|
Trong một
đêm nhạc của Hội Người Yêu Huế ở Nhà sinh viên Đông Nam Á năm
1987 (hơn hai mươi năm rồi !), anh bạn Cao Huy Thuần đã giới
thiệu người đẹp của Trịnh Công Sơn phải là một người gầy, thân
mong manh, vai gầy guộc…
Bàn tay xanh
xao đón ưu phiền (Nắng thủy tinh)
Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao (Diễm xưa)
Trên mùa lá xanh ngón tay em gầy nên mãi ru thêm ngàn năm
(Ru em từng ngón xuân nồng)
Thuở ấy có một người cơn gái rất mong manh, đi qua những hàng
cây long não lá li ti xanh để đến trường đại học văn khoa
Huế (Diễm của những ngày xưa)…
Thị hiếu của Trịnh Công Sơn đi đúng với trào lưu thời trang thế
giới. Những siêu mẫu ngày nay là những cô gái gầy, cao trên
1m80, nặng không quá 50kg ! Những người mẫu của nhà vẽ thời
trang Minh Hạnh, mà tôi tò mò chen chúc ngắm được qua các song
sắt hành lang Palais Royal ở Paris trong buổi biểu diễn thời
trang "Đêm trắng" 05.09.2002, cũng không phải là những người đẹp
nhỏ con, đẫy đà,…Thành quả là các bà, các cô đua nhau chạy theo
thân mảnh, vai eo, mất biết bao công của để thử đánh mất những
ki lô cho là thừa. Khổ một nỗi là nhịn ăn, uống ít, tránh chất
béo, kiêng chất bổ cũng không đủ để ngăn chặn lên cân. Xoa bóp
dù với máy móc tối tân, đắt tiền, thấy cũng không đem lại kết
quả mong muốn. Còn lại một phương sách mới xem tương đối tưỏng
như dễ dàng và kết quả lanh chóng hơn là uống thuốc, Tây y, Đông
dược đều có ! Về mặt nầy, một liều thuốc Trung Quốc dựa lên
những cây phòng kỷ vừa bị lên án.

Người mẫu nhà vẽ mẫu thời trang Minh Hạnh hôm
"Đêm trắng" 05.09.2002 tại Palais Royal ở Paris
Cách đây
mười năm, giáo sư Jean-Louis Vanherweghem, Chủ nhiệm Khoa thận
Bệnh viện Erasma ở Bruxelles bên Bỉ, đón nhận một số bệnh nhân
với một chứng suy thận đặc biệt ở những người trước đây chẳng có
bệnh tật gì. Thận bị phá hủy dần, một số còn sống được nhờ thấm
tách kinh niên (dialyse chronique), số kia phải qua một cuộc
ghép thận. Đem phân tích mô thận, giáo sư nhận thấy một thay
đổi ở DNA của các bệnh nhân. Tìm hiểu sự kiện nầy, ông khám phá
ra nguyên nhân chung may mắn độc nhất : các bệnh nhân nầy đều
trải qua một cuộc điều trị giảm phì hướng dẫn trong một phòng
chữa bệnh với một chế phẩm dựa lên một cây thuốc truyền thống Á
Đông. Đến nay cây thuốc nầy xem là thiên nhiên và vô hại, được
chính thức cho phép bán trong những tiệm dược phẩm, không ai ngờ
nó có khả năng đảo lộn gia sản di truyền trong lòng các tế bào
con người. Một cuộc phân tích dịch tể học chỉ định lanh chóng
thủ phạm là fang ji (phòng kỷ) tức là lá
hay rễ cây Aristolochia fangchi, vì cách viết chữ Hán
tương tự có thể đã lẫn lộn với cây Stephania tetrandra
(2).
Theo giáo
sư Đỗ Tất Lợi, phòng có nghĩa là phòng ngừa, kỷ là
cho mình, vậy phòng kỷ là vị thuốc có tác dụng phòng ngừa
tật bệnh cho mình. Nó là tên dùng để chỉ nhiều vị thuốc nguồn
gốc thực vật khác nhau (*,**) :
1. Phấn
phòng kỷ (Radix stephaniae tetrandrae) hay phòng
kỷ là rễ phơi hay sấy khô của cây phấn phòng kỷ Stephania
tetrandra S. Moore (fen fang ji), thuộc họ Tiết dê (*) hay
Dây mối (**) Menispermaceae.
2.
