|
Ngày
10.06.2002, hai giáo sư Robert Gallo, người Mỹ, và Luc
Montagnier, người Pháp, hai nhà khảo cứu có tiếng trên thế giới
nhờ đã khám phá ra độc trùng aids, được vào yết kiến đức Giáo
Hoàng ở Vatican. Giáo sư Montagnier nhân đó đã dâng tặng một hộp
màu hoa cà chứa đựng nhiều viên thuốc mà Ngài sử dùng mỗi sáng
và mỗi tối, đặt ngay dưới lưỡi. Quan hệ giữa một nhà bác học và
một vị giáo chủ đã được báo chí dạo ấy mặc sức bàn tán xôn xao :
giáo sư đã bốc cho đức Giáo Hoàng một liều thuốc trường sinh...
Thật ra, chỉ là một môn thuốc mà chất nền là một phần chiết lên
men của đu đủ do hãng Osato bào chế bên Nhật Bản. Đức tính đặc
biệt của thuốc nầy là kích thích miễn dịch và chống oxi hóa,
những tính chất đặc biệt cần thiết trong cuộc trị liệu các chứng
Parkinson, Alzheimer thường khởi động một cuộc oxi hóa những
protein các neuron.
Trước
hè, giáo sư Montagnier đã đứng ra bảo trợ môn thuốc ấy. Trong
một bài diễn thuyết để giới thiệu và trong một cuộc phỏng vấn
đăng trên báo Nutranews (5), giáo sư không ngớt ca tụng FPP
(Fermented Papaya Preparation) : chế tạo theo những quá trình
sinh học công nghệ đu đủ lên men là một bổ thể dinh dưỡng thiết
dụng có khả năng loại trừ những gốc hydroxyl nhân đó kiểm tra
những gốc tự do, kích thích hoạt động của superoxid dismutase
đồng thời hoạt hóa những đại thực bào và gây nên một tác động
miễn dịch điều biến. Theo ông, nhiều thực nghiệm lâm sàng rất
công hiệu đã chứng minh FFP, nhờ khả năng trung hòa hóa những
gốc tự do, trì hoãn rõ ràng sự oxi hóa những lipid trong huyết
tương và những màng hồng cầu bệnh nhân. FFP cũng là một chất
phản ứng suất cải tiến cuộc thích nghi của cơ thể với điều kiện
thiếu oxi ở cao độ, cuộc ứng suất xúc cảm tâm lý ở vị trí trên
không. Ở mức tế bào, FFP hoạt hóa cuộc chuyển hóa năng lượng, sự
tổng hợp những protein cùng những chuỗi bạch huyết bào và những
đại thực bào / bạch cầu đơn trong hệ thống miễn dịch của cơ thể.
Là một chất kích thích miễn dịch, FFP cũng có thể ngăn chận bước
đầu những chứng tầm thường như cảm mạo, sổ mủi. Chính ông cũng
đã dùng, mỗi ngày hai lần, buổi sáng và buổi chiều, ngoài bửa ăn,
luôn đặt dưới lưỡi. Theo ông, nếu ngày nay FFP đang chỉ là một
bổ thể dinh dưỡng, một mai đây nó sẽ trở thành một môn thuốc trị
độc trùng, aids, ung thư,...
Từ đâu
giáo sư Montagnier tin tưởng nhiều vậy vào phần chiết đu đủ lên
men ? Sự tích bắt đầu từ năm 1996, sau một cuộc hội thảo tổ
chức ngày 21.05 tại Viện Pasteur ở Paris trên đề tài ứng suất
oxi hóa ở aids, ung thư cùng các bệnh thoái hóa khác. Giáo sư
Montagnier hằng tin trùng HIV càng phát triển thì càng phát
tiết những gốc tự do, tăng cường ứng suất oxi hóa ở bệnh nhân.
