|
Bài thơ
Bóng cây kơnia (music.bennhac.com) mênh mang rừng
núi, phổ thành bài hát vang lừng trong thời kháng chiến đã đưa
kơnia lên làm cây tượng trưng, nhắc nhở Tây Nguyên là một mảnh
đất của xứ sở, một bộ phận không rời của dân tộc.
Buổi
sáng em làm rẫy,
Thấy
bóng cây kơni.
Bóng
ngả che ngực em,
Về nhớ
anh không ngủ.
Buổi chiều mẹ lên rẫy,
Thấy bóng cây kơnia,
Bóng tròn che lưng mẹ,
Về nhớ anh mẹ khóc.
Em hỏi cây kơnia
Gió mày
thổi về đâu,
Em hỏi
cây kơnia
Gió mày
thổi về đâu.
Về phương trời mọc.
Mẹ hỏi cây kơnia
Rễ mày uống nước đâu,
Uống nước nguồn miền Bắc.
Con
giun sống nhớ đất,
Chim
phi sống nhớ rừng.
Em và
mẹ nhớ anh,
Uống
theo nguồn miền Bắc.
Như bóng cây kơnia,
Như gió cây kơnia,
Như bóng cây kơnia,
Như gió cây kơnia,
Ơ…Như bóng cây kơnia,
Như gió cây kơnia.
Tác
giả dòng điệu là nhạc sĩ quen biết Phan Huỳnh Điểu. Sinh năm
1924, quê gốc Đà Nẵng – Quảng Nam, từ thuở tiền chiến, ông được
đã nổi tiếng khắp nước qua bài Trầu Cau (1945). Ông đến
với Cách mạng vào tuổi đôi mươi, hăng hái lên đường gia nhập
kháng chiến chống ngoại xâm. Bài hát Đoàn Giải phóng quân
vang dậy tiễn đưa những đoàn quân đầu tiên thẳng tiến miền Nam.
Sau Điện Biên phủ (1954), ông phải lên đường tập kết ra Bắc,
những kỷ niệm còn lưu lại trong bài Liên khu 5 yêu dấu.
Nhớ thương quê hương cách trở, ông gởi lòng vào Quê tôi miền
Nam, Tình trong lá thiếp (1955),…rồi Những ánh sao đêm
(1963) trước khi leo đèo vượt núi trở vào miền Nam (1964-1970).
Về lại miền Bắc, ông phổ nhạc nhiều bài thơ như Cuộc đời
vẫn đẹp sao (Hương Ly), Hành phúc ngày và đêm (Bùi
Công Minh), Sợi nhớ sợi thương (Thúy Bắc),…và đặc biệt
bài Bóng cây Kơnia của Ngọc Anh (1972). Sau 1975, định
cư ở Tp Hồ Chí Minh, ông vẫn luôn dồi dào tình cảm với những bài
Anh ở đầu sông, em cuối sông
(Hoài Vũ 1978), Sợi nhớ sợi thương (Thùy Bắc 1978), Ở
hai đầu nỗi nhớ (Trần Hoài Thu 1983), Người ấy bây giờ
đang ở đâu (Hoài Vũ 1991), Thuyền và Biển (Xuân Quỳnh
1992)….Bài thơ phổ nhạc nầy cũng là tựa đề một băng nhạc mà tôi
may mắn có trong tay. Bên cạnh những bản nhạc của ông do nhiều
danh ca trình bày : Ở hai đầu nỗi nhớ (Bảo Yến), Sợi
nhớ sợi thương (Thu Hiền), Những ánh sao đêm
(Ngọc Tân), Anh ở đầu sông, em cuối sông (Lệ Dung),
Thuyền và Biển (Tuần Phong),… có bài Bóng cây kơnia.