Quáng phòng kỷ hay mộc phòng kỷ, đăng phòng kỷ, cũng
còn được gọi phòng kỷ (như 1) là rễ phơi hay sấy khô cây
quảng phòng kỷ Aristolochia westlandi Hemsl, thuộc họ Mộc
thông (*) hay Sơn dịch (**) Aristolochiaceae.
3. Hán
trung phòng kỷ (Radix aristolochia heterophyllae) là
rễ phơi hay sấy khô cây hán trung phòng kỷ hay thanh mộc hương
Aristolochia heterophylla Hemsl cùng họ Mộc thông.
4. Mộc
phòng kỷ (như 2) là rễ phơi hay sấy khô của cây mộc phòng kỷ
Cocculus tribolus DC., thuộc họ Tiết dê
(*).
Một tên
chỉ định cả cây lẫn rễ, lại thêm một tên dùng cho nhiều cây,
nhiều rễ thì càng gây lẫn lộn. Mặt khác ở Việt Nam, cùng họ Tiết
dê còn có những cây Stephania khác : cây bình vôi S.
rotunda Lour., cây dây lõi tiên S. long Lour., cây
dây nối S. hernandifolia Spreng, cây dây đồng tiền S.
pierrei Diels ; trong họ Mộc thông thì còn có những
cây Aristolochia khác : cỏ sơn dịch A. indica L.
(đã từng bị lầm với Cocculus leaeba), cây mộc thông (như
1 và 2) hay cây mộc thông mã đâu linh A. manshuriensis
Kom, cây mã đâu linh hay cây dây khố rách A. roxburghiana
Klotsch (*)… Rất dễ hiểu khi tên cây nầy được đặt vào thân
cây kia, nhất là khi ta ý thức xác định tên cây là một việc vô
cùng tế nhị.
Dựa lên sự
kiện xảy ra bên Bỉ và sau nầy nhiều trường hợp khác ở Pháp,
Phòng Bảo hiểm y tế sản phẩm sức khỏe Pháp, trong một thông cáo
đề ngày 23.08.2000, ra hiệu báo động và lên án hai cây S.
tetrandra (đã bị lầm lẫn với cây A. fangchi) và
Magnolia officinale. Cây hậu phác (cũng là tên vỏ và rễ cây
sấy khô) M. officinale Rehd. et Wils. thuộc học Mộc lan
(*) hay Dạ hợp (**) Magnoliaceae là một cây vỏ dày (hậu
là dày), "trông chất phác". Chất độc trong cây S. tetrandra
được chỉ định là aristolochic acid, không những phá hoại thận mà
còn là một tác nhân gây đột biến và là một chất phát ung thư.
Phòng Bảo hiểm nói trên kêu gọi điều tra thêm, thiết lập bản
tổng kết thương tổn u trên các bệnh nhân đã từng dùng thuốc
phòng kỷ ở Pháp và báo cáo cho Trung tâm cảnh giác dược lý địa
phương (1). Mặc dầu aristolochic acid bị cấm chỉ bên
Hoa Kỳ từ 1983, ở Pháp từ 1998, những nhà khảo cứu thấy cần phải
cảnh giác vì đã khám phá hiệu lực chậm hoãn đáng gờm của nó :
càng dùng lâu, nó càng tích tụ, hiệu ứng càng lớn, bệnh tình
càng trầm trọng.

Cây mã đậu
linh Aristolochia roxburghiana, hình trích trong Cây
thuốc Việt Nam, Viện dược liệu, nhà xuất bản Khoa
học và Kỹ thuật, Hà Nội (1990)
Thật ra,
aristolochic acid không phải chỉ tìm ra được trong A.
tetrandra và A. fangchi mà còn trong hầu hết các cây
Aristolochia (và cả trong nhiều cây Asarium) thuộc
họ Mộc thông : A. acuminata, A. multiflora, A. bracteata
(5), A. debilis (8), A. indica,
A. rigida, trong thân A. maxima, A. pandurata, trong
thân và lá A. kunmingensis (12), trong thân và
rễ A. kankauensis (13), trong thân, lá và rễ
A. clematitis, trong rễ A. moupinensis, A.
serpentaria, A. longa (10), A. mollissima
(6,9), trong cũ A. kwangsiensis (7),
trong fangji A. fangchi, A. heterophylla, A.
moupinensis, A. austoszechuanica. Đằng khác, không phải chỉ
có một mà nhiều aristolochic acid : 6 trong A. clementitis,
5 trong A. kankauensis (13), 2 trong A.
heterophylla và A. rigida (13). Nhiều cấu
trúc với sườn phenanthren đã được xác định. Năng suất chiết xuất
aristolochic acid tương đối nhỏ : 0,05% trong A. moupinensis,
0,02% trong A. fangchi. Dùng ammoniac trích chiết,
100g A. fangchi đem lại 206,7mg sau sắc khí trên
silicagel.