Đúng vào dịp đó, hai khảo cứu viên Nga tại Viện Huyết học Khoa
nhi ở Matxcơva, Igor Afanas'ev và Ludmila Korkina, trình bày
thuốc Bio-Normalizer, một phần chiết đu đủ lên men 8-10 tháng
trước khi đem loại nước, có khả năng cải tiến cương vị oxi hóa
trong bệnh thiếu máu vùng biển và giảm hạ những hiệu ứng phụ
trong cuộc trị liệu chống ung thư ở bệnh bạch cầu. Bắt đầu từ
đây, giáo sư Montagnier quyết định thử thuốc ấy trên các bệnh
nhân aids. Nơi thử nghiệm là Trung tâm Khảo cứu Lâm sàng Sinh
vật học ở Abidjan bên nước Côte d'Ivoire. Năm 1999, kết quả sau
6 tháng là nếu thuốc dùng một mình chẳng có hiệu quả thì, trong
trường hợp dùng chung với một bộ ba thuốc khác (trithérapy),
bệnh nhân lên cân, huyết cầu tố, hồng huyết cầu, bạch huyết cầu
cũng tăng cường trong lúc độc trùng phát triển chậm lại. Giáo sư
vội kết luận, có lẽ hơi gấp, thuốc đã có các tính chất chống oxi
hóa và kích thích miễn dịch. Ngang điểm nầy, giới chuyên khảo
không đồng ý, cho những vitamin như ascorbic acid, những
carotenoid như lycopen, những khoáng vật như selenium cùng những
chất phenol có mặt trong đu đủ đều có tính chất chống oxi hóa,
đằng kia cuộc khảo cứu về miễn dịch do bác sĩ Marc Welksler thực
hiện ở Viện Đại học Cornell bên Mỹ cũng chỉ đem lại những kết
quả mâu thuẫn. Còn cuộc thực nghiệm trên các bệnh nhân aids ngày
nào chưa có kết thúc rõ ràng trên báo chí chuyên khoa thì chưa
có thể đánh giá môn thuốc. Theo một nhân viên ở Viện Quốc gia
Khảo cứu Nông học Pháp, công tác của giáo sư Montagnier dù sao
đã đặt vấn đề buộc chúng ta thực hiện những cuộc nghiên cứu
khác... (6)
Một cây
đu đủ có trái thơm ngọt, có tính chất điều trị hay ho như vậy
lại mọc rất nhiều ở nước ta, ắt cần phải được biết nhiều hơn.
Còn được gọi thù đủ ở Huế, phiên mộc, cà lào, phiên qua, phan
qua thụ, lô hong phlê (Campuchia), mắc hung (Lào), má hống (Thái)
(1,4) , nó mang tên khoa học Carica papaya L., thuộc họ Đu đủ
Papayaceae. Những nước sản xuất nhiều nhất là Ấn Độ, Tích Lan,
Mã Lai, Nam Mỹ, Nam Phi. Trái đu đủ thơm nhờ những chất dễ bốc
hơi. Một công tác sử dụng máy sắc ký khí phối hợp với máy khối
ký (HRGM-MS) xác định đến 134 chất 30. Nhiều nhất trong số nầy
là những ester mà nổi trội là methyl butanoat đem lại mùi ngọt,
crotonat, hexanoat (36) bên cạnh benzyl glucosinolat (26). Trong
199 chất dễ bốc hơi trái đu đủ núi C. candamarcensis, 103 có cấu
tạo ester, nhiều nhất là methyl octenoat, butyl và hexyl
butenoat, butyl furoat, butyl nicotinoat bên cạnh ethyl
mercaptopropanoat( 29). Còn ester nhiều nhất trong trái đu đủ
núi C. pubescens là ethyl, methyl butyrat, butyl, ethyl acetat
(34). Cũng trong số các chất dễ bốc hơi, đứng hàng đầu 56 acid
là butanoic acid (1,2mg/kg) (31), tiếp đến là những citric,
fumaric, tartaric, succinic acid cùng các amin acid : leucin,
asparagin, phenylalanin (27). Những linalool, linalool oxid
(36), epoxi linalool, dimethyl octadien diol (33) cũng đã được
tìm ra. Trái đu đủ ngọt nhờ những chất đường sucrose, glucose,
fructose (27). Ở trái xanh thì có nhiều D-galactose, L-arabinose,
D-galacturonic acid (16). Khi chín nó nhuốm nhiều màu, đấy là
nhờ những chất sắc carotenoid như cryptoxanthin, violaxanthin,
b-caroten (12), đặc biệt lycopen trong loại đu đủ lòng đỏ 38.
