|
Không
cần phải ở Đà Lạt mới thưởng thức được mùi thơm ngào ngạt của
những hột bắp nướng. Tôi chắc từ nhỏ, trẻ em ở vùng nào trong
nước ta cũng đã từng chạy theo những trái bắp hoặc nướng trên
than hoặc chỉ nấu trong nước. Nướng hay nấu, bắp có trạng thái
đặc cứng khác nhau, mùi vị riêng biệt của một thức ăn điền dã mà
chắc lớn lên mấy ai quên được. Có nơi ăn bắp non với mỡ hành.
Tôi thì nhớ mãi chén chè bắp non ngon ngọt mà mỗi khi đi học xa
về, mẹ tôi để dành cho một vài chén bù vào những miếng cơm độn
bắp già cứng nhắc những năm 40, nhai mãi không nuốt được... Tuy
vậy, được mùa chớ phụ bắp, khoai,... dân ta đã từng biết đói,
đâu có quên ơn thức ăn những ngày khó khăn.

Chữ bắp
chỉ được thông dụng trong Nam. Ở ngoài Bắc người ta thường dùng
chữ ngô. Vậy thì bắp hay ngô ? Dược sĩ Bùi Kim Tùng giải thích
: Vào thế kỷ thứ 16, vua nhà Lê cử ông Phùng Khắc Khoan (tức
Trạng Bùng, Bùng là tên nôm làng Phùng Xá ) đi sứ sang Trung
Quốc (1597, nhà Minh). Ông Trạng Bùng thấy dân Trung Quốc trồng
một loại lương thực lạ có hạt tròn bóng như ngọc gọi là Ngọc mễ.
Ông Trạng Bùng bèn ra lệnh lén lút đem hạt giống về nước. Vì thế
Ngọc mễ được gọi là hạt Ngô (nước Ngô thuộc Trung Quốc). Tới
thời Ngô Quyền, người ta kiêng chữ Ngô nên gọi là bắp(7). Chắc
là có ai trước ông Trạng Bùng đem ngô về Việt Nam vì Ngô Quyền
trị vì giữa thế kỷ 10 ! Hay là người ta muốn tránh tên một ông
Ngô nào đó sau thế kỷ 16 ! Theo Lê Quý Đôn trong Vân Đài loại
ngữ “ hồi đầu đời Khang Hi (1662-1762), Trần Thế Vinh, người
huyện Tiên Phong (Sơn Tây, phủ Quảng Oai) sang sứ nhà Thanh, mới
lấy được giống lúa Ngô đem về nước ; suốt cả hạt Sơn Tây, nhờ có
lúa Ngô thay cho cơm gạo “. Thuyết nầy dời lại ít lâu cuộc nhập
tịch ngô vào Việt Nam nhưng cũng không giải thích tại sao ngô
lại được gọi là bắp. Người Minh thấy cây ngô giống cây thục thử
(cây kê nước Thục) hay cây “cao lương “ nên gọi nó là “ngọc thục
thử “ vì hạt như hạt ngọc. Sách Bản thảo cương mục đã tả nó như
cây ý dĩ , có râu trắng trên cái bọng giữa cây, bọng nức thì lòi
hạt ra, chi chít sắc vàng, trắng, đen, rang lên ăn điều trung
khai vị (hoà ở trong mình, làm cho muốn ăn). Lê Quý Đôn đặt tên
nó là “ Ngô hòa” hay “ lúa ngô “. Sách Đại Nam nhất thống chí
nói nó đem từ Tây Phiên (các nước Phiên ở phương Tây) đến nên có
tên “ Phiên mạch”, cho biết Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành
thông chí đặt tên “hoàng mạch “ hay “ hoàng thúc “ (thúc là một
loại hạt nhỏ như hạt đậu) và gọi nó “ ngọc cao lương”, tục danh
“ lúa bắp “, không nói đến tên “ lúa ngô “. Có thể giản tiện
giải thích gọi là bắp vì hình trái giống cái bắp như bắp cày,
bắp chuối, bắp cải, bắp tay, bắp chân... (9)
Dù sao
có thể hiểu bắp là từ Trung Quốc mà qua nước ta. Nhưng chưa biết
từ đâu mà bắp đem sang Trung Quốc. Rất có thể những người Tây
Ban Nha, Bồ Đào Nha mang nó từ Nam Mỹ trước về châu Âu, sau qua
châu Phi, châu Á. Ngày nay người ta biết bắp là từ một giống mọc
