|
Tô Vũ Phỏng Vấn Nhà Văn Võ Thị Điềm Đạm
Tô Vũ: Chào nhà văn Điềm Đạm. Tô Vũ đã đọc bài Những Giẻ
Vụn viết về vấn đề thiếu niên phạm pháp ở Na Uy, xin nhà văn vui
lòng giới thiệu với Cộng Đồng Người Việt ở Paris tình trạng các
thanh thiếu niên gốc Việt Nam ở Na Uy.
Điềm Đạm: Nhìn chung, đa số nhịp sống cũng như nếp nghĩ của
thanh thiếu niên Việt Nam thuộc thế hệ thứ hai ở Na Uy đã dần
dần tìm được chỗ đứng khá vững trong xã hội. Đó là do thế hệ cha
mẹ đã nhanh chóng hòa nhập vào mạch sống với đất nước và xã hội
mới. Theo thống kê cũng như tin tức trên báo chí thì cộng đồng
người Việt ở Na Uy có tỉ lệ thất nghiệp thấp nhất và trình độ
học thức cao nhất trong số các nhóm ngoại kiều đến từ các nước
có địa lý nằm ngoài tây Âu. Thêm vào đó, chịu ảnh hưởng tinh
thần trọng chữ nghĩa của cha mẹ, con đường học vấn của đa số các
em khá trôi chảy và sinh viên Việt Nam chiếm tỉ lệ khá cao trong
sân trường đại học và cũng là nhóm sinh viên có nhiều triển
vọng.
Dầu rằng các em cảm thấy là khách du lịch khi các em viếng thăm
Việt Nam nhưng các em vẫn luôn luôn tự hiểu và tự cố gắng tìm
một căn cước cho chính mình. Một căn cước được nhồi nắn từ hai
nền văn hoá, một căn cước phải có khả năng đàn hồi theo từng
hoàn cảnh. Theo những bài tường trình trên báo chí cũng như
trong những buổi hội thảo cho thấy sự cân bằng trong quá trình
hòa nhập của thanh thiếu nên Việt Nam có nhiều dấu hiệu tốt đẹp.
Tô Vũ: Xin cho biết về những trẻ em Việt Nam phạm pháp ở
Na Uy.
Điềm Đạm: Có những em vì hoàn cảnh gia đình, vì vốn liếng
tiếng Na Uy quá yếu kém, không được sự giáo huấn đứng đắn; các
em không tự tạo được một căn cước thích hợp cho mình. Các em rơi
khỏi nhịp sống bình thường. Các em mất thăng bằng.
Theo nhà xã hội học Whym Uyen Lam, hiện trạng thanh thiếu niên
Việt Nam hàng ngày lang thang vĩa hè thủ đô Oslo và những thành
phố rất lớn hay sống ngoài vòng pháp luật, rất đáng lưu ý. Cô đã
làm việc với năm mươi lăm em và kể rằng: Các em ấy cảm thấy vô
dụng trong xã hội, không có bạn Na Uy, không nghề nghiệp, không
công ăn việc làm, tiếng Na Uy yếu kém, khả năng giao dịch rất
thấp. Nói chung, các em vừa không tìm được chỗ đứng trong xã hội
các em đang sống, vừa không tìm được cho mình một cội nguồn như
cha mẹ, vừa cảm thấy xa lạ với tập tục văn hóa mà các em đại
diện. Đa số các em này là nam, chỉ khoảng mười đến mười lăm phần
trăm là nữ, tất cả trong lứa tuổi từ mười bốn đến hai mươi ba.
Tô Vũ: Xin cho biết về tỷ lệ phạm pháp các em gốc Việt
Nam
Điềm Đạm: Theo SSB, Trung Tâm Thống Kê Quốc Gia, năm
2002, có khoảng ba mươi hai trong số một ngàn người phạm pháp là
người gốc Việt Nam. Trong khi đó, tỉ lệ phạm pháp ngoại kiều
không thuộc gốc Tây Ấu là 30/1000 và tỉ lệ phạm pháp gốc Na Uy
là 13,5/1000. Nói chung, số lượng người phạm pháp tăng đều từ
năm 1998. Và tệ nạn băng đảng, bụi đời, nghiện narkotika là hiện
tượng rõ nét nhất trong số thanh thiếu niên phạm pháp này.
Tô Vũ: Đã có những sự giúp đỡ gì của công đồng Việt Nam ở
Na Uy cho các em phạm pháp?
