt), humulen,
valencen (mùi hoa), pinen (mùi hương), trichloroethylen (mùi
trái), selinen (mùi hạnh), toluen (mùi bơ, đường thắng), limonen
(mùi chua), phellandren (mùi mỡ), cymen (mùi cỏ), acetylfuran
(mùi nhựa), benzaldehyd (mùi gỗ), dimethyl sulfid (mùi lưu
huỳnh)…(5)
Vỏ cây
xoài chứa nhiều chất phenolic : mangiferin, catechin,
epicatechin, những gallic, benzoic, hydrobenzoic acid cùng những
ester. Bên Ấn Độ, trong vỏ cây xoài Desi có mangdesisterol,
mangfarnasoic acid, mangeudesmenon, trong vỏ cây xoài Dusehri có
mangsterol, manglupenon, mangcoumarin. Mangiferin cùng với
isomangiferin, homomangiferin là những xanthon có nhiều nhất
trong các loại xoài Ai Cập. Vỏ hạch xoài chứa sitosterol,
catechin, epicatechin, leucocyanidin. Một số hóa chất đã được
xác định trong thân cây xoài : mangiferin, kaempferol,
astragalin, quercetin, isoquercetin trong lá ; mangiferin,
quercetin isoquercetin, gallotannin, những ellagic, gallic,
digallic và trigallic acid trong trái ; dihydrogallic và 6
alkylgallat trong hoa ; quercetin, isoquercetin, gallotannin,
gallic và digallic acid trong chùy hoa. Nói chung nếu
gallotannin tìm ra được nhiều ở trái chưa chín và hạch,
mangiferin có nhiều ở lá, cành và rễ cây. Là một flavonoid chất
sắc của xoài, mangiferin đã được khảo cứu nhiếu từ những thập
niên 50 và một cấu tạo tetrahydroxanthon đã được đề nghị, xác
nhận dưới hình thức C-glycodid. Ở Việt Nam ta đã có chiết xuất
nó từ vỏ thân và lá cây (9), dùng bức xạ bảo quản
trái (14) trong khi ở Trường Đại học Tổng hợp Cần Thơ
đã có khảo cứu phương cách cải tiến chất lượng xoài cát Hòa Lộc
trồng ở đồng bằng sông Cửu Long (26).
Về chất
sắc, ngoài mangiferin, xoài còn chứa ở lá và trái anthocyanin,
chlorophyl, carotenoid. Trong loại xoài Keitt, carotenoid gồm có
caroten, violaxanthin và violaxanthin. Khi ép nước xoài,
volaxanthin biến mất, nhường chỗ cho auroxanthin và caroten trở
nên carotenoid nhiều nhất. Nói chung, caroten thường là
carotenoid nổi trội nhất trong các loại xoài trước luteoxanthin
và violaxanthin. Song song với caroten tức provitamin A,
ascorbic là vitamin C cũng có mặt trong trái xoài, nhiều nhất
khi trái chín, ở vỏ trái và phần cơm gần vỏ. Mỡ chiết xuất từ
hạch xoài ở Madagascar đem phân tích cho thấy 15 acid béo, nhiều
nhất là những palmitic, stearic, oleic và linoleic acid, bên
cạnh những sterol. Những triglycerid phát hiện trong hạch được
xem như tương đương với bơ cacao. Trong xoài Senegal, bên cạnh
aglycon như terpineol, carvacol, furanol, hexanol, hexenol,… đã
được xác định các acid mỡ như những myristic, stearic acid và
nhiều glycosid. Những acid béo có nhiều trong xoài Alphonso là
myristic, palmitic, palmitoleic, stearic, oleic, linoleic,
linolenic acid. Tỷ lệ hai palmitic và palmitoleic acid xác định
hương vị của xoài, thay đổi với độ chín của trái. Stearic và
oleic acid chiếm phần lớn trong hạch xoài. Trong cây xoài cũng
có một số amin acid : methionin, cystin, leucin, isoleucin,
glycin, histidin, aspartic acid trong hạch ; alanin, salin,
threonin, tryptophan trong hoa ; alanin, glycin, leucin,
tyrosin, valin, aminobutyric acid trong lá. Trái xoài ngọt nhờ
chứa đựng nhiều đường như sucrose, fructose, glucose. Glucose là
chất đường quan trọng nhất trong số các saccharide glucosid bên
cạnh arabinose và chút ít rhamnose.