hoang được đem về trồng và ghép lai hơn nhiều ngàn năm nay. Nó
là ngũ cốc được chọn lựa, thí nghiệm, thay đổi tính di truyền
nhiều nhất. Sở dĩ nguồn gốc của nó được bàn cải xôn xao vì một
đằng đó là một dịp cho các nhà di truyền học và thảo mộc học
khảo cứu sự hiện hình hiếm có của một giống cây mới, đằng kia
tìm hiểu cách trồng trọt và chọn giống là học hỏi sự phát triển
của một dân tộc. Đề tài nầy tất nhiên huy động nhiều giới khảo
cứu viên đủ ngành. Từ cuối thế kỷ 19, nhà thảo mộc học Thụy Sĩ
Alphonse de Candolle đã làm bản kê khai những vùng nguyên gốc
cây được trồng. Đầu thế kỷ 20, một nhà thảo mộc khác, Nicolai
Ivanovitch Vavilov, người Nga, chạy tìm khắp thế giới những cây
có ích trồng được. Chính ông đã hiểu nguồn gốc một cây là ở nơi
có nhiều loại cây ấy nhất và xác định bắp phải bắt nguồn từ miền
Trung Mỹ. Sau Vavilov, nhiều nhà thảo mộc Mỹ lưu tâm đến đề tài
và đưa giả thuyết bắp là từ giống hoang teosinte (từ tiếng
Azteque teocentli ), tức Euclania mexicana, một cây rơm cỏ mọc ở
Mexico và Guatemala mà lại (1). Vào giữa thế kỷ 20, nhà di
truyền học George Beadle, cộng tác với R.A. Emerson ở Viện Đại
học Cornell, cho giao hợp hai cây ấy và đạt được nhiều giống lai
có khả năng sinh sản. Cũng vào thời ấy, Paul Mangelsdorf ở Viện
Đại học Chapel Hill (North Carolina), cho bắp quá khác teosinte
để có thể từ giống ấy mà ra (2). Theo ông, nguồn gốc bắp phải từ
một giống hoang có hình thái giống bắp hơn còn teosinte có thể
là một cây lai giữa bắp và một giống sơ khai gọi là Tripsacum.
Cuộc tranh luận bắt đầu từ đây.
Không
bào chữa ngay giả thuyết teosinte, Beadle bỏ công khảo cứu những
quan hệ cơ bản giữa DNA và những protein mà kết quả đưa ông đến
giải Nobel sinh lý và y học năm 1958. Trong lúc ấy, cộng tác với
nhà khảo cổ học Richard McNeish, Mangelsdorf chạy tìm kiếm những
bằng chứng cho những khẳng định của mình. McNeish quan tâm đến
nguồn gốc canh nông ở châu Mỹ và cuộc thăm dò đưa ông đi lục
soát những hang động, những hầm trú ẩn trong hóc đá. Năm 1963,
khám phá đặc sắc nhất của ông tại Coxcatlan và San Marcos ở hai
thung lũng Tehuacan và Oaxaca là khoảng 100 mảnh bông bắp để lại
từ năm 5600 trước Công nguyên. Cạnh đấy, cũng ở miền Nam Mexico,
thung lũng Balsas thì lại cống hiến những mẫu hoang teosinte.
Theo họ, rõ ràng bắp ngày xưa tuy nhỏ hơn bắp ngày nay, cả hai
giống nhau về mặt hình thái : trục (rachi) cứng mang nhiều hàng
hột, mày (glume) hột mềm; trái lại, trục teosinte mềm dẻo, chỉ
mang hai hàng hột, mày hột cứng giữ kỹ hột. Bên phần Beadle, vẫn
luôn trung thành với giả thuyết của mình, năm 1970, cộng tác
với những nhà sinh vật học, khảo cổ học và dân bản xứ Mexico,
ông mở chiến dịch “Săn tìm đột biến teosinte” và thu lượm 70 kg
mẫu hột, không chứng minh được gì, nhưng đem gieo và hợp giống
những hột nầy với nhau, ông phát minh ra chỉ có năm gen thiết
lập khác biệt hình thái giữa teosinte và bắp.