Điềm Đạm: Các hội đoàn Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, các tổ
chức chính quyền tìm mọi cách để tạo những sinh hoạt nhằm hướng
dẫn thanh thiếu niên tìm hướng sống hài hòa trong xã hội đồng
thời giữ được cội nguồn. Thêm đó, chính quyền cũng hỗ trợ tích
cực những tổ chức, những kế hoạch nhằm tạo điều kiện thuận tiện
giúp các em đã mang thành tích phạm pháp trở về với gia đình,
với đời sống bình thường.
Tô Vũ: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Điềm Đạm.
* * *
Tới đây, trong số mười lăm truyện ngắn của
tập truyện Mai Nở Miền Tuyết Trắng của nhà văn Võ Thị Điềm Đạm,
Tô Vũ chọn truyện Mảnh Giẻ Vụn để giới thiệu với độc giả
www.congdongnguoiviet.fr
Đề tài truyện ngắn này là một đề tài xã
hội, mà tất cả những người Việt Nam tránh cộng sản, bỏ nước VN
thân yêu ra nước ngoài cư ngụ, không cứ gì ở Na Uy, đều phải lưu
ý. Vì nó liên quan đến tương lai của những trẻ em trong gia
đình, những thanh niên trong xã hội, mà mặc dù nền giáo dục cổ
truyền nền nếp gia giáo tốt đẹp của xã hội Việt Nam, các
vị-thành niên, trí khôn còn non nớt, đã vấp phải khi chạm chán
với một xã hội, đầy cạm bẫy hư hỏng ở một số nước ngoài.
Theo nhận xét của Tô Vũ, ngọn bút già
dặn của Điềm Đạm đã nêu ra những vần đề được phân tích sâu rộng
với nhiều kinh nghiệm sống và kinh nghiệm giáo dục trẻ em. Vấn
đề thiếu nhi phạm pháp là một vấn đề phức tạp, một đề tài xã hội
nóng bỏng mà nhà văn Điềm Đạm đã trình bày thành một truyện
ngắn.
Trong truyện ngắn Mảnh Giẻ Vụn, tác giả
đã để chính nạn nhân của sự phạm pháp, kể lại chuyện của em với
những trường hợp nào đã dẫn em đến phạm pháp. Một thiếu niên
đáng thương. Một thiếu niên phạm pháp do sự đưa đẩy của lòng
tham lam của cha mẹ, do sự không hiểu biết pháp luật của cha mẹ,
do sự chểnh mảng, do sự lơ là nhiệm vụ của cha mẹ. Em được hưởng
tất cả những phúc lợi xã hội, sự chăm lo, săn sóc, nuôi nấng tốn
kém của xã hội Na Uy cho em, mong muốn em trở thành một công dân
tốt như mọi công dân tốt, nhưng em đã không bắt kịp với cuộc
sống ở một xứ văn minh, những đà tiến triển, em đã không lợi
dụng được những phúc lợi quý giá của một xã hội văn minh đã
tặng cho em. Do sự khai man của cha mẹ ruột em tham tiền trợ cấp
khai em là cháu, không có cha mẹ, nên em được nuôi dưỡng sống
đầy đủ tiện nghi trong một trại mồ côi. Em sống ở xã hội Na Uy
mà em không nói được tiếng Na Uy, không hội nhập được với xã hội
Na Uy, khiến em phải tụ tập bè đảng với những em đồng cảnh ngộ
để làm những việc phi pháp, sống ngoài lề một xã hội văn minh,
một xã hội tận tình săn sóc em mong em trở thành một công dân
tốt, em đã bỏ uổng cơ hội của đời em.
Tác giả đã kết luận với lời hy vọng của
chính em mong trở thành một vật hữu ích, hy vọng có những bàn
tay giúp vá víu những mảnh giẻ vụn (là các em phạm pháp) để may
thành môt vật hữu ích, một bao gối, một bao chăn, một khăn trải
bàn, một patchwork đẹp, hữu ích mà ta vẫn thấy bày bán ở các
tiêm bán chăn mền, rideaux ở Âu Châu.