Mấy ai biết nhạc sĩ đã mất mười năm vật lộn với nốt nhạc để thử
gởi tâm tình vào một luồng điệu trữ tình. Ca sĩ trình diễn lại
là cô gái người sắc tộc Măng Thị Hợi. Ai đã từng lên Tây Nguyên
đón gió ban chiều, nhìn mây vời vợi trên đỉnh non cao, không sao
tránh được cảm xúc khi nghe giọng hát lưu luyến, khêu gợi của
một ca sĩ đã đổ dồn mọi tình cảm của mình vào bài hát. Nhiều
người cho bài nầy thật là một tuyệt tác của nhạc sĩ Phan Huỳnh
Điểu (10,11).
Và ai còn
nhớ nhà thơ đã sáng tác bài Bóng cây kơnia ? Nguyễn Ngọc
Anh, sinh năm 1934, là người đồng hương tỉnh Quảng Nam với Phan
Huỳnh Điểu. Xuất thân từ Trường trung học Bình dân Quân sự Khu
5, ông đi làm phóng viên ở mặt trận Tây Nguyên trước khi về làm
ở Bộ Tư lệnh Quân khu 5. Thân mình mảnh mai, ông thường được
phân công đóng vai con gái trong các vở kịch và rất được tán
thưởng. Năm 1954, cũng như Phan Huỳnh Điểu, ông phải tập kết ra
Bắc, công tác ở Ban Dân tộc Trung ương rồi ở Viện Văn học,
chuyên về văn học miền núi. Khiêm tốn, ít át, Ngọc Anh lặng lẽ
viết những bài thơ dần dần trở thành dân ca và nhất là được
người Tây Nguyên thừa nhận nhờ đã biết rung động với rừng núi :
Cheo reo quê mình, Có nhiều rừng núi, Có sông có núi, Có làng
có rẫy,…nêu cao công việc lao động : Trưa về ngồi
kéo sợi, Dưới bóng mát nhà rông, Sợi dài hơn mây núi, Trắng ngỡ
thác đầu buôn,… đau thương mong nhớ làng rẫy : Đất ông
bà, Ta nhớ ta thương, Nhớ rẫy cũ làng xưa, Nhớ mùa gặt mới, Nhớ
tiếng trâu ngoài làng, Tiếng voi đằng xa, Và tiếng chim ăn hoa
buổi sáng,…Trong số các bài thơ nầy, có bài Bóng cây
kơnia cũng đượm hồn rừng núi không kém : Em hỏi
cây kơnia, Gió mày thổi về đâu, Về phương trời mọc. Mẹ hỏi cây
kơnia, Rễ mày uống nước đâu, Uống nước nguồn miền Bắc.….Cũng
như Phan Huỳnh Điểu, năm 1964, ông trở lại miền Nam sau khi xây
dựng gia đình với một cô gái đồng hương. Ông ít sống với gia
đình và đã vĩnh viễn ra đi năm 1965, để lại một bà vợ gầy yếu và
hai đứa con nhỏ. Trong thời gian cuối đời này tuy ngắn ngủi, ông
luôn cố gắng tiếp tục phục vụ Tây Nguyên, huấn luyện các tiết
mục cho đoàn văn công tỉnh Kon Tum, ghi chép dân ca các sắc tộc,
từ chối về khu an toàn làm báo Văn nghệ quân giải phóng khu 5
để luôn được ở cạnh núi non cây rừng, cạnh những cây kơnia thân
thích tỏa bóng buôn làng (14).