Trong hoa cũng có glucose, galactose và arabinose.
Có
đường, có mỡ, có protein, có sinh tố, lại có thêm kim loại và
khoáng chất như Mg, Ca, Na, K, Cu, Zn, Fe, Co trong vỏ trái
(12), xoài tất nhiên được xem là một thức ăn bổ ích cho
con người và cho gia súc, đặc biệt ở Nigeria. Lá xoài được dùng
làm thức ăn cho dê ở Ấn Độ, hạch xoài cho gà ăn ở Ai Cập, Tích
Lan. Gallic acid, quercetin ở phần chiết bằng cồn từ lá có tính
chất chống hoạt động trùng cúm (6). Nước sắc từ lá có
khả năng hạ thấp số đường trong máu nhờ giảm bớt sự hấp thu
glucose trong ruột (15). Bên Cuba, vỏ cây được cho
vào nước sắc dùng làm thức ăn, trong mỹ phẩm hay y dược có tính
chất phản oxy hóa, chống co thắt (25), kích thích
cuộc sản xuất bạch huyết bào, ngăn cản trùng Candida albicans
bám dính (16), được biến thành thuốc xức, chứa
polyphenol, có tính chất chống viêm (13). Mang tên
Vimang, chứa mangiferin, chống viêm, nó còn là một thuốc giảm
đau, có tác dụng ức chế hoạt động của đại thực bào, được dùng
trong những liệu pháp miễn dịch bệnh học (24) cho nên
được đề nghị dùng làm thuốc bổ dưỡng, chống già (4).
Nhờ những tính chất phản oxy hóa ấy mà phần chiết từ xoài giảm
hạ số neuron bị tiêu hủy và ngăn cản cuộc oxy hóa trong não
(21). Cũng nhờ chứa đựng polyphenol mà phần chiết hạch
trái với cồn, có tính chất kháng vi sinh vật, mãnh liệt đối với
những vi khuẩn Gram dương hơn Gram âm (17). Thử trên
chuột, một phần chiết chứa đựng 2,6% mangiferin, gia tăng kháng
thể thể dịch, cản trở loại tăng cảm ứng nên có thể dùng làm
thuốc với những tính chất kích thích miễn dịch (20).
Ở Trung Hoa, hạch xoài có nhiều lipid, được đề nghị dùng làm thế
bơ trái cacao (8), vỏ trái dùng làm giấm giàu sinh tố
(11) . Chất mỡ chiết từ hạch trái, với độ nhớt 44,84
P ở thể lỏng, với khả năng phóng thích mau chóng và đầy dử
salicylic acid, được dùng làm thuốc đạn tốt hơn bơ cacao
(11). Trong thí nghiệm chống khối u với những tế bào Raji
mang bộ gen độc trùng Epstein Barr, vỏ trái có khả năng
tiêu hủy những kháng nguyên (18). Nhựa cây có tính
chất chống nấm, khử trùng, có hiệu lực lên Escherichia coli,
Bacillus cereus và những loại Penicillum (23)
. Liệt kê vào bảng những cây làm ẩm, xoài được chiết dùng trong
mỹ phẩm bảo vệ da, tóc (19,22) .
Trái
xoài chín là một thức ăn ngon ngọt. Trái xoài xanh cũng được
nhiều người thưởng thức với muối. Người ta đã chế mứt, đóng hộp,
sấy khô để ăn, làm nước để uống. Cây xoài nói chung cũng được
dùng làm thuốc. Trong dân gian, vỏ thân giả vắt lấy nước hay đem
sắc dùng chữa sốt, đau răng, thấp khớp, trị sưng viêm, lở loét,
bệnh ngoài da, rửa khí hạch đới của phụ nữ. Nhựa cây hòa với
nước chanh dùng bôi ghẻ. Vỏ quả có tác dụng cầm máu tử cung,
khái huyết, chảy máu ruột, chữa rong kinh, ho khạc, đại tiện ra
máu, ly mạn tính, bạch đới. Hạch xoài tán bột chữa máu tử cung,
trị giun, chữa tiêu chảy.