Tô Vũ
npham@free.fr
MẢNH GIẺ VỤN
Võ Thị Điềm Đạm
Sức gió từ hai cái quạt khổng lồ treo ở hai bên tường cao thổi
ào ào vẫn không giảm được mùi mồ hôi người hanh hanh, không đánh
tan được cái nóng hâm hẩm tháng tư làm lớp da dưới cánh áo thun
ri rỉ ẩm. Phim gì mà chán quá, nói hoài thôi, ngồi bó gối, ngồi
chồm hỗm trên ghế, ngồi gát chân lên ghế trước, đủ kiểu ngồi
cũng không hết chán. Cái thằng Lục Đen cà chớn thiệt tình, đòi
coi cho được phim này. Uổng tiền, phải chi hồi nãy theo tụi
thằng Hải Bụng, thằng Hải Cò, thằng Tám Lé ra bến Ninh Kiều, dọc
dọc vườn bông chọc phá mấy cặp ngồi rù rì, để tiền mua chuối
nướng dì Ba Ốm, thế nào dì cũng chan thêm nước dừa béo ngậy,
liếc ngó con Hương Teo con của dì một cái, cũng đã lắm rồi. Giờ
này chắc con Hương Teo đang quạt lửa than, ánh lửa làm ửng đôi
má, làm ánh mắt nó long lanh. Hừm... tụi nó ngu quá, cứ kêu con
đó là Hương Teo. Nó teo là tại nó ốm, nó còn nhỏ, nhưng đôi mắt
nó, đen lay láy, nhìn xớt qua cũng vui rồi, hình như nó cũng
nhìn xớt qua mình nữa sao đó. Thôi, chút xong phim, chạy tạt qua
gánh chuối nướng của dì Ba Ốm một cái... hừm, không còn đồng nào
dính túi...hừm... cái phim cà chớn.
Thọc tay vô bịch ny lon, quậy tìm trong gói đậu phọng luộc, hy
vọng còn sót vài hột, hừm, toàn là vỏ ướt nhẹp. Đang bực vì
thằng Lục Đen ăn sạch không chừa một hột, em hết hồn khi cánh
tay bị ai kéo ngược ra phía sau, đau điếng, quay lại nhìn. Ủa,
má, má làm gì mà coi bộ gấp dữ vậy. Má kéo em xồng xộc tuốt ra
ngoài, không nói không rằng. Hơi mát ban đêm không làm giảm cơn
sửng sốt, nhưng em không dám cưỡng lại vì thấy gương mặt má có
vẻ nghiêm trọng quá. Má nói nhỏ: "Lẹ, lẹ đi con, chạy con! Đi
đâu mà đi mất tiêu không nói cho ai biết, kiếm nát chợ từ chiều
đến giờ, chạy con!"
Không cần giải thích là đi đâu, tại sao phải chạy gấp, má chạy,
em cắm đầu cắm cổ chạy theo. Sao lại không về nhà? Đêm tối mà má
chạy xồng xộc vô vườn nhà cậu Bảy chi vậy? Xuống chiếc xuồng con
đang chờ ngoài con rạch sau vườn, em nhận ra ba và bốn đứa em
ngồi co ro chờ ở đó. Bây giờ em mới hiểu. Từ lâu, em đã nghe
người lớn thì thầm chuyện vượt biên, nghe đồn gia đình người này
đã đi vượt biên thoát được, gia đình người kia bị bắt. Ngay cả
ông bà ngoại, các cậu, các dì cũng đã vượt biên hơn hai năm nay,
hiện đang ở Na Uy nên ba má em cũng muốn đi luôn, qua Na Uy ở
với ông bà ngoại.
* * *
Em giận run, dựt mạnh cái áo khoát treo gần cửa, chạy ra đường.
Trời cuối thu nên gió rít lạnh buốt, đường ướt nhẹm nhưng không
làm chùn được bước chân em. Em phải đi, đi thật xa, xa cái nhà
có ba má, có mấy em. Càng nhớ lại lời má dặn hồi nãy, nghĩ tới
gương mặt ba giận dữ, em càng tức. Nói đúng hơn là em vừa tức
vừa buồn, buồn đến hoang mang là không biết mình sẽ làm gì. Cơm
nước vừa xong, chưa kịp coi chương trình TV thiếu nhi đài NRK
lúc sáu giờ thì má dặn, rõ ràng:
- Từ nay con không được kêu ba má là ba má nữa mà phải kêu là
cậu Hai, mợ Hai.
Em không hiểu trọn câu nói của má, không hiểu là má nói với ai
nhưng sao tự nhiên em hỏi lại:
- Sao vậy?
- Nhà mình chỉ còn gia đình cậu Bảy ở lại Việt Nam. Ông bà ngoại
muốn bảo lãnh vợ chồng cậu mợ và các em qua Na Uy luôn mà chắc
chắn là không được. Đi vượt biên nguy hiểm quá. Con làm con của
cậu Bảy, con bảo lãnh cho cậu mợ và mấy đứa nhỏ qua thì nhanh
hơn.