Acid
aristolochic cũng đã được phát hiện dưới hình thức dẫn xuất : 5
ariskanin và carboxylic methyl ester trong thân và rễ A.
kankauensis , 4 aristophyllid , 3
aristoloterpenat tức là sesquiterpen ester trong thân và rễ
A. heterophylla , methyl ether ở A. moupinensis, A.
indica , methoxy ở A. delibis. Bên cạnh aristolochic
acid còn tìm ra alcaloid ở Stephania tetrandra, A. fangchi,
aristolactam trong rễ A. longa, aristolactam
glucosid ở A. indica, 9 aristolactam alcaloid trong thân
và lá A. kunmingensis, flavonol glycosid ở A. rigida,
allantoin ở A. fangchi, sitosterol , magnoflorin
trong rễ A. moupinensis (ping ma dou ling) và A.
heterophylla, coumaric acid, syringic acid, palmitic acid,
moupinamid, coumaramid ở A. fangchi và A.
moupinensis.
Aristolochic acid không phải là một chất mới được khảo cứu. Năm
1892, Pohl đã nhận thấy thuốc phòng kỷ có hiệu nghiệm, không
phải chỉ nhờ tác dụng diệt khuẩn yếu mà còn nhờ tăng gia thể
tích hạch nhân từ đó tăng gia sự lặp lại cuộc phân chia tế bào.
Nửa thế kỷ sau, tác dụng yếu của muối kali acid được nêu rõ
trên Bacillus cubtilis và hoàn toàn vô hiệu trên nhiều vi
khuẩn khác. Một dung dịch 5 microg/cm3 natri
aristolochat đạt chỉ số gián phân tối cao (0,88%) và một kích
thích bạch huyết bào con người lớn nhất, nhưng quá liều lượng ấy
thì hết còn tác động và qua 50 microg/cm3 thì tế bào
hết phân chia, thể sắc kết dính ở tế bào kỳ giữa (metaphase).
Tiêm tĩnh mạch vào thỏ với liều lượng 1mg/kg, acid gây hoại tử
tế bào biểu mô và thiếu máu cục bộ vỏ ngoài, phá huỷ một phần
tiêu quản cuốn (convoluted tubules) ở đầu gần thận, từ đó có tác
dụng chận tiểu ở tuyến yên sau. Tiêm nhiều lần vào phúc mạc
chuột, acid ức chế sự phát triển u gan cổ trướng nhưng không
hiệu nghiệm trước nhiều loại sacom và carcinom khác, trừ
Adenocarcinoma 755. Trích chiết từ A. rigida, nó có hoạt
động ngẫu biến, tuy nhẹ. Trích chiết từ A. longa, nó tác
dụng mạnh lên bạch cầu P-388 và ung thư biểu mô phế quản ; cũng
như aristolactam, nó có hoạt động kháng vi khuẩn chống các trùng
Escherichia coli, Pseudomonas aeruginosa, Streptococcus
faecalis, Staphylococcus aureus và S. epidermides
(10). Trích chiết từ A. bracteata, nó có tác
dụng khử khuẩn lên những trùng Dysdercus koenigii, Aedes
aegypi, Tribolium castaneum (5). Một báo cáo
nghiên cứu của Viện Y học Trường Đại học Louvain bên Bỉ cho
biết tế bào ung thư biểu mô đa tiêu chuyển tiếp đã được tìm ra
trong bốn bệnh nhân dùng thuốc chứa đựng aristilochic acid nhưng
thử trên chuột thì thuốc nầychỉ gây khối u chứ chẳng thấy xơ hóa
khe thận (15).
Aristolochic acid kích thích hệ thống lưới nội mô và gạc bỏ tác
dụng suy giảm hệ thống nầy của chloramphenicol (4).
Trích chiết từ A. mollissima (6), A.
debilis (8), nó có tiềm lực thực bào, trích chiết
từ A. mollissima nó còn có hoạt động ngăn chặn thai nghén
(9), trích chiết từ A. kwangsiensis nó được
dùng để trị liệu bệnh nhân bị giảm bạch cầu (7).