Ngọc Anh
không phải là người độc nhất được cây kơnia quyến rũ. Trong báo
mạng Đặc Trưng Nhạc, Nguyễn Chánh Tín có trình bày bài nhạc phim
Ngả lưng trên đồi (dactrung.net) ghép hạt kơnia
thành cánh chim bay :
Thả lưng dưới bóng cây
Tôi
nhìn bầu trời qua kẽ lá
Bỗng
đâu một làn gió lạ
Thổi
nhanh qua nắng hạ
Làm
rụng quả K’nia xanh
Ngả lưng dưới bóng mây
Tôi nhìn bầu trời
vương chút nắng
Thấy yêu một giờ vắng lặng
Cao nguyên mơ đất bằng
Tôi nhặt hạt K’nia khô
Tôi
ghép từng hạt K’nia
Tôi
ghép thành cánh chim bay
Đôi mắt
em từ bóng cây
Đôi mắt em là bóng mây
Tôi ghép liền cánh chim
bay…
Cây kơnia
hay K’nia đã là nguồn cảm hứng cho những thi sĩ. Mang tên cây
cầy (3), kơnia cũng đã đi vào lịch sử. Giữa Bình Định
và Qui Nhơn có đèo An Khê cao hơn 700 m, dài trên 10 km, đường
đi hiểm trở, dốc đèo gay go, khách trèo đèo mỏi mệt thường dừng
chân ngồi nghỉ ở Nghẹo Cây khế. Gần cây khế có hai cây cổ thụ
sống đã lâu năm, một cây là cây ké, cây kia là cây cầy (12).
Theo Quách Tấn và Quách Giao, thời Tây Sơn khởi nghĩa, Nguyễn
Nhạc và bộ tham mưu đóng ở núi phía nam, Nguyễn Huệ và ban quân
sự đóng ở ngọn núi phía bắc. Hai núi nầy cao và rậm, nằm phía
đông đèo An Khê :
An Khê
đất rộng đẹp thay
Biết
bao thắng cảnh mê say lòng người
Non
Bình có hang Tối Trời
Lại
thêm núi Nhược cao vời nẻo xa
Cây cầy
khỉ cố ngân nga
Tưng
bừng chiên trống kéo ra đầy đường…
Rằm tháng
tám năm Quý Tỵ (tháng 9 năm 1773), được tin Trương Phúc Loan cử
Nguyễn Khắc Tuyên vào trấn thủ Quy Nhơn, Nguyễn Nhạc ra tay
trước, làm lễ xuất quân, lập đàn tế cáo trời đất giữa đèo An
Khê, nơi Nghẹo Cây khế, nơi có tráng đất rộng rợp bóng mát của
hai cây ké và cây cầy.
Cây ké
phất cờ
Cây cầy
gióng trống
Tiền hô
hậu ủng
Đất
thủng đá nhào…
Để đánh
chiếm Quy Nhơn, Nguyễn Nhạc tự ngồi vào cũi, sai thủ hạ khiêng
đến thành nộp cho Tuần phủ Nguyễn Khắc Tuyên. Quan trấn thủ
tưởng thật, mở cửa thành cho vào. Nửa đêm, Nguyễn Nhạc tháo cũi,
cùng các thủ hạ giết lính gác, mở cửa thành và đốt pháo hiệu cho
quân Tây Sơn vào :
Cây ké
phất cờ
Cây cầy
gióng trống
Hòn
Chiêng vang động
Hòn
Trống đỗ hồi
Lên
ngôi Vương soái
Quan ải
đạp bằng
Cuốn
phăng hào lũy
Phủ lỵ
Qui Nhơn
Oán hờn
đất dậy
Cò phất
quân reo
Dân
theo chiếm phủ … (13)
Theo Bs
Phạm Thúy Hồng, trong mục Mách thuốc một số báo Rừng
và Đời sống thì cây kơ nia tức cây cầy mang tên khoa học
Irvingia malayana, thuộc họ Cầy Irvingiaceae. (Cây
cầy Irvingia malayana Oliv. ex Benn., còn có tên I.
oliveri Pierre hay I. harmandiana Pierre, cũng
được cho thuộc họ Xang Ixonanthaceae (3) hay
họ Thanh thất Simaroubaceae (4,7), được gọi
cây cốc, cây đậu tường (14) ). Đây là loài thân gỗ,
phát triển tốt ở vùng đất đỏ ba dan, thường cao tới 20-30m, gốc
đường kính tới 50-70 cm. Lá có phiến xoan, đầu nhọn, đấy tà
tròn, mặt dưới màu lam mốc môc, gân phụ 10-13 cặp; cuống dài
5-7 mm, lá bẹ hẹp, dài ; chùm tụ tán ở ngọn nhánh, cánh hoa
trắng ; dĩa mật to, noãn sào hai buồng ; quả nhân cứng tròn
tròn, to 4-5 cm, nhân có xơ, hột to (3). Gỗ kơ nia
chắc, mịn, làm đồ gỗ mộc, làm nhà cửa.