Trong
thập niên 80, John Doebley ở Viện Đại học Minnesota, khảo cứu
những biến thể trong bộ gen viên lục (chloroplaste) của teosinte
và bắp và những biến dị protein của hai giống, xác nhận những
kết luận của Beadle : quần thể teosinte mọc trong thung lũng
Balsas không khác gì bắp xứ Mexico. Ông còn chứng minh teosinte
đem trồng đã cho hột thoát được đấu (cupule) gắn nó vào trục và
ra khỏi mày cứng cầm tù nó. Năm 1989, cộng tác với Austin Long ở
Viện Đại học Arizona, Bruce Benz ở Viện Đại học Wesleyan
(Texas), ông bỏ công kiếm những bằng chứng cuộc thuần dưỡng
teosinte về mặt khảo cổ học : họ chỉ tìm ra những mẫu bắp xưa
3500 năm trước Công nguyên, nghĩa là 2000 năm sau những mẫu của
McNeish và nghi hoặc cách định ngày của ông nầy. Nhưng đầu năm
2001, Dolores Piperno ở Viện Smithsonian, và Kent Flannery, ở
Viện Đại học Michigan, xác định được ba mẫu bắp trong một hang
động ở Guila Naquitz, thung lũng Oaxaca, sống 4250 năm trước
Công nguyên. Có thể xem đây là những mẫu xưa chính xác nhất tìm
được ở Nam Mỹ (10). Cuộc tranh cải kéo dài rất lâu, chưa ngã ngũ
rõ ràng tuy giả thuyết teosinte có phần thắng thế. Beadle vượt
ra khỏi những bằng chứng khoa học, còn cống hiến những luận
chứng về ngôn ngữ, tập quán : teocentli có nghĩa là “bông bắp
của thượng đế “ chứng minh người Azteque thấy có liên quan giữa
teosinte và bắp. Đằng khác, ở nhiều nơi trong nước Mexico,
teosinte được gọi là madre de maiz nghĩa là “mẹ của bắp “, nói
lên ký ức văn hóa của người dân bản xứ (3).
Ngoài phẩm chất dinh dưởng, bắp sấy khô dễ chuyên chở và tích
trử lâu ngày. Nhờ nó mà những dân tộc Azteque, Maya, Inca,...
lập nên được sự nghiệp to lớn vào những thế kỷ 14, 15 trước khi
người Tây Ban Nha bước chân lên đất Nam Mỹ. Những kim tự tháp
của người Maya ở Yucatan, những bức tường khổng lồ của dân Inca
ở thành Cuzco,... đang còn đó để nói lên những bắp thịt cứng rắn
của những người ăn bắp. Bắp đem nấu hay nướng rất dễ ăn, hột bắp
rang cho nỗ ra ăn rất bùi miệng, đem nghiền thành bột làm bánh
tráng cũng dễ chuyên chở hay cho mọc mầm ủ thành rượu nặng nhẹ
tùy cách. Trong danh sách triều cống dâng cho vị vua Azteque
cuối cùng Montezuma, thấy có quy định số bắp hằng năm 20 tỉnh
trong vương quốc phải nộp là 300 000 thưng. Thổ dân nhập cảng
bắp có thể từ miền Nam Mexico rồi cho thích nghi vào thủy thổ
những vùng ôn đới, nhiệt đới ở Nam Mỹ. Vẫn biết những phương
pháp chọn lựa, ghép lai hiện đại ngày nay đã tạo nên những loại
bắp với năng suất vô cùng cao, thích hợp với đủ loại khí hậu,
chống chỏi được nhiều bệnh tật cũng như sâu bọ, cuộc sáng tạo ra
những mẫu bắp trồng với những kỹ thuật thô sơ của thổ dân châu
Mỹ quả là một sự thành công xuất chúng của con người về mặt
chọn lọc thảo mộc. Hơn nữa, đem cây hoang về trồng rồi cải tạo
cho nó đem lại nhiều năng suất chứng minh lương tri của con
người : từ cuộc sống săn-hái qua canh nông có tổ chức là một
bước lớn của nhân loại, một bước tiến từ từ nhưng chắc chắn,
xuất hiện cùng lúc ở nhiều chỗ trên hoàn cầu.