Alcaloid chiết xuất từ rễ A. fangchi là những chất ức chế
acetylcholin esterase, được dùng để chữa loạn dưỡng hệ cơ, sa
sút trí tuệ, những chứng Alzheimer, thuộc đường tiêu hóa
(11). Aristolactam alcaloid trích chiết từ A.
kankauensis ức chế hoạt động tiểu cầu (13). Trích
chiết từ thân và lá A. kunmingensis, aristolacton có khả
năng ức chế nhân tố kích động tiểu cầu với IC50 ở
2,63.10-5 M (12). Những aristolochic acid
ester loại sesquiterpen trích chiết từ thân và rễ A.
heterophylla đều có tính chất chống những tế bào u gan
(14,16). Aristolochic acid trích chiết từ A. acuminata
và A. multiflora ở Madagascar rất độc cho những hệ
thống cây trồng, hoạt động lớn nhất lên tế bào khối u mụn cây.
Một văn bàng Nhật Bản đề nghị dùng nó làm thuốc diệt cỏ, chống
những trùng Stellaria media, Chenopodium album, Amaranthus
retroflexus, Lindemia pyxidaria, Setaria viridis mà không
độc hại cho lúa mì và đậu xanh.
Cũng cần
biết thêm những hoạt chất tetrandrin, fanfchinolin, cyclanolin,
berbamin chỉ tìm ra được trong fang gi S. tetrandra.
Phần chiết từ rễ có tính chất ức chế cuộc sản xuất
interleukin-6 và được dùng đễ chữa những chứng miễn dịch do
interleukin-6 gây ra (28). Trong phần chiết nầy,
những alcaloid có tính chất ức chế enzym chuyển đổi angiotensin
55,4%, LC50 trên 800 mg/kg hay trên 250mg/kg i .p.
tùy chất (26). Cũng chiết xuất từ rễ (han fang ji),
những chất alcaloid tetrandrin và dimethyl tetrandrin có tác
dùng nhỏ giảm đau trên chuột. Riêng tetrandrin có tác dụng lớn
chống Mycobacterium tuberculosis (63,0%) nhất là khi dùng
chung với phthivazid, streptomycin hay ethoxid (98,6%) (17).
Nó cũng có tính chất ức chế enzym chuyển đổi angiotensin 75,9%
với 1mM (21), được dùng làm thuốc điều hòa máu (thuốc
viên 80-400 mg, uống 3 lần mỗi ngày) (18). Cũng cùng
tính chất là tetrandrin oxid 72,3% với 1mM (22),
dimethyl phenanthro dioxo ethylamin (19), tridehydro
fanchinolium hydroxid 80,4% với 0,1mM (20) hay
fangchinolin với liều lượng 50ml / kg giảm hạ huyết áp huyết ở
chuột khoảng từ 200 đến 183 mmHg trong 2 tiếng đồng hồ
(23), khoảng từ 192 đến 157mmHg, LD50 trên
1g/kg p.o. và trên 100 mg/kg i .p. (24). Chất sau nầy
được dùng để chữa trị đau thắt ngực (25) còn những
chất kia là thành phần những thuốc chữa huyết áp (19,23,24).
Bên phần những alcaloid berbamin thì ức chế acetyl esterase với
IC50 (1,0-6,2) 10-6 M (27).
Ở các nước
Á Đông, Phi châu, truyền thống dùng thuốc cây cỏ, động vật vật
có từ lâu và vẫn còn được thông dụng. Ở các nuớc Âu Mỹ, nhờ khoa
học phát triển mạnh mẽ, dược phẩm dựa lên hóa chất nhân tạo tổng
hợp nên dần dần các liều thuốc cây cỏ bị bỏ quên. Gần đây thôi,
phong trào trở lại với thiên nhiên bùng phát, các phòng bào chế
tung ra nhiều thuốc men chữa bệnh cũng như mỹ phẩm dựa lên những
cây cỏ đã từng có thành tích trong sách vở cổ truyền Trung Hoa,
Ấn Độ. Ngay cả Tổ chức Quốc tế Sức khỏe cũng có chiến lược khai
thác y khoa cổ truyền, trong ấy liều thuốc cây cỏ cũng như châm
cứu chiếm phần quan trọng. Ngày nay, hằng tỷ người trên thế giới
là môn đồ các phương pháp thiên nhiên ấy, nhưng nhìn kỹ chỉ có
chừng 0,4% các bản báo cáo khoa học chú trọng đến vấn đề. Con số
nầy chỉ rõ cây cỏ chưa được khảo cứu tường tận để ta mặc sức tự
do sử dụng. Vừa rồi, Trung tâm Quốc tế Khảo cứu Ung thư (CIRC) ở
Lyon đã cho xuất bản một cuốn sách dày kê khai có hệ thống những
chất gây ung thư, trong ấy nỗi bật những loại phòng kỷ và một số
cây khác đến nay được xem là vô hại. Cũng cần được theo dõi kỹ
là những loại ma hoàng Ephedra : E. sinica Staff., E.
