|
Sau năm ngày ngợp mắt vì
cái đồ sộ, to lớn, vĩ đại, hào nhoáng, trăm vẻ, ồn ào, ... (còn
chữ nào nữa không nhỉ?), có hết những thứ đã thấy trong phim ảnh
của thành phố New York, bốn người chúng tôi, những người Viking
Na Uy nhỏ bé hiền hòa (xin nhấn mạnh: không phải bốn chúng tôi
nhỏ bé hiền hòa mà là nước Na Uy của chúng tôi nho nhỏ nhu mì:
Norway được cái hân hạnh là nơi tổ chức trao giải thưởng Nobel
Hoà Bình mỗi năm vì trong lịch sử thế giới, Norway chưa bao giờ
gây lộn, đánh lộn với bất cứ một quốc gia nào), chúng tôi đáp
máy bay đến Phoenix, Arizona để chuyển máy bay đến Tucson. Ngay
từ trong khuôn viên phi trường, những hình ảnh hơi là lạ đã bắt
đầu gây ấn tượng nơi chúng tôi: Những hàng hóa bày bán đều mang
hình ảnh đủ loại cây xương rồng xấu xí, con kỳ nhông, kỳ đà
thiệt là bình thường và nhất là dáng vẻ tự nhiên của mọi người
với cái nón "cao bồi" trên đầu. Lúc đầu tôi tưởng vài người nào
đó làm dáng (Tôi cười thầm: Hừm...nón cao bồi có gì mà làm dáng
!!!) Dần dần, năm, mười phút sau tôi mới hiểu là cái sự đội nón
cao bồi trên đầu ngay cả trong phi trường có máy lạnh là một
chuyện tự nhiên hết sức tự nhiên của người dân Arizona, xứ nắng
khô đồng cháy đã mời chúng tôi đến thử làm cao bồi ở một cái
"ranch" trong một tuần lễ. Tôi quan sát các kiểu nón và gật đầu
công nhận là cũng có vài kiểu nón phù hợp với cái tính hay làm
điệu làm dáng bề ngoài của tôi. Tôi thầm chấm một kiểu: Kiểu
nón vẫn mang dáng vẻ cao bồi nhưng được đan bằng những cọng lát
mỏng trắng ngà, cánh nón rộng, mịn màn, vừa ngầu vừa mỹ miều.
Sẽ mua kiểu này!
Lạ lùng! Cái xứ gì mà 150
km đường xa lộ, từ phi trường Tucson đến Grapevine Canyon Ranch
không một tàn cây bóng mát, chỉ toàn là le hoe năm ba cây xương
rồng to tướng khô khan. Cứ theo bản đồ, lần đầu tiên lái xe ở
Mỹ, thế mà chúng tôi đến nơi trúng phóc, không cần de xe, quay
lui một lần nào (Là do người đọc bản đồ giỏi, tôi đó! Và người
lái xe nghe lời tôi, biết thân, không bàn lui bàn ngược như
thường ngày, lở tôi bàn không lại rồi tôi dở chứng ngậm miệng,
giả bộ ngủ, thì chỉ có nước vừa đọc bản đồ vừa lái xe.) Đường
xá thẳng tắp, thẳng góc, phẳng trơn, phân minh, rõ ràng như một
bàn cờ tướng, dễ chạy xe nên cũng dễ chán. Và cái nắng, cái
nóng của Arizona cũng lạ nữa. Cùng một độ nóng vào tháng này ở
nhưng nóng ở đây là nóng khô, nóng cháy da chứ không nóng âm ẩm
làm cho mình có cảm tưởng người luôn luôn ươn ướt ri rỉ mồ hôi
như ở Việt Nam thương yêu của mình.