Loại cây nầy hay mọc đơn lẻ cao vút, từ xa đã nhận ra ở trên rẫy
hoặc buôn làng, như một biểu tượng cho sự bất khuất không sợ
phong ba, bão táp. Kơ nia có quả, mà hạt của nó làm thực phẩm
rất ngon. Đến mùa quả chín, lấy đập vỏ, bóc nhân, ăn sống hay
rang giòn rồi giã trộn muối như ta làm muối mè, muối đậu phộng.
Một số loài thú như cầy, sóc, chồn,… rất thích quả kơ nia nên
thường mò quanh gốc, thợ săn có kinh nghiệm hay rình gần đấy để
đợi thú đến.
Cây kơ nia
mọc khắp vùng Đông Nam Á, từ Thái Lan, Cao Mên, Lào, Việt Nam,
qua Mã Lai, Tân Gia Ba, đến Nam Dương, Phi Luật Tân. Ở nước ta,
cây mọc nhiều ở Tây Nguyên, phổ biến ở rừng luôn luôn xanh.
Trong Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Cú (15), trong số
144 loài cây đại mộc cho gỗ quý, 38 loài cây làm cảnh, 34 loài
cây có thể ăn được, 159 loài cây thuốc, Irvingia malayana
là một trong 5 cây được kê trong sách đỏ Việt Nam (www.thuvienhoasen.org).
Cây nầy ở Khe Tran mang tên địa phương
a long chê (www.cifor.cgiar.org.). Bên Cao Mên,
Irvingia malayana, có tên Khmer Cham Mo (www.phnomenom.com),
là một cây thuộc vùng Ansar Chambok trên bờ hồ Tonle Sap, nơi
những cây được thổ dân dùng lấy nhựa hoặc được những thầy Kru
Khmer dùng làm thuốc chữa bệnh (www.wrm.org.uy). Người
Lào dùng quả cây ép thành dầu máy, năng suất đạt đến 85.22%
(6). Một cuộc khảo cứu cặn kẽ đã được thực hiện trên gỗ
cây Irvingia malayana (tên Thái Lan kabok, tên Mã Lai
thương mãi pauh kijang) : mộc tâm màu nâu vàng, trắng hay xám,
không gân, có lỗ phát tán, mạch dính vào nhau, sợi mạch lẻ tẻ,
sợi vách mạch dày, nhu mô trục sắp theo tuyến mạng, tế bào
thường xơ cứng, không có tế bào dầu hay chất nhờn, không có nhũ
quản hay ống tannin (8). Châu
Phi cũng có cây nầy, thường được gọi là xoài hoang, xoài rừng
hay xoài Phi. Mang nhiều tên ogbono, etima, pdika hay quả dika,
trái cây chứa đựng nhiều chất mỡ và protein. Nó thường được sấy
khô ngoài trời, đem bán như vậy hay dưới dạng bột để làm một bột
nhão làm bánh dika hoặc sô cô la Gabon, chất nhầy dùng để làm
đặc món cháo ogbono. Quả hạch nhiều sợi cũng đã được ép ra thành
dầu. Gỗ cứng thường được dùng trong kỹ nghệ xây dựng (biodiversity.mongabay.com).
Từ thập
niên đầu tiên thế kỷ 20, các nhà khảo cứu dược lý học đã tìm
hiểu sâu rộng chất mỡ chiết xuất từ cây cầy Irvingia ở
Đông Dương song song với những cây thuộc họ Cam quýt Rutaceae,
tương đương với bơ dika trên bờ biển Tây Phi. Cây cầy nở hoa vào
mùa xuân, qua các tháng 7-8 thì quả chín với một vỏ ngoài có
sợi, vỏ trong thân gỗ. Cơm lấy từ hạch quả ra được đem ra chiết
bằng hơi và cho cô lại. Chất mỡ (năng suất 21,86%) có thể dùng
làm xà phòng hay cho vào ống tre đã có sẵn sợi tim để làm đèn.