Nhiều nguyên tố cũng đã được phát hiện, loại lớn : Na, K, Ca,
Mg, P, loại nhỏ : Fe, Cu, Zn, Mn, B (46).
Trong
hột, sucrose chiếm 75% tổng số đường (32), phát triển giữa 30 và
90 ngày từ 3833 đến 7213 mg/g (23). Ascorbic acid phát triển gấp
đôi khi trái chín và đạt mức tối cao 91,67 mg/100g, còn pectin
thì lớn lên gấp 300 lần vào giai đoạn 105-120 ngày và cân nặng
1118,0 mg/100g (23). Trong hột còn được tìm ra hentriacontan, b-sitosterol,
benzoylthiourea (25). Tính chất chống oxi hóa thể hiện rõ ràng
qua 24,833 mg/g những chất phenol vào lúc 120 ngày (23). Benzyl
isothiocyanat phân hủy từ glucotropeolin có tính chất kháng sinh,
trừ nấm, diệt khuẩn, được dùng để trị nhiễu khuẩn ruột và niệu
(19). Hột cũng như cơm trái có tính chất kìm khuẩn chống những
trùng gây bệnh ở ruột như Bacillus subtilis, Enterobacter
cloacae, Escherichia coli, Samonella typhi, Staphylococcus
aureus, Proteus vulgaris, Pseudomonas aeruginosa, Klebsiella
pneumoniae (37). Có phương pháp ép dầu từ hột với nồng độ
phenol cao để dùng tính chất chống oxi hóa xúc tiến sự duỗi mạch
(49). Dầu hột còn chứa chất sắc caroten, chất độc glucosinolat
(32), những glycerid gồm có (%) : oleic (79,94), palmitic
(11,94), stearic (5,49), linoleic (2,22), arachic acid (0,32)
cống hiến mùi cải xoong 7,8. Thật ra, những acid mỡ : myristic,
palmitic stearic, oleic, linolenic acid đã được tìm ra trong tất
cả các bộ phận của cây, nhưng lauric acid chỉ có ít trong lá,
hoa và trái còn những myristoleic, palmitoleic, arachidic acid
thì chỉ được xác định ở hoa và trái mà thôi (24).
Trong
những alcaloid phát hiện trong cây đu đủ, chất được xác định là
carpain, chiết xuất từ lá dưới dạng kết tinh trong suốt (24).
Thuyết phát sinh sinh học nó đã được học hỏi (13). Carpain tác
dụng như digitalin là một thuốc mạnh tim 1, có tính chất kháng
vi sinh vật, hiệu nghiệm có mức độ lên Bacillus mycoides nhưng
rất mảnh liệt chống B. cereus (24). Nó cũng có tính chất kháng
khối u, rất hiệu nghiệm chống các khối u tế bào cổ trướng
Ehrlich, lymphoid leukemia L1210, lymphocytic leukemia P388
(18). Hầu hết các bộ phận cây cho chứa đựng một chất nhựa mủ,
nhiều nhất là ở trái : ngay dưới vỏ, nhiều bọng nhỏ cho phát
tiết một chất lỏng trong suốt nhưng rất mau sẩm màu. Trong dân
gian, nhựa mủ thường được dùng làm thuốc trừ giun, chữa trai
chân và hột cơm, bệnh sang thấp hoặc can tiễn (1). Nhiều bộ phận
trong cây có tác dụng lên trùng Ascardia gelli (22). Nhựa mủ
cũng được dùng trong kỹ dệt dể tránh sợi co, trong kỹ nghệ ăn
uống để tránh oxi hóa bia, làm mềm thịt, làm kẹo cao su, trong
kỹ nghệ thuộc da (9). Vì vậy, từ cuối thế kỷ (19), nhiều phòng
thí nghiệm đã khảo cứu cấu tạo của nó. Thành phần được xác định
trước tiên là một enzym phân giải protein mà nhà hóa học người
Pháp Adolphe Wurtz năm 1880 đặt tên là papain. Ngày nay, nhờ
phương pháp tối tân như lọc qua cột sắc ký Sephadex rồi phân
tách theo hiện tượng điện chuyển, người ta đã chiết suất và phân
biệt được những enzym (%) : chymopapain (32), proteinase (15),
papain (6), lysozym (5) (21). Chymopapain 28 được xác định năm
1941, cùng với papain là hai enzym mang chức sulfhydryl và được
học hỏi nhiều về mặt phân hủy protein (10).