Trên
thế giới ngày nay, với số sản xuất hằng năm khoảng 600 triệu
tấn, trị giá trên 50 tỷ USD/Euro, bắp là tài nguyên canh nông
đứng hạng nhì sau lúa mì. Trực tiếp hay gián tiếp nuôi 15-20%
nhân loại, nó được trồng trong 70 nước, chiếm hơn 120 triệu ha,
từ những nơi cao độ thấp như quanh biển Caspienne đến những vùng
đồi núi vượt quá 4000m trong dãy núi Andes, từ những nơi bán-khô
(lượng mưa dưới 400mm) như Trung Mỹ đến những vùng ẩm ướt
(lượng mưa trên 2m) như Đông Nam Á. Sau cách thức thô sơ chọn
lựa bông bắp theo những chỉ tiêu hình thái hay sinh vật học, dễ
thực hiện nhưng ít có hiệu quả, ngày nay nhiều phương pháp mới
hơn đã được sử dụng. Chẳng hạn phương pháp gọi là “ bông gieo
theo hàng “ (épi à la ligne) dựa lên kết quả cây bắp thế hệ sau,
sau hơn một thế kỷ thực nghiệm đã làm tăng dầu trong bắp từ 4,5
lên 16,6%, protein từ 10,9 lên 26,6%. Tiếp theo là các cuộc chọn
lựa “ quặc ngược lũy tích “ (récurrente cumilative) hay “ quặc
ngược hổ tương “ (récurrente réciproque) nhắm đạt một giống lai
ưu thế (heterosis), những phương pháp “ tạp giao đỉnh ngọn “
(top-cross), “ tạp giao thuận nghịch “ (croissement diallèle)
cho giao phối nhiều mẫu hòng cải thiện với những tính chất hay
ho ở các mẫu khác, đưa đến những loại bắp dễ thích nghi với khí
hậu hay biết chống lại được bệnh tật như chứng làm khô lá
(minthosporiose)... Sau 20 thế hệ, nhiều phối hợp đã cho đạt đến
15 000 bắp lai đơn, đôi hay ba tùy theo đã dùng hai, ba hay bốn
giống. Trong tương lai, dần dần những cuộc hợp lai đều được thực
nghiệm trong phòng thí nghiệm. Muốn đạt được một mẫu có đủ điều
kiện đem ra trồng, phải thử nghiệm khoảng 10 000 cuộc hợp lai.
Có điều là ngày nay, người ta không chỉ bằng lòng với một cuộc
chọn lọc hay ghép lai. Để hạ bớt số thực nghiệm, nhiều phương
hướng mới đang được khảo sát : sớm dò giống lai ưu thế để hướng
dẫn các mẫu, nuôi trồng viên lục nhiều loài để cho hợp nhất với
nhau như táo với lê hay cà chua với khoai..., lai giống khác
loài như với bắp khác xứ hay teosinte với bắp, phát sinh đột
biến với hóa chất hay tia gamma,... và vận dụng di truyền (5).
Trong
mục đích chống sâu bọ, tăng năng suất, chuyên gia thực hiện
những cuộc chuyển đổi di truyền. Loại bắp Novartis chẳng hạn
mang thêm trong cây một gen lấy từ vi khuẩn Bacillus
thuringiensis, có khả năng sản sinh một độc tố. Độc tố nầy là
một chất sát trùng sinh hóa học, có tính chất tiêu diệt bướm ống
(pyrale) là một loại sâu cánh phấn (lepidoptere) mà ấu trùng phá
phách bắp. Lợi ích loại bắp nầy là tự nó chống lại sâu bọ, không
cần dùng thuốc sát trùng hóa học. Mới xem thì phương pháp thần
hiệu nầy thật là sạch sẽ đối với môi trường sinh thái. Trong
thực nghiệm, cây có gen mới có thể ghép lai với những loại cỏ
hoang cùng loại và cho phát sinh những cỏ hoang biết chống lại
sâu bọ. Điển hình là trường hợp cây cải dầu (colza) : mang gen
chống chịu các chất khử trùng, nó bất thường ghép lai với cỏ
hoang như loại củ cải dại (ravenelle), truyền cho cỏ nầy tính
chất khử trùng và cỏ mặc sức mọc, lấn áp cải dầu ! Vẫn biết bắp
không ghép lai với bất cứ loại cây nào khác mà chọn lọc những
cây có bộ gen gần giống nó. Đây là lời cảnh cáo cho hội đồng ban
giấy phép vì hiện bốn mẫu ngoài Novartis đang chờ đợi được khai
thác ! Ngày nay ở Pháp, cây cải dầu mang gen chưa dược giấy phép
cũng như cây củ cải đường mang gen vì thấy nó phối hợp với một
loại củ cải đường hoang gọi là củ cải đường biển. Câu hỏi là
liệu những dữ kiện khoa học, kỹ thuật có vượt trội lên trên
những lợi tức kinh tế không ?