Bả còn lại được dùng làm thức ăn cho súc vật, làm phân bón hay
chất đốt. 5 kg quả cống hiến 1 kg hạt và 430 g bơ. Đem những
acid béo biến hóa thành ester rồi phân tích thì biết được bơ
chứa đựng (%) olein (5), laurin (60-65) và myristin (60-65)
(1,2). Một công tác khảo cứu trên Irvingia malayana
ở Cao Mên cho biết quả chứa đựng (%) nước (7,5) và dầu (70).
Những acid béo phần lớn là bảo hòa, gồm có (%) những dãy C12
(42) và C14 (41,8). Thành phần sterol tuơng tự những dầu khác,
chỉ ít giàu alpha-tocopherol hơn gamma-tocopherol, đặc biệt chứa
đựng những chất kháng oxi hóa nên dầu có thể dùng trong các
ngành dược học, mỹ phẩm, margarin,... (5). Về mặt cấu
tạo, còn được tìm ra trong Irvingia malayana những
neolignan, phenylpropanoid bên cạnh những propanon,
ferulaldehyd, ferulat, sitosterol, glutinol, caffeic aldehyd,
oleanoic acid (4). Gần đây, khảo cứu về hoạt động
cảm nhận ở thần kinh hệ trên 30 cây mọc bên Mã Lai, người ta đã
biết được lá Irvingia malayana cùng với phần chiết 6 cây
khác có tác dụng lên cơ quan cảm nhận 5HT1 nhưng không có hiệu
quả gì lên GABAB và dopamin D2S (7) , đằng
khác có một tác dụng chống sốt rét đáng kể IC50 = 04-8,6 mmg/ml
(9). Bs Phạm Thúy Hồng cho biết theo Đông y, vỏ kơ
nia tính mát, đắng nhẹ, không độc, kiện tỳ, lợi niệu. Trị kém
ăn, ăn không tiêu, chướng bụng, dùng 50-100 g vỏ nấu với nửa lít
nước uống trong ngày (có thể thêm trần bì 15 g, gừng 5g). Trị
sốt cao, phù, nước tiểu đỏ : 500 g vỏ kơ nia, 2 lít nước sắc
uống nhiều lần trong ngày. Vỏ cũng được dùng cho đàn bà mới sanh
(3). Trong dược thư Phật giáo Nam tông, cây
Irvingia malayana đã được ghi trong mục các thuốc có vị mỡ
trong số 13 vị căn bản để củng cố xương chẹn, chữa trị những
chứng gân-thần kinh (perso.orange.fr).
Ở tỉnh Đac
Lac, huyện Ban Dôn, có một làng mang tên Chu K’nia. Ơ Tây
Nguyên, bản mang tên nầy là chuyện thường. Cái lạ là cách đây
mấy khoảng 10 năm, một em bé khi cởi áo quần thì thấy cơ thể
phát ra một ánh sáng phôtpho, càng chùi cọ ánh sáng càng lớn
thêm, gải vào tóc thì nghe tiếng nổ lốp đốp. Em cho biết có ba
đứa em, sống bình thường, không có gì đảo lộn trong đời sống
hằng ngày. Ngoài ra, chỉ có phần trên cơ thể phát quang, mỗi
ngày giữa 22 và 23 giờ. Cái phiền là người tò mò, có khi tới từ
xa, lại gõ cửa, ngay cả giữa khuya để "xem hiện tượng" ! Đã có
các nhà báo và khoa học lại tiếp xúc nhưng chưa thấy một giải
thích, kết luận (www.vn.ref.org). Một sự kiện khác có
phần thời sự hơn. Sau cuốn nhật ký của Bs Đặng Thùy Trâm được
đăng ra, cuộc hy sinh của liệt sĩ nầy trên chiến trường Đức Phổ
(Quảng Ngãi) đã được trong nước và ngoài nước bàn tán nhiều. Một
tour mang tên "Ngọn lửa Thùy Trâm và đất thép Phổ Cường" cũng
được tổ chức "…đi lại trên những con đường chị Đặng Thùy Trâm và
đồng đội từng đi,…Tại gốc cây kơ nia, nơi chị Đặng Thùy Trâm ngã
xuống ngày 22.06.1970, du khách sẽ cùng thắp nhang tưởng niệm"
(16). Đã từng được tôn vinh trong lịch sử, không bao
giờ cây kơ nia đi sâu hơn vào lòng dân tộc.
