LIÊN HOA MUÔN MÀU

                                                                             

                                                                       Tại gia tiệm giới tiệm tu,

                                                                       Tác  phúc niệm Phật thương loài chúng sinh,

                                                                       Tây phương cũng được thượng trình,

                                                                       Di Đà tiếp dẫn hóa sinh liên đài                                                                                                                              Thiền sư Chân Nguyên

 



 

Những nguyên bản về Phật giáo không kể chuyện đời sống của đức Phật mà chỉ chú trọng đến giáo lý của Ngài. Vài trăm năm sau, giữa 200 năm trước và sau công nguyên, dựa lên những truyền thuyết dân gian cốt yếu truyền khẩu, những  bộ kinh sutra (tiếng Phạn) hay sutta (tiếng Pali), những bản luật vinaya mới có những sách thư tịch cho biết nhiều hơn về Ngài. Những cuốn sách chính là Lalitavistara của phái Nhất thiết hữu bộ Sarvastivadin, Nidnanakatha của Thượng tọa bộ Theravadin, truyện thơ Buddhacarita của Bồ Tát Mã Minh Asvaghosa. Những chi tiết trong các sách nầy phần lớn phù hợp với nhau và có lẽ đều cùng phát xuất từ một nguồn gốc lịch sử nhưng cũng không sao tránh được những thêm thắt thần thoại, hoang đường gắn vào, làm hậu thế lắm khi khó lòng phân biệt chuyện thật và những nét tô son điểm phấn. Vì vậy ta không biết được đích xác lịch sử chính cống của đức Phật tuy các sách nầy đã cho ta cho ta thấy rõ quan hệ giữa đức Phật và dân chúng, giáo huấn của Ngài lên các Phật tử (1) .   

 

Theo các sách nầy, đức Phật từ cõi trần Đâu suất Tusita chọn lựa thời buổi để giáng sinh một lần chót, hoàn toàn tự giác khi đầu thai vào lòng mẹ Ma ha Ma da  Mahamaya, rồi ra đời dưới vòm cây vô ưu (sách Trung Quốc ghi cây poue louo tcha tức là cây sala(3,10)) trong vườn Lâm tỳ ni Lubini, được bốn thiên thần thận trọng nâng đón trong lúc chín con rồng trên trời hay từ hai đám mây rưới nước mát xuống tắm cả mẹ lẫn con. Xong, tự một mình, Ngài đứng thẳng dậy, bước đi bảy bước về hướng bắc, lần lượt nhìn bốn phương trời rồi dõng dạc lên tiếng : "Tôi là đỉnh cao toàn cầu, đàn anh của thế giới, người tốt nhất nhân loại. Tôi hạ trần lần cuối, sẽ không trở lại một lần khác nữa…. Ở trên trời và dưới đất, tôi là vị đại đức độc nhất, tôi muốn cứu những sinh mạng ra khỏi vòng sinh, già, bệnh, tử… "  (2). Có sách viết là Ngài không phải nhìn bốn phương trời mà bước bảy bước ở mỗi hướng, dưới chân mỗi bước hiện ra một đóa hoa sen (3). Hoa sen sau nầy còn  trở lại nhiều lần trong đời đức Phật.

 

Một hôm trên đường đi Ca tỳ la vệ Kapilavastu, Ngài được Ba tư nặc Prasenajit, vua Xá vệ Shravasti, mời nán lại và được đón tiếp rất nồng hậu. Hồi ấy có sáu vị tu hành không đắc đạo, mang lòng ghen tuông đức Phật và rủ nhau lại phá Ngài. Họ xin gặp vua Prasenajit và đòi vua tổ chức một cuộc thi phép lạ với Ngài. Vua cười nói : "Những đức tính của đức Phật vượt quá mọi quan niệm, cớ chi những người thô lỗ lại muốn thách thức một nhà vô địch giáo lý như Ngài ?" Không thuyết phục nổi mấy giáo sĩ kiêu căng kia, nhà vua buộc phải xin Ngài nhận lời làm vài phép lạ, luôn tiện đưa đường chỉ lối cho một số người. Trong một sân rộng cờ xuý rập trời, trước mặt đông đúc quan khách, vua chúa các vùng lân cận, ngồi trên ngai sư tử, trong luôn mười bốn ngày, Ngài cho mọc cây cỏ, cho nghe nhạc thần tiên, cho thấy kim cương, đá quý,… Qua ngày thứ  tám, Ngài cho phát hiện một ngọn lửa rừng rực rồi cho tắt ngay trong khoảnh khắc để trở nên êm dịu như những cánh hoa sen. Sau đó một đóa hoa sen khổng lồ hiện ra, đức Phật ngồi chính giữa như một hòn núi vàng, hai bên mặt trời, mặt trăng chiếu vào những luồng lửa sáng choáng, sau lưng các thiên thần đàn hát những bài ca ngợi Ngài.