- Con đâu phải là con của cậu Bảy.
- Thì từ nay con là con của cậu Bảy, phải kêu ba là dượng Hai,
má là dì Hai, nhớ chưa.
Giọng ba đầy mùi bia nhưng ráng làm ra vẻ nghiêm nghị:
- Biểu sao thì nghe vậy, bày đặt hỏi tới hỏi lui. Nhớ chưa, ai
hỏi thì nói ba má và ba đứa em còn ở Việt Nam, một mình vượt
biên qua đây với dì Hai dượng Hai.
- Còn nữa, ai có hỏi tuổi thì nói con chín tuổi.
- Chín tuổi? Con mười hai tuổi chớ không phải chín tuổi.
- Không có cãi tới cãi lui, tao tát một cái là trẹo họng cho hết
cãi.
Có nghĩa là từ đây em sẽ nói láo. Láo đủ chuyện, làm sao em nhớ
cho hết đây, lỡ em quên thì sao. Tại sao ba má không muốn em là
con của ba má nữa? Ba má không thương em nữa sao? Mấy đứa em có
còn là em của em nữa không? Tại sao? Tại sao? ĐM, bắt em nói láo
thì em nói láo, sợ gì ai. Không cho em làm con của mấy người thì
em tìm chỗ khác ở. Ở đâu? Nhà ngoại? Nhà cậu Ba? Nhà dì Hà? Hay
xin vô nhà mồ côi như thằng Alexandre. Thằng này vậy mà sướng,
đi học có xe taxi đưa đón, người ta cho tiền xài không hết, mỗi
tuần được taxi đưa về thăm gia đình. Nhưng làm sao xin vô nhà mồ
côi ở được. Tưởng gì, vượt biên được qua đây thì ba không thương
em nữa, má không thương em nữa, ba má không muốn có em là con
nữa. Biết vậy em trốn, không thèm theo má xuống chuyến xuồng đêm
đó.
* * *
Thiệt là xấu hổ, em gần mười ba tuổi rồi mà phải ngồi chung với
tụi mới chín tuổi. Dầu cho vóc dáng em không to hơn tụi trong
lớp chi cho lắm nhưng em cảm thấy em lớn hơn tụi nó nhiều lắm.
Lớn mà ngu. Đúng vậy. Đã ngu thì em phải làm mọi cách cho tụi nó
nể, nể chuyện gì cũng được. Một tuần em được học riêng sáu giờ
tiếng Na Uy với ba đứa em, con Hạnh mười tuổi, thằng Tín tám
tuổi và cả con Út Lan bảy tuổi. Cũng là một mối nạn vì thằng anh
lớn mà cùng học abc với đám em, coi bộ còn tụi nó vô tư học nói
học nghe còn giỏi hơn thằng anh to đầu. Những giờ còn lại là em
ngồi miết trong lớp, ngày này qua ngày kia. Ngồi nghe như vịt
nghe sấm. Nghe chữ mất chữ còn. Thường thì đoán mò dần dần được
năm ba chữ. Liếc chừng tụi nó làm gì thì em làm theo. Tụi nó
cười thì em cũng cười. Tụi nó la ó thì em la to hơn. Tụi nó chạy
phá trong lớp thì em cũng chạy cũng phá. Nhưng chừng tụi nó ngồi
yên làm bài thì em không sao ngồi yên được vài phút chứ nói chi
cả tiếng đồng hồ. Biết gì đâu mà làm. Chẳng lẻ hỏi cô giáo hoài,
mà cũng không biết hỏi cái gì. Ngồi yên không được thì em kiếm
chuyện phá thằng ngồi trước, giựt sách con nhỏ ngồi kế bên, đi
lại thằng ngồi đầu bàn làm bộ mượn cây thước, đi ngang qua thúc
cùi chỏ vô thằng này, hất giày con nhỏ kia, đủ chuyện để làm cô
giáo bực mình. Cô càng bực mình, em càng thích phá. Tại vì khi
cô giáo bực là tụi trong lớp khoái chí, tụi nó thích em.