equisetina Bunge, E. intermedia Schrenk et Mey,
thuộc họ Ma hoàng Ephedraceae, với hoạt chất ephedrin,
bên ta thường dùng để chữa viêm khí quản, hen suyễn, cảm mạo,
trong thuốc Tây được quảng cáo "hút mỡ như bọt biển", và "làm
giảm mức triglycerid và cholesterol" hay "làm nảy nở các bắp
thịt" ! Bên Hoa Kỳ, đến nay đã có gần 100 người chết vì nạn tim
hay mạch não vì dùng các loại dược phẩm có hoạt chất nầy. Nó vừa
bị kết tội tăng huyết áp, gây biến cố tim, mạch, loạn tinh thần
(3). Thuốc cây cỏ thiên nhiên rất tốt nhưng không thể
dùng bất cứ thế nào.
Nghiên
cứu và Phát triển 4-5(42-43) (2003) 136-142
Tham khảo
(*) Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị tguốc
Việt Nam, nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội
(1986) 519-523
(**) Phạm Hoàng Hộ, Cây cỏ Việt Nam,
Mekong Printing, Santa Ana (1991) I 375-379
1-
Roger-Louis Blanchini, Mortelles racines, L’Express
23.11 (2000) 54-55
2- Fabien
Gruhier, La roulette russe des plantes chinoises, Le
Nouvel Observateur 05.03 (2003) 78-81
3
Jean-Luc Breda, Attention au coupe-faim !
L’Express
17.07 (2003) 39
Aristolochic acid
4- G.
Lemperle, F. Herdter, F. Gospos, Stimulating or depressing
effect of various drugs on the phagocytic function of the RES
(reticuloendothelial system), Advan. Exp. Med. Biol.
15 (1971) 87-94
5- B.P.
Saxena, O. Koul, K. Tikku, C.K. Atal, Aristolochic acid - an
insect chemosterilant from Aristolochia bracteata Retz,
Indian J. Exp. Biol. 17(4) (1979) 354-60
4- G.
Lemperle, F. Herdter, F. Gospos, Stimulating or depressing
effect of various drugs on the phagocytic function of the RES
(reticuloendothelial system), Advan. Exp. Med. Biol.
15 (1971) 87-94
5- B.P.
Saxena, O. Koul, K. Tikku, C.K. Atal, Aristolochic acid - an
insect chemosterilant from Aristolochia bracteata Retz,
Indian J. Exp. Biol. 17(4) (1979) 354-60
6- L.S.
Ding, M.S. Ho, F.C. Lou, Studies on the chemical constituents
of Aristolochia mollissima, Chung Ts’ao Yao 11(11)
(1980) 487
7- S.Y.
Li, C. Yao, Isolation and identification of the chemical
constituents in Aristolochia kwangsiensis Chun and How,
Chung Ts’ao Yao, 12(2) (1981) 25
8- Z.L.
Chen, B.S. Huang, D.Y. Zhu, Studies on the active principles
of Aristolochia delibis. II. 6-Hydroxyaristolochic acid A and
7-methoxyaristolochic acid A, Hua Hsueh Hsueh Pao
39(3) (1981) 237-42
9- W.
Wang, J. Zheng, Pregnancy-terminating effect and toxicity of
an active component of Aristolochia mollissima Hance,
aristolochic acid A, Yaoxue Xuebao 19(6)
(1984) 405-9
10- J.
Hinou, C. Demetzos, C. Harvala, C. Roussakis, Cytotoxic and
antimicrobial principles from the roots of Aristolochia longa,
Int. J. Crude Drug Res. 28(2) (1990) 149-51
11- T.
Yamaguchi, T. Ogino, S. Sato, M. Chin, Acetylcholine esterase
inhibitors containing alkaloids, Jpn. Kokai Tokkyo Koho
JP 04,159,225 (1992) 6 tr
12- X.