 

 Hoa sen còn thấy ở ngày thứ mười ba. Hôm ấy, ngồi trên ngôi sư tử, từ lỗ rún, Ngài cho phóng hai tia sáng chiếu xa bảy trượng, ở mỗi đầu mút nở ra một hoa sen, trên mỗi hoa sen ngồi một đức Phật. Rồi từ mỗi lỗ rún các đức Phật ấy lại phóng hai tia sáng với ở đầu mút một hoa sen, một đức Phật và hiện tượng tiếp tục cho đến lúc mọi người đều thấy một vũ trụ đầy Phật. Ai nấy đều kinh ngạc thán phục. Như mọi lần, sau mỗi lần biểu diễn, Ngài không quên giảng giải, mỗi người nghe theo trình độ hiểu biết của mình. Ngài khuyến dụ nên đập vở đầu óc tiêu cực, gieo mầm cho đức độ, tiết hạnh. Ngài giải thích phương cách gạt bỏ giận dữ để ổn định hạnh phúc thanh bình, nếm mật đạo lý để làm tiêu tan những đau khổ của chết chóc. Ngài bàn luận về tham sân si và cách tránh né ba nọc độc nầy. Ngài cắt nghĩa tại sao cần thiết tin tưởng vào vật thể luôn nhất thời, của cải dễ tiêu tan, tuổi trẻ mau héo tàn. Địa bàn giảng giải giáo lý của Ngài rất rộng lớn. Trong số người nghe, một số lớn thấu hiểu và quan tâm đến những lời giảng, sau đó đạt kết quả : Có người giác ngộ ngay, có người tái sinh trong gia đình hạnh phúc, giàu có hay trong thế giới thần tiên. Còn sáu vị tu hành kia thì ba người bỏ trốn còn ba người xin theo làm đồ đệ đức Phật (4a).

 

Theo truyền thuyết Tây Tạng, trong thời tiền thân, đức Phật là con một con hươu cái nhân uống nước suối có tinh dịch của Ca Diếp Kasyapa mà thụ thai. Khôi ngô, tuấn tú, vì có một cái sừng nhỏ, Ngài được gọi là Kỳ Lân. Vào thời ấy, vua Kashya trị vì ở thành phố Kashi, chỉ có một mụn con gái tên là Nalini hay Liên Viên (vườn sen), bèn gả cho Kỳ Lân, sau nầy lên nối ngôi. Liên Viên là tiền thân của Da du đà la Yasodhara, trong một kiếp sau là vợ của hoàng tử Tất đạt đa Siddhartha (4b). Một chuyện tương tự đã xảy ra với vua Brahmadatta trị vì ở thành phố Kapila. Lần nầy tiền thân của Yasodhara là con gái cũng một con hươu cái thụ thai vì uống nước có tinh dịch của Kasyapa. Khi nàng sinh ra, đi mỗi bước là một đóa hoa sen nở ra ở dấu chân. Làm vợ thứ của vua, nàng bị mấy bà hoàng kia ghen tuông và kiếm cách đuổi đi nhưng sau cũng được nhà vua tìm đem về Kapila. Trong thời gian xa vua vì thiếu hạnh phúc, hoa sen cũng hết nở trên dấu chân nàng. Khi đức Phật kể chuyện nẩy, Ngài giải thích nàng đã phải đền tội quá khứ của mình (4c).