Xô thành Tết Đinh
Hợi
Tài liệu
1-
Emile
Bontoux, Irvingia butter, Matières grasses 8
(1909) 13276-8
2-
Emile Bontoux, Butter of Irvingia,
Bull. Sci. Pharmacol. 17 (1911) 78-82
3-
Phạm Hoàng
Hộ, Cây cỏ Việt Nam, Montréal, II (1992) 382
4-
K.
Mitsunaga, Y. Ouyang, K. Koike, Y. Sakamoto, T. Ohmoto, T.
Nikaido, Phenolic constituents of Irvingia malayana,
Natural Med. 50(5) (1996) 325-7
5-
J.
Bandelier, T. Chunhieng, M. Olle, D. Montet, Original study
of the biochemical and oil composition of the cambodia nut
Irvingia malayana, J. Agric. Food Chem. 50(6) (2002)
1478-82
6-
Somposh Sudajan, Sommuk Chusilp,
Development of a Irvingia malayana nut sheller, KRU res.
J. 9(1)
Jan-Jun 2004, www.champa.kku.ac.th
7-
L.Y. Chung,
S.H. Goh, Z. Imiyabir, Central nervous system receptor
activities of some malaysian plant species, Pharma. Biol.
43(3) April-May 2005, 280-8, taylorandfrancis.metapress.com
8-
H.G.
Richter, M.J. Dallwitz, Bois commerciaux – Irvingia malayana
Oliv. Pau kijang delta-intkey.com 16.04.2006
9-
Julie
Nguyen-Pouplin, Hung Tran, Tuyet Anh Phan Ta, Christiane
Dolecek, Jeremy Farrar, Tich Hien Tran, Philippe Caron, Bernard
Bodo, Phìlippe Grellier, Activités antimalariques et
cytotoxiques des plantes médicinales ethnopharmacologicales
choisies du Vietnam du sud, J. Etnopharmacol.
15.08.2006
10-
Le compositeur Phan Huynh Dieu, toujours jeune
malgré ses 73 ans, www.vn.refer.org.
11-
Nguyễn Thị
Minh Châu, Phan Huỳnh Điểu – Composer of love,
Vietnamese traditional Music, www.vnstyle.vdc.com.vn
12-
Quách Tấn,
Di tích và truyền thuyết về nhà Tây Sơn, e-cadao.com
13-
Đào Đức
Chương, Nhà Tây Sơn qua ca dao, Thế Kỷ 21,
20.11.2006, nguoi-viet.com
14-
Nhà thơ Ngọc Anh : Sống dưới bóng Kơnia, chết
bên gốc Kơnia, Trang văn học,
20.11.2006, hanoi.vnn.vn
15-
Lưu Hồng
Trường,
Một số kết quả nghiên cứu
thực vật núi Tà Kóu, thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Tà Kóu, tỉnh
Bình Thuận,
www.lamdong.gov.vn
16-
Đặng Ngọc
Khoa, Về với Phổ Cường, quê hương thứ hai của chị Đặng Thùy
Trâm, Thanh Niên Online 20.11.06,
www.2.thanhnien.com.vn
Trở về Trang Chính |