Duyên
nợ đạo Phật với cây xoài vẫn còn tiếp tục sau khi Ngài nhập diệt
ở Kusinara (Câu thi na). Huyền sử chép rằng Ayodhya (A du già)
là nơi mà Asanga (Vô Trước), người sáng lập phái Cittamatra hay
Yogacara (Duy tâm) vào thế kỷ 4, mời đức Di Lặc hạ giới giáo
hóa. Suốt bốn tháng liền, Asanga cứ ban đêm nghe Di Lạc giảng
thì ban ngày giảng lại cho đại chúng. Di Lặc được xem là tác giả
bộ Yogacarabhunisastra mà Huyền Trang dịch ra chữ Hán là Du già
sư địa luận. Năm 635, Huyền Trang đến thăm tu viện nằm trong một
vườn xoài, nơi mà chính Asanga lại là người giảng cho em là
Vasubandhu (Thế Thân), luận sư của Sarvastivadim (Nhất thiết hữu
bộ) và của Vijnanavada (Duy thức tông), được ngộ lý Duy thức.
Sau khi đại ngộ, Vasubandhu định rút dao cắt lưỡi vì từ xưa đến
nay luôn luôn phát biểu chống Duy thức nhưng Asanga lại là người
cứu em khỏi câm. Ayodhya là quê hương tâm linh của Huyền Trang
vì ông chính là người đem phái Duy thức về Trung Quốc dưới tên
Pháp tướng tông (3). Cùng với sen, xoài thật là một
loài thảo mộc chí thiết của lịch sử Phật giáo.
Nghiên cứu và Phát triển 3(41) (2003)
30-41 có bổ
túc nhân lễ Phật đản.
(*) -
Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, nxb
Khoa học và Xã hội, Hà Nội (1986) 574
- Phạm
Hoàng Hộ, Cây cỏ Việt Nam, Mekong Printing (1992)
II,457-61
- Lê
Trần Đức, Cây thuốc Việt Nam, nxb Nông nghiệp, Hà Nội
(1997) 690-1
Tham
khảo
1-Ginette Terral,
Choix de Jakata, dịch từ Pali qua Pháp ngữ, Connaissance
de l’Orient, Collection UNESCO, nxb Gallimard, Paris
(1958) 166-171
2-Véronique
Crombé, Le Bouddha, « Biographies », nxb Desclée de
Brouwer, Paris (2000) 136-137, 155-156
3-Nguyễn Tường
Bách, Mùi hương trầm, nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh
(2001) 49, 101, 546
4- S.Iseda,
Mangiferin, the coloring matter of Mangifera indica.
IV.Isolation of 1,3,6,7-tetrahydroxyxanthone and the skeletal
structure of mangerin, Bull.Chem.Soc. Japan 30
(1957) 625-9
5- A.J.