Hoa sen có mặt nhiều nơi trong đời sống đức Phật nên cũng dễ hiểu trong số các bộ kinh của Đại thừa, kinh Diệu pháp liên hoa tức Liên kinh Saddharmapundarika là một trong những bộ quan trọng nhất cùng với những bộ kinh Hoa nghiêm Avatamsaka, kinh A Hàm Agama, kinh Phương Đẳng Vaipulya, kinh Bát nhã ba la mật Prajnaparamita, kinh Đại Niết Bàn Mahaparrinirvana. Người ta tin Liên kinh trình bày giáo trình tám năm cuối đời đức Phật, trước kinh Đại Niết Bàn thu lại những lời dạy của Ngài ngày và đêm cuối cùng trước khi nhập diệt. Cả hai kinh nầy được xem là tuyệt đỉnh thuyết giáo của đức Phật. Những tu sĩ Việt Nam cho Liên kinh có một liên quan chặt chẽ với tông thiền, cho nên những thiền sư thường dùng hoa sen trong ý nghĩa từ ngữ ẩn dụ "hoa ở trong lò nhưng luôn vẫn tươi", tương đương với câu "sen sống trong bùn nhưng không tanh mùi bùn". Từ Phạn tự nguyên thủy, Liên kinh lần lượt được dịch qua Hán tự rồi qua quốc ngữ, chia làm hai phần văn xuôi và văn thơ, gồm có bảy bộ, sắp thành hai mươi tám chương. Những chương 2 (Phương tiện), 11 (Hiện bảo tháp) và nhất là 16 (Như lai thọ lượng) tóm lược 40 năm giáo trình của đức Phật, được ghi là tiêu biểu nhất. Nói chung kinh nầy giảng giải qua những ngụ ngôn như trong giáo trình của đức Phật (5). Đối với người Việt Nam gần gũi, quen thuộc nhất có lẽ là chương 25 (Quán thế âm bồ tát phổ môn) được xem như là một bộ kinh độc lập, được tụng hằng ngày không những ở nước ta mà khắp Viễn Đông, phổ biến lòng từ bi rộng lớn, thông cảm với nổi khổ của chúng sinh, đồng thời lại có quyền năng vô hạn, thần lực vô biên để cứu chúng sinh ra khỏi mọi khổ nạn (7a)

 

Vì  "tâm thần con người tốt nhất không có vết,…sen mọc từ bùn mà không dính vào bùn" (Lalitavistara), "trái tim con người là như búp sen : khi những đức hạnh của đức Phật khai triển trong lòng thì hoa mở ra, vì vậy Ngài thường tọa lạc trên một đóa hoa sen nở rộng" (Tajima Ryojun). Trong sách sử Phật giáo, hoa sen không chỉ có một màu. Hoa màu trắng (pundarika) tượng trưng cho thiên nhiên, hòa bình , chính giác, thường có 8 cánh tiêu biểu cho Bát chánh đạo : nó là hoa sen của đức Phật. Hoa màu đỏ (kamala) tượng trưng cho nhiệt huyết, hành động, tình yêu và bản chất cùng những đức tính của trái tim : nó là hoa sen của đức Quan Âm. Hoa màu xanh (utpala, nilotpala) được hình dung dưới dạng búp trong tay đức Văn Thù, tượng trưng cho khôn ngoan, thông minh, tri thức, là một trong những tiêu biểu của Bát nhã Ba la mật đa (Prajnaparamita). Hoa màu hồng (padma) là đóa hoa tuyệt đỉnh, thường được dành cho những thần thánh tối cao, có khi lẫn lộn với hoa màu trắng : nó là hoa của đức Phật hiện thân. Hoa màu đỏ tía, có tính chất thần bí, chỉ thấy trong một vài phái bí truyền. Hoa có thể có một cuống đơn hay ba (tượng trưng ba nhánh của Thai tạng giới Gharbhadhatu) hay năm (tượng trưng cho năm nhận thức của Kim cương giới Vajradhatu) (6).

 

Vì hoa sen tượng trưng cho đức hạnh trong sáng của đức Phật, để biểu tượng sự kiện Ngài ra đời, ngày xưa các họa sĩ thường vẻ một hoa sen, cũng như để biểu tượng sự kiện Ngài thành đạo ở Bồ đề đạo tràng cạnh Liên hà tức sông Ni liên thiền Nairanjana, họ vẻ một gốc cây bồ đề.