Bắp hay
ngô còn được gọi má khẩu lý (Thái), hờ bo (Ba Na), mang tên khoa
học Zea mays L., thuốc họ Lúa Poaceae hay Gramineae 34. Anh,
Pháp thường gọi nó mais từ danh từ bắp xưa maiz, người Mỹ thì có
tên corn. Nó là một cây trồng ở khắp nơi, chỉ sống một năm, cao
1-2m, lá mọc so le, hình dải, dài, hoa đơn tính cùng gốc : hoa
đực nhỏ, mọc thành bông ở ngọn, hoa cái mọc sít nhau, được bao
bởi nhiều lá bắc to, vòi nhụy dài, quả dĩnh, hạt nhiều, xếp
thành hàng. Mùa hoa quả nằm vào tháng 4-6, hoặc tùy thuộc vào
mùa gieo trồng trong năm 6. Ở Việt Nam ta, bắp là một cây lương
thực trồng rất phổ biến khắp nơi, nhiều nhất ở miền núi. Hột
bắp ăn trộn với gạo hay thế gạo, dùng nấu rượu, làm tương, thân
lá tươi làm thức ăn cho súc vật (8). Có nhiều loại bắp, thường
được xếp vào các hạng bắp tẻ (trắng, mềm), bắp nhỏ (ít tinh bột,
ăn cả lõi như rau), bắp nếp (dẻo hạt), bắp vàng (hạt cứng nhưng
sản lượng cao nên dùng cho gia súc). Hột bắp nấu lâu thì bung ra
nên gọi là bắp bung. Bắp bung, xôi nếp, hành phi, bột đậu xanh
hấp hợp nhau lại thành xôi lúa là một thức ăn bình dân, thông
dụng mà thơm ngon, hấp dẫn lại thêm bổ sức vì chứa đựng nhiều
glucid và protein. Nung hột bắp trong hộp kín lên nhiệt độ cao
rồi mở nắp lanh khiến áp suất thay đổi đột ngột, nó vừa bung vừa
nổ nên gọi là bắp nổ, còn có tên bỏng bắp tức là popcorn của
người Mỹ (7).
Hột bắp
chứa flagellat 38, abscisin 18, protein (7-12%) cùng lysin
(1,8-4,45%) và tryptophan (0,4-1,0%) tùy theo loại hột 23. Phần
chính protein-polysaccharid trong vỏ hột là hydroxyprolin và
những amin acid : serin, threonin 17. Lá và hột bắp nẩy mầm
chứa indol-3-butyric acid nội sinh ở dạng tự do hay ester (27).
Octen-3-ol là chất tìm ra dược trước nhất trong số những chất dễ
bốc hơi của bắp dự trử (19). Phấn hoa chứa những flavonoid như
isorhamnetin, quercetin và quercetin-3-glucoside, một trong
những flavonol có nhiều nhất trong các tổ chức cây cỏ (21). Phần
chiết đầu nhụy chứa đựng mazenic acid (2-2,5%) bên cạnh hai
phytosterol là sitosterol và stigmasterol dưới dạng acetat (15)
. Đầu nhụy và vòi nhụy đem chiết rượu thì có được 2,05-2,97%
flavonoid 35, dưới dạng glycosid, hai sapogenin là b-sitosterol
, oleanolic acid và chất đường trong phần saponin là rhamnose
(34) . Thân bắp ủ chứa (g/kg) cellulose (193-238), lignin
(8-29), protein và amin acid : lysin, arginin, leucin, prolin,
glutamic acid. Đường trong hemicellulose nhiều nhất là (g/g)
xylose (0,77) bên cạnh arabinose (0,17), galactose (0,06) và
mannose (0,01)25. Cám bắp chứa đựng (%) nhiều phenolic acid (4)
gồm có phần lớn ferulic và diferulic acid, heteroxylan (50) bên
cạnh cellulose (20) (32). Dầu hột bắp chứa a-tocopherol,
b-sitosterol và propyl gallat (26). Trong mầm bắp thì chỉ có
g-tocopherol (22). Carotenoid trong bắp là zeaxanthin, thành
phần điểm vàng ở võng mạc, có nhiệm vụ che chở chống những gốc
tự do của oxy phát xuất từ ánh sáng (29). Phần chiết ether dầu
hỏa phát hiện provitamin A (13). Về mặt enzym, trong hột bắp có
phosphohexokinase (16), phần chiết huyền phù (suspension) tế bào
bắp chứa đựng hai loại homoserin deshydrogenase (20). Màng tế
bào đem xử lý với xylanase và glucuronoxylasase thì tách biệt
được một phức hợp gồm có arabinose, galactose, rhamnose, xylose,
galacturonic acid và một số nhỏ các chất khác 28. Khoáng chất,
kim loại trong bắp là Na, K, Mg, Ca, Fe, P, S và Cl (14). Sau
cùng cũng nên biết trong bắp, chất gây dị ứng là một lipid
chuyển dời protein LTP trọng lượng phân tử 9kDa (40).