MacLeod, N. Gonzales de Troconis, Volatile flavour
components of mango fruit, Phytochem. 21(10)
(1982) 2523-6
6- Z.Lu,
H.Mao, M.He, S.Lu, Studies on the chemical constituents of
the peels of Mango (Mangifera indica) leaf, Zhongcaoyao
13(3) (1982) 3-6
7- H.Kundu,
B.K.Sahu, N.C.Panda, Chemical composition and nutritive value
of mango (Mangifera indica) leaves for goats, Indian
Vet.J. 62(9) (1985) 811-2
8- H.Wang,
X.Yu, The composition of fatty acids in kernel fats of 32
varieties of Mangifera indica, Yunnan Zhiwu Yanjiu
11(2) (1989) 223-6
9- Pham Xuan
Sinh, Pham Gia Khoi, The extraction and determination of the
flavonoid mangiferin in the bark and leaves of Mangifera indica,
Tap Chi Duoc Hoc (5) (1991) 8,19
10- L.Wang,
W.Su, D.Tang, Preparation of mango vinegar, Zhonguo
Tiaoweipin (7) (1997) 8-9
11- C.A.Uzoho,
C.N.Ejezie, S.I.Ofoefule, Physico-chemical properties of
Mangifera indica sed fat used as suppository base,
Nigerian J.Nat.Prod.Med. 1(1) (1997) 32-4
12-
E.I.Adeyeye, F.A.Arogunjo, The nutritional value of the
fruits from Pyrus communis, Irvingia gabonensis, and Mangifera
indica consumed in Negeria, Riv.Ital.Sostanze Grasse,
74(3) (1997) 117-21
13- A.Boza,
L.Arus, O.Garcia, A.J.Nunez-Selles, Preformulation of cream
and ointment from dry extract of the bark of Mangifera indica L.,
Informacion Tecnologica 11(4) (2000) 125-31
14- Kieu Ngoc
Lan, Nguyen Duy Lam, T.Kume, Application of irradiated
chitosan for fruit preservation, JAERI-Conf. (2000)
101-6
15-
A.O.Aderibigbe, T.S.Emudianughe, B.A.Lawal,
Antihyperglycaemic effect of Mangifera indica in rat,
Phytother.Res. 13(6) (1999) 504-7
16- A.J.Selles
et al., New antioxidant product derived from Mangifera indica
L., Am.Chem.Soc. (Abstr.Pap.) 220th
MEDI-155 (2000)
17- T.Kabuki,
H.Nakajima, M.Arai, S.Ueda, Y.Kuwabara, S.Dosako,
Characterization of novel antimicrobial compounds from mango
(Mangifera indica L.) kernel seeds, Food Chem. 71(1)
(2000) 61-6
18- A.M.Ali,
L.Y.Mooi, K.Y.Yih, A.W.Norhanom, K.M.Saleh, N.H.Lajis,
A.M.Yazid, F.B.H.Ahmad, U.Prasad, Anti-tumor promoting
activity of some Malaysian traditional vegetable (ulam) extracts
by immunoblotting analysis of Rajis cells, Nat.Prod.Sci.
6(3) (2000) 147-50
19- T.Kawai,
K.Minoura, K.Wakamatsu, Comestics containing moisturizing
plant extracts, Jpn.Kokai Tokkyo Koho JP 2001031552
A2 20010206 (2001) 21 tr.
20- N.Nakare,
S.Bodhankar, V.Rangari, Immunomodulatory activity of
alcoholic extract of Mangifera indica L. in mice,
J.Ethnopharm. 78(2-3) (2001) 133-7
21- G.Martinez
Shanchez, E.Candelario-Jalil, A.Giuliana, O.S.Leon, S.Sam,
R.Delgado, A.J.Nunez Selles, Mangifera indica L. Extract
(QF808) reduces ischaemia-induced neuronal loss and oxidative
damage in the gerbil brain, Free Rad.Res. 35(5)
(2001) 465-73
22- T.Kawai,
K.Minoura, K.Wakamatsu, Comestics, bath preparations, and
detergents containing plant extracts as moisturizers,
Jpn.Kokai Tokkyo Koho JP 2001039823 A2 20010213 (2001) 24
tr.
23- P.S.Negi,
K.S.John, U.J.S.P.Rao, Antimicrobial activity of mango sap,
Eur.Food Res.Tech. 214(4) (2002) 327-30
24- D.Garcia,
R.Delgado, F.M.Ubeira, J.Leiro, Modulation of rat macrophage
function by the Mangifera indica L. extracts Vimang and
mangiferin, Int.Immunophar. 2(6) (2002) 797-06
25- A.J.Nunez
Selles, H.T.Velez Castro, J.Aguero-Aguero, J.Gonzales-Gonzales,
F.Naddeo, F. De Simone, L.Rastrelli, Isolation and
quantitative analysis ofphenolic antioxidants, free sugars, and
polyols from mango (Mangifera indica L.) stem bark aqueous
decotion used in Cuba as a nutritional supplement,
J.Agric.Food Chem. 50(4) (2002) 762-6
26- Tran Van
Hau, T.Radanachaless, K.Ishihata, T.Shioya, Flower induction
with chemicals in Cat Hoa Loc mango trees grown in the Mekong
Delta in Viet Nam, Nettai Nogyo 46(2) (2002)
59-65
Trở về Trang Chính |