                 "Như hoa sen tinh khiết đáng nhìn,

                 Sinh từ bùn mà không dính bùn,

                 Ta không bị ô nhiễm vì cuộc đời,

                 Vì thế, nà Bà la môn ! Ta là Phật".

                                                     (Tăng Chi II, 39)

Theo các kinh sách của pháp môn Tịnh độ, Ngài được vãng sinh ở cõi Cực lạc phương Tây của Phật A Di Đà, được sinh ra không phải từ bụng mẹ, mà là từ trong hoa sen. Hoa sen có ba tầng : thượng, trung, hạ. Mỗi tầng như vậy lại chia làm ba cấp, tổng cộng có chín tầng sen. Tùy theo công phu tu hành mà người vãng sinh sẽ sinh ra một trong chín tầng sen (7b). Trên sáu cánh cửa torana công trình Sanci (thế kỷ 1) ở Madhya Pradesh, cây hoa sen pundarika được trình bày với bảy cây tượng trưng khác tương ứng với bảy vị Phật và đức Di Lặc ở các hình chạm nổi thấp (8,10) :

Vipasyin (Vipassin, Tỳ Bà Thi Phật), cây patali tức Bigonia suaveolens ;

Sikhin (Sikhin, Thí Khí Phật), cây pundarika tức Nelumbo nucifera, cây sen trắng ;

Visvabhu (Vessabhu, Tỳ Sa Bà Phật), cây sala tức Shorea robusta ;

Krakucchanda (Kakusandha, Câu Lưu Tôn Phật), cây sirisa tức Acacia sirissa ;

Kanakamuni (Konagamana, Câu Na Hàm Mâu Ni Phật), cây udumbara tức Ficus glomerata, cây sung ;

Kasyapa (Kassapa, Ca Diếp Phật), cây nyagrodha tức Ficus indica, cây sanh ;

Gautama (Gotama, Cồ Đàm), cây asvattha tức Ficus religiosa, cây đa bồ đề ;

Maitreya (Metteya, Di Lặc), cây nagapuspa tức Michelia champaka, cây ngọc lan.

 

Còn được gọi liên, quỳ, sen có tên khoa học thông dụng là Nelumbo nucifera Gaertn., thuộc họ Sen Nelumbonaceae. Cánh hoa sen màu hồng, nhưng cũng có sen cánh màu trắng (N. alba  Hort), màu vàng (N. lutea Pers.). Có loại sen gốc Mỹ N. pentapetala. Nhật có những tên ohga hasu, genshi hasu, shimnyoren. Ngoài ra, còn có loại sen thấp (sen sẻ N. nelumbo Druce var. nanum Horst), sen lá to (sen hoàng hậu Victoria regia Lindl. var. amazonia (Poep.) Klotzoch, sen cạn (địa liên Tropaelum majus Linn.). Hoa sen thơm nhờ những chất dễ bốc hơi, 75%là hydrocarbon, đặc biệt dimethoxybenzen. Lá sen cũng thơm nhờ nhiều hóa chất mà nhiều nhất là hexenol (40%). Một số hóa chất quan trọng trong sen tuy số lượng không nhiều là những alcaloid, đặc biệt nuciferin, neferin, tìm ra được trong lá, hột, mầm, phôi, và những flavonoid như norciferin, lirimidin tìm ra được trong lá. Ngoài ra, lá sen chứa đựng nhiều acid như ascorbic acid (vitamin C), những acid béo, những chất đường. Cùng những sterol, đường cũng đã được phát hiện trong hột cũng như khi đem thủy phân ologosaccharid trong rễ sen.