Chúng tôi bốn người đều mê
phim cao bồi, theo phe mọi da đỏ, bực cái chuyện người da trắng
ăn hiếm, ăn gian, lợi dụng... những giống dân da đỏ cách đây
500, 400 năm nên đã chọn một tuần lễ được sống như những chàng
cao bồi ở quê hương của Apache, một ranch cách xa đường tráng
nhựa 20 phút xe hơi, chung quanh chỉ toàn là rừng xương rồng
thưa thớt đủ mọi hình dạng, thỉnh thoảng mới có vài bóng mát
rộng lớn của những cây oak lảo làng hay một vài cây đầy gai
nhọn, những cây gai dài 6, 7 cm. Cả khu vực ranch được bao bọc
bởi những đồi, những núi nhìn từ xa tưởng chừng như những cái
đầu trọc với vô số mụt nhọt. Cảm giác hảnh diện vì bổng nhiên
mình được thấy tận mắt, được hít thở không khí nắng khô của
những phim cao bồi, được lang thang trên vùng đất chính một
trong những nơi trú ẩn của bộ lạc Apache. Hạnh phúc!
Tôi tự chọn mình vào nhóm
đi ngựa dở nhất vì tôi chỉ là một kỵ sĩ thiệt là tơ lơ mơ lóng
ca lóng cóng, còn ba người kia thì phi như gió. Người bạn hiền
chung thủy của tôi, không bỏ bạn lúc bạn chưa ngã ngựa nên mặc
dù đi ngựa giỏi nhưng cũng ghi tên vô nhóm đi dở cho tôi có bạn
và chắc cũng để thông dịch cho tôi khi cần vì cái khả năng tiếng
Mỹ hạn hẹp của tôi, lở tôi hiểu lầm, tôi đi đường tôi, một
Apache nào đó dụ dổ... (nhưng không "dám" nói ra, sợ tôi tự ái,
tôi không thèm nói chuyện vài tiếng đồng hồ thì phiền lắm!). Na
Uy có giòng họ với hoàng tộc Anh (vua Harald là người thứ tám
trong danh sách sẽ thừa hưởng ngôi vua sau nữ hoàng Elisabeth)
nên tiếng Anh người Viking chúng tôi nói thuộc loại tiếng Anh
Offord Street. Hơn nữa âm hưởng trong giọng người Việt nói
tiếng Anh cũng không bay bướm mấy nên tôi đâu dám hỏi tới hỏi
lui, cái gì cũng gật đầu cho xong chuyện (Kinh nghiệm cho thấy
cứ mỗi lần tôi mở miệng ra nói được một câu là bị hỏi: Where are
you from! Quê lắm!). Ấy cho nên tôi không cảm thấy an toàn lắm
trong nhóm này, thầm cám ơn bạn hiền biết điều. Và đương nhiên
cách thế cưỡi ngựa của chúng tôi cũng thuộc cách thức cổ điển
của nước Anh. Từ quần áo, giày nón, yên ngựa, tư thế ngồi, cho
đến cách cầm dây cương... nhất nhất đều cứng nhắc, gò bó so với
cái giản dị phóng khoáng từ quần áo, giày nón (có gì dùng đó)
đến phong thế cưỡi ngựa Western, yên ngựa Western và khung trời
nắng khô đồng trống toàn sỏi đá Western, sống hòa mình với những
tâm hồn lãng tử của những anh chàng cao bồi Western ngày xưa.
Hãy tưởng tượng đi, ngày xưa tù trưởng Cochise, Geronimo...
tướng George Crook, Nilson A. Miles, John Butterfiel... đã từng
hít thở không khí này, đã từng dong dã chân ngựa trên khoảng đất
này, đã từng dừng chân đốt lửa trại qua đêm bên con suối này...
làm sao chúng tôi không cảm thấy mình may mắn? Những Vikings từ
miền Bắc Âu hoang sơ. Diễm phúc!