Wang, G. Han, The chemical constituents of Aristolochia
kunmingensis, Yunnan Zhiwu Yanjiu 15(3) (13-
T.S. Wu, L.F. Ou, C.M. Teng, Aristolochic acids, aristolactam
alkaloids and amides from Aristolochia kankauensis,
Phytochem. 36(4) (1994) 1063-8
14-
T.S. Wu, Y.Y. Chan, Y.L. Leu, P.L. Wu, Y. Chia, Y. Mori, Four
aristolochic acid esters of rearranged ent-elemane
sesquiterpenes from Aristolochia heterophylla, J. Nat.
Prod. 62(2) (1999) 348-51
15-
J.P. Cosyns, R.M. Goebells, V. Liberton, H.H. Schmeister, C.A.
Bieler, A..M. Bernard, Chinese herbs nephropathy-associated
slimming regimen induces tumors in the forestomach but no
interstitial nephropathy in rats, Arch. Toxicol.
72(11) (1998) 738-43
16-
T.S. Wu, Y.Y. Chan, Y.L. Leu, Z.T. Chen, Sesquiterpens esters
of aristolochic acid from the root and stem of Aristolochia
heterophylla, J. Nat. Prod. 62(3) (1999) 415-8
Stephania tetrandra
17-
S.A. Vichkanova, L.V. Makarova, N.I. Gordeikina,
Tuberculostatic activity of preperations from plants,
Fitontsidy Mater. Soveshch. 6th (1969-1972) 90-4
18- K..
Kubota, T. Ogino, H. Sasaki, M. Chin, Tetrandrine analogs
extracted from Stephania tetrandra roots for improving blood
circulation, Jpn. Kokai Tokkyo Koho JP
62,209,018 (1987) 10 tr
19- T.
Ogino, S. Sato, H. Sasaki, M. Chin, Pharmaceuticals
containing N,N-dimethylphenanthro[3,4-d]-1,3-dioxol-5-ethylamine
as a angiotensin I converting enzyme inhibitor, Jpn.
Kokai Tokkyo Koho JP 62,207,215 (1987) 4 tr
20- T.
Ogino, S. Sato, H. Sasaki, M. Chin, Isolation and structure
determination of 1,3,4-tridehydro fangchinolium hydroxyde,
Jpn. Kokai Tokkyo Koho JP 62,294,684 (1987) 5 tr
21- T.
Ogino, S. Sato, H. Sasaki, M. Chin, Angiotensin I converting
enzyme inhibiting activity of tetrandrine, fangchinoline and
derivatives thereof and pharmaceutical compositions containing
them, Jpn. Kokai Tokkyo Koho JP 62,207,216
(1987) 11 tr
22- T.
Ogino, S. Sato, H. Sasaki, M. Chin, Isolation of new
alkaloids from Stephania tetrandra as antihypertensives,
Jpn. Kokai Tokkyo Koho JP 62,205,084 (1987) 5 tr
23- T.
Ogino, M. Chin, K. Fukuyama, K. Kawashima, Antihypertensive
fangchinolines from Menisperaceae and pharmatical compositions
containing them, Jpn. Kokai Tokkyo Koho JP
01,113,392 (1989) 7 tr
24- T.
Ogino, S. Sato, M. Chin, K. Kawashima, Antihypertensives
containing new alkaloids, Jpn. Kokai Tokkyo Koho
JP 02 78,681(1990) 9 tr
25- K.
Fukuyama, S. Sato, T. Ogino, Fangchinolines for treatment of
angina pectoris, Jpn. Kokai Tokkyo Koho JP
02,243,627(1990) 7 tr
26- T.
Ogino, S. Sato, H. Sasaki, M. Chin, Alkaloids of Stephania
tetrandra and antihypertensives containing them, Jpn.
Kokai Tokkyo Koho JP 02,311,464 (1990) 8 tr
27- T.
Ogino, T. Yamaguchi, H. Sato, M. Chin, Isolation of berbamine
alkaloids from a acetylcholine esterase inhibitors, Jpn.
Kokai Tokkyo Koho JP 04,159,278 (1992) 10 tr
28- K.H. Pyun, I. Choi, H.S. Kang, J.J. Lee, Y.H. Kim,
Extracts of Stephania tetrandra for inhibition of interleukin-6
production, PCT Int. Appl.
WO 95 33, 473 (1995) 43 tr
Trở về Trang Chính |