 

Đông y từ lâu đã dùng sen làm thuốc. Ngó sen (liên ngẫu, phần rễ ở dưới nước), gương sen (liên phòng), lá sen (liên diệp hay hà diệp), hoa sen (liên hoa), cuống sen, vỏ hột, nhị sen (liên tu) là những vị thuốc cầm máu (đi ngoài, tiểu tiện, nôn ra máu) nhờ tính chất cầm máu của những flavonoid. Hoa sen, nhị sen, hột sen, tâm sen (liên tâm), củ sen (phần rễ cắm sâu dưới bùn) là những vị thuốc bổ dưỡng, an thần. Ngoài ra, lá sen có tính mát, chữa tiêu chảy ; hột sen có tính bổ tâm tỳ, ích khí, thanh nhiệt, giải độc; nhị sen có tác dụng thanh tâm, thông thận, chữa di mộng tinh ; tâm sen, củ sen trị tim đập mạnh , khó ngủ, nằm mơ, thường người ta đem sắc chiết, trừ gương sen thì đốt cháy, tán bột, cho vào nước uống (9). Phần lớn các tác dụng dược lý của sen là do các alcaloid đem lại : nuciferin chống co thắt, neferin chống cao huyết áp, oxoushinsusin ức chế hoạt động khối u, chống ung thư biểu bì mủi hầu. Nhờ có chỉ số glycemic thấp, hột sen được xem là một thức ăn ưu tiên cho các bệnh nhân tiểu đường. Trong số các alcaloid, đem thử trên thú vật, asimilobin và lirinidin ức chế sự co ngắn của động mạch chủ thỏ, norarmepavin giảm đau, hạ nhịp tim, giản con ngươi chuột, những phần chiết chứa đựng alcaloid ức chế dị ứng chuột. Lipid chiết xuất từ sen có tác dụng sát trùng chống vài vi khuẩn gram âm, gram dương và nấm men, đặc biệt chống sâu Spodoptera littoralis phá hoại cây bông.

 

Forsythia, hoa mai vàng mùa Vu Lan ở Xô thành trên đất Pháp

 

Hồi tôi còn nhỏ, bên làng Mỹ Xuyên kế cạnh có ông Cửu Triêm rất giàu có. Tôi hay thỏ thẻ với chị tôi : sau nầy em ao ước có ngày được giàu như ông ấy… để mặc sức ăn chè ! Vài năm gần đây, nhân đi chơi vùng đồng bằng sông Cửu Long, viếng thăm ông Đạo Dừa, cô cháu con chị tôi tinh nghịch tặng tôi biệt hiệt ông Đạo Chè. Thật ra, người Huế nào không bị cấm đồ ngọt lại không thích chè. Hai món chè độc đáo nhất quê tôi là chè bột lọc bọc thịt quay, ít người vùng khác ưa thích, và chè nhãn lồng bọc hột sen, ai cũng mê mệt. Sau nầy, tôi lại thích thú đọc thấy chè hột sen cùng nhiều loại chè khác lại là những món ăn có chất thuốc. Người Pháp có câu khuyên : "kết hợp bổ ích với thích thú" thật là đáng nên theo.

 

                                                                Xô thành, Vu Lan 2007

 

1-     Peter Harvey, Bouddhisme, nxb Seuil, Paris (1993) 35-6

2-     Véronique Crombé, Le Bouddha, nxb Desclée de Brouwer, Paris (2000) 44-5

3-     Léon Wieger S.J., Les vies chinoises du Buddha, nxb Dharma, Collection Fenêtres (1913, tái bản 2002), 23

4-     Kshemendra, La liane magique, dịch từ tiếng Tây Tạng, nxb Padmakara, Périgueux (2001) a)99-118 ; b)395-8 ; c)411-5

5-     Le Sutra de Lotus, bản dịch tiếng Pháp của J.N. Robert, nxb Fayard, Paris (1997) 26-34

6-     Louis Frédéric, Les dieux bouddhiques, nxb Flammarion Paris (1992) 59-60

7-     Thích Minh Châu, Minh Chi, Tự điển Phật học Việt Nam, nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội (1991) a)556-7 ; b) 597

8-     J. Marshall, A. Fouscher, N.G. Majumdar, The Monuments of Sanci, Calcuta-Dehli, 1940, 199-200 ; A.K. Coomaraswamy, La sculpture de Bharhut, Paris, Vanoest, Annales du Musée Guimet, Bibliothèque d’art, Nouvelle Série, VI (1956) 65-6

9-     Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội (1986) 779

10-  Võ Quang Yến, Vô ưu, bồ đề, sala, Liễu Quán, Huế 3 (12.2005) 31-41 ; Cây cối trong đời đức Phật, Khoahoc@doisong 19.05.2005

Trở về Trang Chính