Hai ngày đầu, mỗi sáng,
mỗi nhóm đi theo tuyến đường của mình, tùy sở thích và tùy khả
năng chịu đựng. Mỗi ngày một tuyến đường, một cảnh vật nhưng
khí hậu thì vẫn gây gắt như nhau. Trong khoảng ba hay bốn tiếng
đồng hồ người trưởng nhóm hướng dẫn cả nhóm băng rừng leo núi,
lúc thông thả, lúc bặm môi tưởng như bị hất khỏi lưng ngựa, hết
hồn hết vía, lúc cắn môi vì thương cho đôi chân ngựa mảnh khảnh
ráng gượng đi từ bước xuống dốc đá lởm chởm. Người dẫn đường
giải thích từng cảnh vật trên lộ trình: Mưu cách của những con
chim diều hâu lượn bắt mồi, đời sống những cây xương rồng khổng
lồ, lịch sử con đường mòn... và tôi cảm thấy tôi thông thái ra
chút xíu sau một ngày trên lưng ngựa (Sự thông thái này có còn
lưu lại trong đầu tôi lâu hay không là một chuyện khác.) Thật
đấy!
Buổi chiều sau cơm chiều
là chuyến đi chừng hai giờ. Cũng băng rừng leo núi nhưng lộ
trình hiền lành hơn, chắc vì bụng ai cũng no căng, chủ ranch sợ
mệt ngựa(?) Đây là khoảng thời gian thoải mái nhất. Nắng dịu
dần, đường núi cũng không mấy chông gai, thấy được nhiều thú
rừng ra tìm thức ăn. Những con nai xinh xắn dừng chân ngoái cổ
nhìn những con thú lạ lùng hai đầu sáu chân làm những con thỏ
cụt đuôi chạy nhanh vô bụi cây... Và nhất là ngắm được cảnh mặt
trời lặn, cảnh cuối trời ửng đỏ, lặn nhanh, không ngày nào giống
ngày nào làm cho lòng người viễn du lâng lâng cảm nhận cái hạnh
phúc muôn màu muôn vẻ, lúc gần lúc xa, chỉ cần dừng chân ngựa
năm ba phút, vói tay là tới, quay lưng là mất. Lúc này thì ai
muốn cho ngựa mình phi lóc thóc thì cứ thử thời vận. Nhưng
giống ngựa là giống sống theo đàn, ngồi lưng ngựa nhắm mắt, ngựa
cũng theo đàn anh đi trước. Đàn anh chạy, đàn anh phi, thì mấy
đàn em cũng chạy cũng phi. Nếu lở người trên lưng ngựa (như tôi
chẳng hạn!) hăng máu cao bồi, thúc cho ngựa chạy qua mặt ngựa
người đi trước là cả một sự khiêu khích cả người lẫn ngựa, bị
ngựa ta co giò, tai vểnh tai cụp tỏ ý bất mãn và bị người dủa
thầm: "Bất lịch sự!"
Qua ngày thứ ba là tôi
chọn tuyến đường hiểm trở chông gai 8 tiếng đồng hồ vừa đi vừa
về, cả mấy người giỏi cũng đi chung (Tôi hảnh diện lắm!).
Chuẩn bị thức ăn trưa, hai bi-đong nước đã được để vô tủ đá từ
tối hôm qua, lòng tôi hơi lo lo vì được biết là tôi phải đổi
ngựa để chịu đựng dẻo dai hơn. Như thế là tôi phải bỏ thì giờ
dổ ngon dổ ngọt con ngựa mới này, vuốt ve, nói chuyện với nó,
làm thân với nó... và nhất là phải học những thói hư tật xấu của
nó để dễ khiển nó đi theo ý tôi. Chúng tôi sẽ lên Stronghold,
nơi ngày xưa giống người da đỏ Apache làm căn cứ để chống lại