Nhờ
tính chức ức chế protease, bắp cũng như đậu, gạo có khả năng
ngăn cản ung thư vú, da, ruột kết ở thú vật và một cuộc khảo
cứu dịch tể học cho thấy thức ăn gồm nhiều những hột ấy giảm hạ
ung thư vú, tiền liệt, ruột kết con người (24). Phần chiết hột
bắp với ethanol có tính chất chống vi khuẩn, kháng cự lại
Staphylococcus aureus (30). Người Tàu ngâm hột bắp (cũng như
gạo, đậu, lúa miến, khoai lang,...) trong nước cây (táo, đào,
thơm ,...) và cho lên men để chế rượu bổ và thơm (39) hay dấm
(36). Họ cũng dùng vòi nhụy cho trộn với bột bầu bí, dâu tằm,
sinh địa, kỷ tử, cám mì, đại mạch, sơn dược, cỏ ngọt cùng nhiều
loại ngũ cốc,... để làm thuốc giảm đường trong máu (33). Để chữa
chứng viêm gan B và C, người Nga đề nghị một hỗn hợp nhiều cây
thuốc chứa lectin : đầu nhụy, lá hoa xôn, lá liễu rủ, lá hương
phong, lá bạc hà, hoa xu xi, bạc hà mèo (41). Ở Nam Mỹ, vòi nhụy
và đầu nhụy bắp, thường được gọi ”pelos de choclo” hay “ barba
de choclo “, được đem sắc uống làm thuốc thông tiểu tiện và chữa
áp suất trước kinh nguyệt (34). Bên Iran, râu bắp được trộn với
nhiều cây khác để uống thảy sỏi thận (42). Bột bắp được cho trộn
với đào gai, gừng khô, vỏ cam củ khô, kỷ tử thành thuốc cho vào
thức ăn bổ sức (37).Từ lâu, hột bắp cũng như gạo, khoai đã được
dùng làm giấy vấn thuốc (11). Người ta cũng lấy dầu bắp chứa
đựng chất diệt khuẩn để dùng trong mỹ phẩm xà phòng cạo râu
(12).
Trong
Đông y, râu bắp và ruột cây bắp vị ngọt, tính bình, có tác dụng
lợi tiểu, tiêu thũng, thông mật, cầm máu. Chữa huyết áp cao :
uống nước luộc bắp hằng ngày, mỗi ngày 2-3 lần, mỗi lần vài bát,
uống liền hai, ba tháng. Chữa đái đường : uống mỗi ngày 20-30g
bột mầm bắp khô trong nuớc sắc đọt khoai lang đỏ hay hằng ngày
ăn chè bắp sữa nấu với củ mài, đồng thời ăn rau lang đỏ nấu
canh. Chữa phù thũng, viêm thận cấp, đái đỏ hay viêm gan tắc
mật, đái vàng và da vàng : 40g râu bắp hay 150g ruột cây bắp sắc
uống (6). Mầm sấy khô, tán bột, chứa đựng nhiều enzym tiêu hóa,
được dùng để trị các bệnh chậm tiêu, đầy bụng, đi tiêu phân sống
7. Ngoài sitosterol, stigmasterol, saponin, Ca, K (0,028g và
0,532g/20g), vitamin C, râu bắp chứa tới 1600 đơn vị sinh lý
vitamin K nên có thể phối hợp nó với sinh tố nầy để làm thuốc
cầm máu. Để chữa những bệnh về tim, đau thận, tê thấp, sỏi thận,
viêm túi mật, viêm gan với hiện tượng trở ngại bài tiết mật, có
thể dùng bắp dưới hình thức thuốc pha hoặc nấu sôi, hay chế
thành cao lỏng, mỗi ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 30-40 giọt trước
bửa ăn (4). Không phải tình cờ mà ở Viện Đại học Hà Nội đã có đo
lường protein và amin acid (16) loại bắp để xác định giá trị
sinh vật học của chúng (31).