Papain
gồm có nhiều amin acid, theo thứ tự nhiều ít (từ 11,35-12,43
xuống 2,14-3,57 g/100g) : tyrosin, glutamic acid, aspartic acid,
glycin, valin, arginin, leucin, isoleucin, lysin, serin, alanin,
prolin, tryptophan, threonin, phenylalanin, cystin, histidin.
Trọng lượng phân tử tính từ các amin acid là 20,289 rất phù hợp
với số lượng đo là 20,700 và số ước tính từ thủy ngân trong
mercurypapain là một dẫn xuất còn được thích dùng hơn (9). Cùng
với lysozym, papain tác dụng lên màng tế bào và tạo điều kiện dễ
dàng cho tác dụng những chất kháng sinh như bacitracin,
steptomycin (20). Hiệu quả lâu dài của papain trong công cuộc
trị chứng thoát vị đĩa đột sống thắt lưng được xem như tương
đương với giải phẩu (50). Papain một mình hay hỗn hợp với những
enzym phân giải protein khác cũng được dùng để chữa trị viêm vú
(39), những viêm tụy mạn tính, viêm ruột mạn tính, ung thư tế
bào biểu mô (42). Papain có tác dụng đồng vận với những muối Mg
và Al của aspirin để chống viêm và hạ sốt (11). Papain phân hủy
sửa bò hay sửa dê thành một thuốc khử độc trùng, rất hiệu nghiệm
chống mụn rộp (35). Một hỗn hợp papain và muxin dạ dày (10/90)
được dùng có kết quả để giảm hạ mỡ và cholesterol (15). Papain
là thành phần thuốc đánh răng (44), nhắm phân hủy protein thức
ăn (17), chống mảng răng, cao răng (41), thành phần thuốc chữa
ho (14), chữa chứng Peyronie (48), thuốc xức chữa bệnh lý học
xơ như sẹo lồi, sẹo phì đại, hay bệnh gây gấp ngón tay (43), hay
thành phần mỹ phẩm bảo vệ da (43), rửa sạch âm đạo, cổ tử cung
(45).
Nói
chung, tất cả các bộ phận của cây đu đủ đều được dùng làm thuốc.
Trái đu đủ chín ăn ngon ngọt mà nhờ nhựa mủ phân hủy protein còn
giúp tiêu hóa các chất thịt, lòng trắng trứng gà. Trái đu đủ
xanh được thêm vào nồi để nấu, hầm thịt dai (1). Thịt bò khô
cũng thường được ăn với trái đu đủ nửa xanh, nửa chín, bào mỏng,
giấm ngọt và tương ớt, cống hiến một món nhắm vừa cứng, vừa mềm,
vừa chua, vừa cay (2) . Giấm ngọt là giấm pha đường. Gần đây bên
Tàu có phát minh một loại giấm thuốc gồm có đu đủ, xuyên khung,
ô đầu, đan sâm,... cùng với ngũ cốc lên men (mì, kê, cám, lúa
miến,...) để chữa những dạng thấp khớp (40). Lá đu đủ dùng gói
thịt gà cứng để nấu mau dừ. Nước lá sắc dùng để rửa các vết
thương, lở loét. Rễ đu đủ sắc uống làm thuốc cầm máu trong bệnh
băng huyết, bệnh sỏi thận. Hoa đu đủ đực tươi hoặc phơi khô hấp
với đường phèn dùng chữa bệnh ho, viêm ống phổi, mất tiếng (1).