quân đội da trắng vì địa thế hiểm trở, địa thế du kích. Xe chở
cả người và ngựa đến chân núi. Từ đó chúng tôi sẽ lên
Stronghold. Gọi là đi lên nhưng đường lúc lên lúc xuống ,
ngoằng nghèo, có những lúc tưởng ngựa chịu hết nổi cái thân
không mấy nhẹ nhàng lắm của chúng tôi mà quỵ xuống. Nhiều khúc
đường toàn là đá cục tròn nằm lỏng lẻo, chỉ cần ngựa trật chân
một cái là lọt hố. Nhiều lúc ngựa ta lóc thóc chạy lách lỏi
dưới những tàn cây thấp đầy gai nhọn, không màng gì tới người
ngồi trên lưng mình, kỵ sĩ phải lanh lẹ cúi đầu nằm sát lưng
ngựa, nghiêng lách người, nếu không là tróc nón, gai móc rách
áo, xướt tay... Lúc thúc, lúc kèm vì con Mooni của tôi hay nổi
hứng bất tử lắm (Đúng ra là tại tôi không biết khiển nó!) và
cũng mơ mộng như chủ nữa. Đang đi, thấy bụi cỏ xanh là ngừng
lại nhâm nhi, mặc cho tôi dựt dây, thúc bụng, đôi lúc tức quá,
tôi phải quất cho một cái đau điếng, Mooni ta mới chịu tiếp
tục. Có khi tự nhiên Mooni rẻ ra hướng khác, và trên lưng ngựa,
tôi đang mơ mơ màng màng nghĩ đến một nhân vật trong cuốn tiểu
thuyết nào đó, không để ý " ngựa nản chân bon"... Đến chừng
người sau kêu, nhắc chừng, tôi mới bừng tỉnh, kéo, thúc cho
Mooni đưa tôi về lối cũ. Ông trưởng đoàn bao giờ cũng sắp xếp
một vài người đi phía sau tôi. Ma lanh!
Lộ trình quả thật chông
gai nhưng bù lại được ngắm nhìn phong cảnh hùng vỉ , bên kia núi
xa xa là New Mexico và nhất là đến được nơi ngày xưa bộ tộc
Apache ẩn trú kiên trì chống lại đội quân U.S. Ngồi nghỉ ăn
trưa, dở gói bánh mì tôi tự làm hồi sáng với thật nhiều thịt và
phô mai (Nghệ thật ăn giữ eo: ít bột, nhiều protein), một dòng
kem vàng vàng chảy ròng rả từ miếng sandwich duy nhất của tôi,
phô mai đó, làm sao chịu nổi cái nóng 40 độ C này trong bốn
tiếng đồng hồ. Đoản vị! Phải nhắm mắt mà nhai mà nuốt (Ước chi
có tô mì gói con tôm nhỉ! Không cần thêm hành, tôm thịt, rau gì
hết!). Đã vậy, ông trưởng đoàn không tâm lý chút nào hết. Hồi
sáng chúng tôi được xe chở đến tận chân núi, bây giờ, sau giờ ăn
trưa, mệt mõi, thì lại phải lóc thóc cười ngựa về. Đường đi lên
ba tiếng đồng hồ, đường đi về năm tiếng đồng hồ, cả một sự tính
toán sai lầm!!! Dầu cho trên đường đi về chúng tôi được dừng
chân ngựa ngắm cảnh núi non hùng vỉ xa xa dưới bầu trời trong
thanh không một cợn mây, cũng không bù lại cái tính toán thiếu
sư phạm này đã làm chúng tôi rã rời tê mông khi nhẩy xuống khỏi
lưng ngựa, đi thẳng một mạch về cái hut của mình, ngã lăn ra
gường, làm một giấc tới khi kẻng cơm chiều gióng kêu leng keng.
Cái mệt mõi thỏa mãn!