Bắp
không chỉ là cây lương thực của đời sống hằng ngày ở nước ta mà
còn lẫn lộn với chuyện thần linh. Ai mà không biết sự tích cây
nêu ngày Tết. Thuở ma quỷ chiếm toàn mặt đất, dân chúng chạy cầu
cứu đức Phật. Ngài khuyên dân chúng thương lượng với ma quỷ đổi
một gánh bắp lấy một mảnh đất to bằng một bóng áo. Thấy đòi hỏi
không có gì lớn lao, ma quỷ đồng ý. Phật liền bảo gài một cái áo
trên đầu một cây tre rồi vận thần thông cho cây tre lớn lên trời
cao. Bóng áo đổ xuống chiếm toàn mặt đất. Từ đấy ma quỷ hết còn
làm chủ. Và cũng từ đấy, mỗi khi Tết đến, dân chúng dựng cây nêu
để cho ma quỷ khỏi về. Qua phần văn nghệ, trong câu hò giả gạo ở
Huế, bắp cũng là đề tài để phe nữ thử tài phái nam : Trong trăm
thứ bắp có bắp chi là bắp không rang ? Và câu trả lời cũng láu
lỉnh không bằng : Trong trăm thứ bắp, lắp bắp mồm, lắp bắp miệng
là bắp không rang... Nhưng đối với người Huế hay, nói chung,
những người yêu Huế, bắp là một trong những hình ảnh Huế mà
chàng thi sĩ đa tình Hàn Mặc Tử đã gợi lên trong bài thơ Đây
thôn Vỹ Dạ bất hủ từ thuở tiến chiến :
Gió theo lối gió, mây đường mây ;
Giòng nước buồn thiu, hoa bắp lay.
Xô thành tiết đại thử 2004
Tài
liệu
Đại
cương
1- H.G.
Wilkes, Teosinte : the closest relative of maize, The
Bussey Institution Of Harvard University (1967)
2-P.C.
Mangelsdorf, Corn, its origin, evolution and improvement,
Press of Harvard University (1974)
3-G.
Beadle, L'origine du maĩs, Pour la Science (3) (1980)
59-71
4-Đỗ
Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, nxb Khoa
học và Kỹ thuật, Hà Nội (1986) 237-8
5-J.P.
Gay, Le mais, La Recherche 18 (1987) 459-66
6-Viện
Dược Liệu, Cây thuốc Việt Nam, nxb Khoa học và Kỹ thuật,
Hà Nội (1990) 419
7-Bùi
Kim Tùng, Món ăn bài thuốc III, Sở Khoa học Công nghệ và
Môi trường tỉnh Bà Rịa,Vũng Tàu (1996) 33-8
8-Lê
Trần Đức, Cây thuốc Việt Nam, nxb Nông Nghiệp, Hà Nội
(1997) 602-3
9- Tố
Am Nguyễn Toại, Cây lúa bắp hay lúa ngô, Thông tin Khoa
học và Công nghệ 22(4) (1998) 162-6
10-
Bruce Benz, La domestication du mais, La Recherche 348
(12) (2001) 25-29
Khảo
cứu
11- O.P.
Kohre, Cigaret paper, DE 598550 19340613 (1934)
12-
Standard Branchs,Inc., Antiseptics, GB 423354 19350122
(1935)
13-
J.C. Lantzing, A.G. van Veen, The provitamin A content of
differnet vegetable products, Geneeskund. Tijdschr.
Nederland.-Indie 77 (1937) 2777-804
14- G.
Ajon, Chemical composition of foods, Univ. degli studi I
Ist. Merceologia (Catania) (1939) 38tr.
15- A.
Zaki, G. Soliman, Constituents of the petroleum extract of
Zea mays stigmas, J. Chem. Soc. Abst. (1940) 1545-7
16- B.
Axelrod, P. Saltman, R.S. Bandurski, R.S. Baker,
Phosphohexokinase in highher plants, J. Biol. Chem. 197
(1952) 89-96
17- J.A.
Joyce, J.S. Wall, J.E.Jr. Turner, J.H. Woychik, R.J. Dimler,
A mucopolysaccharide containing hydroproline from corn pericarp.
Isolation and composition, J. Biol. Chem. 242(10) (1967) 2410-5
18- B.V.
Milborrow, Identification of (+)-abscisin II [(+)-dormin] in
plants and measurement of its concentrations, Planta 76(2)
(1967) 93-113
19- D.
Richard-Molard, B. Cahagnier, J. Poisson, R. Drapon, C.
Desserme, Comparative evolution of volatile constituents and
microflora in maize stored under different consitions of
temperature and humidity, Ann. Tech. Agric. 25(1) (1976)
29-44
20-
T.J. Walter, J.A. Connelly, B.G. Gengenbach, F. Wold,
Isolation and characterization of two homoserine dehydrogenases
from maize suspension cultures, J. Biol. Chem. 254(4) (1979)
1349-55
21-
E.D. Styles, O. Ceska, Genotypes affecting the flavonoid
constituents of maize pollen, Maydica 26(3) (1981) 141-52
22-
P.J. Barnes, P.W. Taylor, g-Tocopherol in barley germ,
Phytochem. 20(7) (1981) 1753-4
23- S.