Hiếm có
nhưng cũng thấy là mức đu đủ. Cô Hoàng Thị Kim Cúc chỉ cách làm
: “Đu đủ hườm (gần chín), gọt vỏ bỏ ruột, cắt miếng độ 1cm, dài
ngắn tùy ý, rửa cho hết mủ. Nấu nửa soong nước sôi, bỏ đu đủ vào
luộc 5 phút, vớt ra để ráo nước. Đường sên (với trứng gà) sạch,
bỏ đu đủ vào rim, thêm va ni (mua ở tiệm thuốc tây) cho thơm, để
lửa riu riu, nước đường gần lền, nhắc xuống, ngâm đu đủ trong
nước đường một đêm rồi đem ra rim lại, đường lền là được, để
nguội sẽ bỏ vào thẩu. Miếng đu đủ trong và hồng là khéo” (3).
Trái đu đủ xanh cũng giản tiện được cắt nhỏ làm gỏi ăn lạ miệng.
Cách đây mấy năm, sau khi cuốn phim Mùi đu đủ xanh của nhà đạo
diễn Trần Anh Hùng ra mắt công chúng ở Pháp, đột nhiên món gỏi
đu đủ bán rất chạy trong các quán cơm. Là một thức ăn liều thuốc,
đu đủ thật là một cây trọn vẹn. Hơn nữa, trong Nam, hầu hết trên
bàn thờ vào dịp Tết đều có hộp trái cây gồm có mảng cầu, đu đủ,
dừa, xoài, tượng trưng cho câu khấn : cầu đủ vừa xài (theo giọng
Nam). Văn hóa như vậy thật là toàn bộ !
Xô thành trước thềm Xuân Ất Dậu
Tài
liệu
Đại
cương
1-Đỗ
Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, nxb Khoa
học và Kỹ thuật, Hà Nội (1986) 372-53
2-Bùi
Kim Tùng, Món ăn bài thuốc, Sở Khoa học, Công nghệ và Môi
trường tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu (1995) I, 105-6
3-
Hoàng Thị Kim Cúc, Nghệ thuật nấu ăn món Huế (năm Quý Mùi)
nxb Đà Nẵng in lại (1996) 14
4- Lê
Trần Đức, Cây thuốc Việt Nam, nxb Nông Nghiệp, Hà Nội
(1997) 654-6
5- Luc
Montagnier, L'extrait de papaye fermentée, Nutranews
tháng 5; Entretiens, Nutranews tháng 6; L'extrait de la papaye
fermentée à la une des médias, Nutranews tháng 9 (2002)
6-
Thierry Souccar, Le professeur, le pape et la papaye,Sciences
et Avenir, tháng 11(2002)64-5
Khảo cứu
7-
H.W.Von Loesecke, A.J.Nolte, Characteristics and composition
of papaya seed oil, J.Amer.Chem.Soc. 59 (1937) 2565-7
8-
C.F.Asenjo, J.A.Goyco, Puerto Rican fatty oil. V.
Characteristics and composition of expressed papaya (Carica
papaya L.) seed oil, Oil Soap 20 (1943) 217-8
9-
J.R.Kimmel, E.L.Smith, The properties of papain,
Adv.Enzymol. 19(1957) 267-334
10-
M.Ebata, K.T.Yasunobu, Chymopapain, J.Biol.Chem. 237(4)
(1962) 1086-94
11-
INICO, Antiinflammatory and antipyretic compositions, FR
2833 19641102 (1964) 12tr
12-
H.Y.Yamamoto, Comparison of the carotenoids in yellow-
andred-fleshed Carica papaya, Nature March 7 (1964) 1049-50
13-
C.W.L.Bevan, A.U.Ogan, West African medicinal plants. I.
Biogenesis of carpaine of Carica papaya, Phytochem. 3(5)
(1964) 591-4
14-
INICO, Cough pills, Brit. GB 1060304 19670301 (1967) 3tr
15-
Lab.ind.Biol.,Biofac, Medication for hyperlipemy and
hypercholesterlomy, FR 5643 19680129 (1968) 2tr
16-
A.B.Biswas, A.K.Mukherjee, C.V.N.Rao, Pectic acid from the
pulp of unripe papaya (Carica papaya) fruit, Ind.J.Chem.