Kinh nghiệm chuyến đi lên
Stronghold, hôm nay đi lên Fort Bowie, tôi chỉ chuẩn bị vài cái
trứng luột, trái cây và dỉ nhiên hai bi-đong nước đong lạnh, mặc
dù tôi biết rằng chỉ đến trưa trên đường về là nước trở nên âm
ấm nóng, uống đến lợm giọng, nhưng phải uống. Tuyến đường hôm
nay tương đối hiền lành, một phần của tuyến đường Butterfiel
Overland Mail. Sau cuộc chiến hơn hai mươi năm giữa U.S Army
và bộ lạc Chiricahua Apaches, Fort Bowie và Apache Pass trở
thành trọng điểm cai quản khu vực. Tất cả những chiếc wagons
của đoàn người di dân vào thế kỷ thứ mưới chín, từ St. Louis đến
Los Angeles và San Francisco đều phải qua Fort Bowie. Bây giờ
khung cảnh toàn trại chỉ còn vài bức tường đã bị đập vở nửa
chừng và trạm đón du khách mới được xây sau. Đứng trên ngọn
đồi ngày xưa là trạm canh, tôi mới hiểu tại sao quân đội dùng
điểm cứ này. Trên đỉnh đồi không cao mấy nhưng ta có thể phóng
tầm mắt quan sát, theo dõi được tất cả những gì đang diễn ra
trên những con đường mòn xa xa, trên những cánh đồng cỏ cây
thưa thớt, trên những đồi núi trọc thâm thấp lững lơ. Nếu đường
đi lên Stronghold hôm qua là để du khách được nhìn tận mắt, được
cảm tận lòng cái khó khăn hiểm trở cửa địa thế thì đường lên
Fort Bowie là ba giờ học trên lộ trình mang đầy di tích lịch
sử. Chừng mười lăm, hai mươi phút là có bia đá tường thuật lại
một vài sự kiện lịch sử, túp lều Apaches, nghĩa địa những
người tử vì... tìm đường sống còn. Và thác nước Apache Spring
rơi êm đềm xuống dòng suối lững lờ trôi trong cái mát dịu người
của cây cối chung quanh. Một nguồn vui bất ngờ của kẻ lãng tử
trên con đường ngập nắng khô cằn. Xuống ngựa, quì gối, cúi vóc
một ngụm nước suối trong mát, làm trôi đi lớp bụi "phong trần",
tôi mới hiểu cái giá trị cuộc chiến đấu mất còn của bộ lạc
Apache ngày xưa để bảo vệ nguồn nước. Apach Spring đã từng là
cứu tinh của Indians, của những đoàn lính viễn chinh , của những
đoàn xe ngựa đi tìm quê hương lập nghiệp nơi miền biển Tây màu
mở, nhiều hứa hẹn.
Bảy ngày dong duổi trên
lưng ngựa. Bảy ngày được sống trong lòng đất Apache, chúng tôi
đáp máy bay xuống miền biển Key West Florida, một làng quê nghe
nói vẫn còn giữ được nét thô sơ của làng chài ngày xưa. Rời bỏ
quê hương Apache với lòng lưu luyến người dân Arizona thành
thực, phóng khoáng từ ngôn ngữ đến cái cười. Sống trong lòng
người Mỹ chính thực, chúng tôi những người châu Âu thường tỏ ý
coi thường nền văn hóa không quá năm trăm năm, vẫn thường có
thành kiến về cái hào nhoáng bề ngoài của đất nước Mỹ, luôn
người Mỹ, chúng tôi đã học một bài học q uí giá trong đời:
Hãy sống hòa đồng và tìm hiểu tường tận trước khi đánh giá.
Tiếc là ruột tượng đã cạn, chương trình đã được ấn định, chúng
tôi đàng chia tay Arizona một buổi sáng còn mờ tối lên đường trở
lại phi trường Tucson với nổi lòng bùi ngùi.
Có một điều tôi tiếc hoài,
tiếc hoài. Tôi không sắm cho tôi được cái nón cao bồi đan bằng
dây lát trắng mảnh, vừa ngầu vừa mỹ miều mà tôi đã âm thầm chọn
khi ở phi trường Phoenix. Phải chọn mua cái nón cao bồi nỉ nâu,
tuy cũng đẹp và bảo vệ đầu tốt hơn, tôi vẫn còn ấm ức lắm. Muốn
có cái nón như tôi ao ước thì thợ phải đan theo đúng dạng đầu
của từng người, phải chờ cả tuần mới xong. Tôi vở mộng làm nữ
cao bồi điệu. Thôi vậy, chờ kiếp sau!
"When I was young I walked all over this country, east and
west, and saw no other oeople than the Apaches"
Cockise
Võ Thị Điềm Đạm
Hè 2005
Ý kiến, Phê bình
xin gửi về:
vothidiemdam@khoahoc.net
Trở về Trang Chính |