Krishnaveni, Biochemical constituents of certain promising
maize cultures, Madras Agric. J. 70(2) (1983) 139-40
24- W.
Troll, R. Wer, Protease inhibitors : possible anticarcinogens
inedible seeds, Prostate 4(4) (1983) 345-9
25 R.H.
Philipps, A.B. McAllan, Carbohydrate constituents and amino
acid composition of maize silage grown on commercial farms in
the U.K., Maydica 29(1) (1984) 37-3
26-
A.S. Raj, M. Katz, Corn oil and its minor constituents as
inhibitors of DMBA-induced chromosomal breaks in vivo, Mut.
Res. 136(3) (1984) 247-53
27- E.
Epstein, K.H. Chen, J.D. Cohen, Identification of
indole-3-butyric acid as an endogenous constituent of maize
kernels and leaves, Plant Growth Reg. 8(3) (1989) 215-23
28- Y.
Kato, D.J. Nevins, Structural characterization of an
arabinoxylan-rhamnogalacturonan complex from cell walls of Zea
shoots, Carb. Res. 227(6) (1992) 315-29
29- W.
Schalch, Carotenoids in the retina - a review of their
possible role in preventing or limiting dalage caused by light
and oxygen, Vitam. Fine Chem. Div. F.Hoffmann-La Roche EXS
62 (1992) 280-98
30- C.
Perez, C. Anesini, Antibacterial activity of alimentary
plants against Staphylococcus aureus growth, J. Chin. Med.
22(2) (1994) 169-74
31-
Khoi Bui Huy, M. Hidvegi, R. Lasztity, A. Salgo, L. Sarkadi,
Biological nutritive value of protein of Vietnamese maize
varieties, Per. Polyt. Chem. Eng. 38 (3-4) (1994) 209-17
32- L.
Saulnier, J. Vigouroux, J.F. Thibault, Isolation and partial
characterization of feruloylated oligosaccharides from maiz bran,
Carboh. Res. 272(2) (1995) 241-53
33- Y.
Zhu, L. Zhou, Hypoglycemic granules, Faming Zhuanli
Shenqing Gongkai Shuomingshu CN 1154857 A 19970723 (1997) 12tr.
34- A.
Sosa, R. de Ruiz, E.L. Rosa, M.del.R. Fusco, S.O. Ruiz,
Flavonoids and saponins from styles and stigmas of Zea mays
L. (Gramineae), Acta Farm. Bonaerense 16(4) (1997) 215-8
35- G.I.
Minazova, S.B. Denisova, V.T. Danilov, Yu.I. Murinov,
Spectrophotometric determination of flavonoids in species “
Hepaphyt “, Farmats. (Moscow) 46(1) (1997) 27-8
36- X.
Li, Preparation of fruit vinegar, Faming Zhuanli
Shenqing Gongkai Shuomingshu CN 1180743 A 19980506 (1998) 9tr.
37- K.
Tang, Preparation of health food, Faming Zhuanli Shenqing
Gongkai Shuomingshu CN 1180495 A 19980506 (1998) 3tr.
38- C.
Fernandez-Ramos, F. Luque, C. Fernadez-Becerra, A. Osuna, S.I.
Jankevicius, M.J. Rosales, M. Sanchez-Moreno, Biochemical
characterization of flagellates isolated from fruits and seds
from Brazyl, FEMS Microbiol. Letters 170(2) (1999) 343-8
39- F.
Sun, Fruit-grain wine, Faming Zhuanli Shenqing Gongkai
Shuomingshu CN 1267717 A 20000927 (2000) 3tr.
40- E.A.
Pastorello et all., The maize major allergen, which is
responsible for food-induced allergic reactions, is a lipid
transfert protein, J. All. Cent. Clin. Immun. 106(4) (2000)
744-51
41- A.A.
Korsun, E.V. Korsun, E.N. Yagovdik-Telezhnaya, Agent for
treatment of viral hepatitis B and C and method of treatment,
RUXXE7 RU 2185185 Cl 20020720 (2002)
42- M.
Al-Ali, S. Wahbi, H. Twaij, A. Al-Badr, Tribulus terrestris :
preliminary study of its diuretic and contractile effects and
comparison with Zea mays, J. Ethnophar. 85(2-3)
(2003) 257-60
- trích
Nghiên cứu và Phát triển 2(40) 2003 -
Trở về Trang Chính
|