7(6) (1969) 588-91
17-
IPTOR Phar.Praep.A-G, Dentifrice containing proteolytic
enzymes, Fr Demande FR 1589357 19700508 (1970) 2tr
18-
L.Oliveros-Belardo, V.A.Masilungan,, V.Cardeno, L.Luna, F.De
Vera, E. De la Cruz, E.Valmonte, Possible antitumor
constituent of Carica papaya, Asian J.Phar. 2(2) (1972) 26-9
19-
O.El-Tayeb, M.Kucera, V.O.Marquis, H.Kucevora, Nigerian
medicinal plants. III. Carica papaya seeds as a source of a
reliable antibiotic, the BITC, Planta Med. 26(1) (1974)
78-89
20-
J.Brisou, P.Babin, R.Babin, Potentialization of antibiotics
by lytic enzymes, Comp.Rend. Soc.Biol.Fil. 163(3) (1975)
660-4
21-LEK
Tov.Farm., Pure preteolytic enzymes from the latex of Carica
papaya, useful in medecine, Fr Demande FR 2301267 19760917
(1976) 8pp
22-
J.Lal, S.Chandra, V.Raviprakash, M.Sabir, In vitro
anthelmintic action of some indigenous medicinal plants on
Ascardia galli worms, Ind.J.Physiol.Pharmacol. 20(2) (1976)
64-8
23-
R.Chittiraichelvan, K.G.Shanmugavelu, Studies on the
physico-chemical changes, during growth and development of Co.2
papaya seeds (Carica papaya L.), Seed Res. 5(1) (1977) 32-6;
Physiol.Sex.Reprod.Flowering Plants, Int.Symp., 1st (1978) 262-5
24-
F.M.Hashem, M.Y.Haggag, A.M.S.Galal, A photochemical study of
Carica papaya L. growing in Egypt, Egyp.J.Pharm.Sci. 21(3-4)
(1980) 199-214; 22(1-4) (1981) 23-27
25-
J.Lal, S.Chandra, M.Sabir, Phytochemical investigation of
Carica papaya seeds, Ind.Drugs 19(10) (1982) 406-7
26-
A.J.MacLeod, N.M.Pieris, Volatile components of papaya
(Carica papaya L.) with particular reference to glucosinolate
products, J.Agric.Food Chem. 31(5) (1983) 1005-8
27-
N.L.Vyas, Change in carbohydrate, free amino and organic acid
contents of papaya fruits, by Trichothecium roseum,
Ind.J.Mycol.Plant Pathol. 14(3) (1984) 287-8
28-
K.Brocklehurst, E.Salih, R.McKee, H.Smith, Fresh non-fruit
latex of Carica papaya contains papain, multiple forms of
chymopapain A and papaya proteinase W, Biochem.J. 228(2)
(1985) 525-7
29-
H.Idstein, T.Keller, P.Schreier, Volatile constituents of
mountain papaya (Carica candamarcensis, syn. C. pubescens Lenne
et Koch) fruit, J.Agric.Food Chem. 33(4) (1985) 663-6
30-
H.Idstein, P.Schreier, Volatile constituents from papaya
fruit (Carica papaya L., var.Solo), Lebens.Wissen.Techn.
18(3) (1985) 164-9
31-
H.Idstein, C.Bauer, P.Schreier, Volatile acids from tropical
fruits : cherimoya (Annona cherimolia Mill.), guava (Psidum
guajava L.), mango (Mangifera indica L., var.Alphonso), papaya
(Carica papaya L.), Zeits.Lebens.Unter.Fors. 180(5) (1985)
394-7
32-
E.K.Marfo, O.L.Oke, O.A.Afolabi, Chemical composition of
papaya (Carica papaya) seeds, Food Chem. 22(4) (1986) 259-66
33-
P.Winterhalter, D.Katzenberger, P.Schreier, 6,7-Epoxy-linalool
and related oxygenated terpenoids from Carica papaya fruit,
Phytochem. 25(6) (1986) 1347-50
34-
A.L.Morales, C.Duque, Aroma constituents of the fruit of the
mountain papaya (Carica pubescens) from Columbia,
J.Agric.Food Chem. 35(4) (1987) 538-40
35-
G.Tena Quintero, Virucidal enzymic milk hydrolyzates,
Span. ES 2009146 A6 19890901 (1989) 6pp
36-
M.R.B.Franco, D.Rodriguez-Amaya, M.H.Damasio, Volatile
components and flavor of papaya (Carica papaya L.),
Dev.Food.Sci. 32 (1993) 371-9
37-
J.A.Osato, L.A.Santiago, G.M.Remo, M.S.Cuadra, A.Mori,
Antimicrobial and antixidant activities of unripe papaya,
Life Sci. 53(7) (1993) 1383-9
38-
A.B.Barua, J.A.Olson, Reversed-phase grandient
high-performance liquid chromatographic procedure for
simultaneous analysis of very polar to nonpolar retinoids,
carotenoids and tocopherols in animal and plant samples,
J.Chrom.,B; Biomed.Sci.Appl. 707(1-2) (1998) 69-79
39-
A.M.Mangerona, A.C.S.Mangerona, Proteolytic enzyme
prreparation for treatment of infectious and inflammatory
diseases of warm-blooded animals, Brazyl BR 9603224 A
19990601, (1999) 21tr
40-
Y.Chen, Preparation of medicinal vinegar for curing
rheumatism and rheumatoid, Faming Zhuanli Shenqing Gongkai
Shuomingshu CN 1223130 A 19990721 (1999) 5tr
41-
M.Alvarez Hernandez, Whitening, antiplaque and antitartar low
abrasivity tooth paste, PCT Int.Appl. WO 9925315 A1 19990527
(1999) 25tr
42-
V.A.Bykov, N.B.Demina, N.N.Kataeva, V.A.Kemenova, V.L.Bagirova,
Enzyme preparations used for the treatment of digestion
insufficiency, Phar.Chem.J. 34(3)(2000)105-9
43-
S.C.A.Ribeiro, Pharmaceutical composition containing papaine
for the treatment of skin diseases, Span. PCT Int.Appl. WO
0182956 A1 20011108 (2001) 22pp
44-
A.Bascones Martinez, P.Manso, J.Francisco, Toopaste for
dental hygiene, ES 2158773 A1 20010901 (2001) 5pp
45-
V.D.Borovskaya, Yu.A.Baranov, Method for treating latent
forms of genital chlamydiosis, Russ. RU 2177302 C2 20011227
(2001) Không có số trang
46-
A.Hardisson, C.Rubio, A.Baez, M.Martin, R.Alvarez, Mineral
composition of the papaya (Carica papaya variety sunrise) from
Tenerife Island, Eur.Food Res.Techn. 212(2) (2001) 175-81
47-
D.Peyronel, N.Domloge, C.Dal Farra, Cosmetic or dermo-pharmaceutical
preparations containing a mixture of enzymes, olive leaf
extract, lemon juice, and hydrogenated sugars, Fr Demande FR
2815852 A1 20020503 (2002) 17tr
48-
S.C.A.Ribeiro, Papain-containing pharmaceutical formulation
for treatment of Peyronie disease, Brazyl PCT Int.Appl. WO
0280962 A1 20021017 (2002) 24tr
49-
M.Abeywardena, I.Runnie, M.Nizar, R.Head, Polyphenol-enriched
extract of oil palm fronds (Elaeis guineensis) promotes vascular
relaxation via endothelium-dependent mechanims, Asia
Pac.J.Clin.Nutr. 11(7) (2002) 467-72
50-
F.Aribit, J.L.Charissoux, J.P.Arnaud, Long-term 10-year
outcome after chemonucleolysis for lumbar disc herniation,
Rev.Chir.Orthop.Rep.App.Mot. 88(3) (2002) 221-8
trích
Nghiên cứu và Phát triển 3(46) 2004
Ý Kiến, Phê bình xin gửi
về:
voquangyen@khoahoc.net
Trở về Trang Chính
|