Em sợ nhất là giờ ăn, một cực hình. Cô giáo bao giờ cũng đọc
truyện cho cả lớp nghe trong khi tụi nó ngồi nhai nhỏ nhẹ, phải
yên lặng. Cô biểu em làm gì, em còn không hiểu thì làm sao em
hiểu truyện cô giáo đọc. Tụi nó lắng tai theo dõi câu chuyện, em
ngóng tới ngóng lui mong chuông reng. Tụi nó cười ầm, mặt em thì
trơ trơ ngó lơ chỗ khác. Ngày nào cũng thế. Bữa ăn trưa nào cũng
vậy. Em kiếm chuyện đi uống nước, đi quăng rác, đi lấy tờ giấy
lau tay, cố ý làm rớt hộp thức ăn, cô giáo phải ngưng đọc hoài
thôi. Lúc này thì tụi nó không thích chuyện em lục đục tới lui
vì như vậy cô giáo phải ngưng đọc để la em, câu chuyện bị cắt
ngang. Thường thì cô giáo phải gởi em lên văn phòng trong giờ
ăn.
Bị bắt vô phòng cô giáo xã hội để nghe cô hỏi chuyện hầu như mỗi
tuần, thét rồi em ngán. Em ngán, ngán nhưng không cưỡng được.
Thế là em im lặng, không thèm trả lời hay chỉ trả lời nhát gừng.
Cô lắc đầu chịu thua. Cô giận dữ. Cô năn nỉ. Cô dỗ ngọt. Cô đặt
giờ thông dịch mời ba má lên họp. Không ai cạy được răng em,
không ai bắt được em nói. Nói gì? Em còn không hiểu chính em thì
làm sao em kể cho cô giáo xã hội những câu hỏi đâu đâu. Biết đâu
mà trả lời. Trả lời lạng quạng làm bể mánh của ba má là về nhà
bị ba đục cho bầm mặt, bị má chưởi cho nát nước. Trường học, cô
giáo, ba má, làm sao hiểu được rằng những giờ ngồi như vịt nghe
sấm, trơ trơ cái mặt trong lớp học là một sự hành hạ dai dẳng,
liên tục mà người lớn đã giáng lên đầu một đứa nhỏ như em. Cái
thế câm lặng vậy mà thành công. Riết rồi không ai thèm ngó đến
em.
Ngoài sân chơi, em ráng đeo theo tụi lớp sáu, tụi cùng tuổi với
em (tuổi thật) nhưng tụi nó khinh thường em lắm. Tụi nó kêu em
là "con khỉ tóc hoe". Nghĩ cho cùng, tụi nói kêu em là con khỉ
cũng không sai lắm. Mà con khỉ tóc hoe càng không sai. Em không
muốn ai nhìn màu tóc đen thui trên đầu, em muốn giống tụi nó, em
nhuộm tóc vàng vàng nâu nâu mà sao nó cứ ra màu cam cam nâu nâu,
hoe hắt. Em phải ráng bắt chước tụi lớp sáu là tụi lớn nhất
trường để tụi nó cho em theo sau giờ tan trường, lang thang các
trung tâm mua bán, ngóng nhìn người qua kẻ lại. Em có thua gì
tụi nó đâu, từ cách chưởi thề, cách đi xềnh xàng, cách nhổ nước
miếng cái bẹt, cách giựt banh của tụi lớp nhỏ... Luôn cả cách
chôm chỉa trong chợ. Chỉ có chuyện chôm chỉa là tụi nó nể tài
em. Chuyện này tụi nó ngu lắm, và nhát nữa. Em hả? Tỉnh queo.
Lượn một vòng vô chợ để tìm mua bịch kẹo, xoay lưng nhét lẹ
phong kẹo vô túi áo khoát, quơ tay lấy hộp kem vuốt tóc... Mà em
cũng không dại gì rảo nhiều lần trong một tiệm. Nay siêu thị này
mai siêu thị kia.
Mấy món lấy được, em chia cho tụi nó, em đem về nhà. Coi bộ má
thích dữ a. Má thiệt là khờ. Em nói tụi bạn cho em mấy thứ đó
vậy mà má tin. Tháng này qua tháng kia, năm này qua năm kia, hết
ba năm cấp hai, má vẫn còn tin như vậy. Ba cái món lặt vặt em
đem về bỏ tùm lum ở nhà. Má xài không hết, má cho nhà ngoại, má
cho bạn má. Có lần nhân viên Bảo Vệ bắt được em, mời ba má lên
lãnh về. Em khoái má chỗ này, má binh em, má bịa ra là tụi bạn
Na Uy bắt em ăn cắp, nếu không là tụi nó đánh. Em thích quá, im
re. Thét rồi em đem món gì về má cũng chẳng thèm hỏi, cần thì
xài, không cần thì quăng. Có khi má còn biểu em xin tụi bạn món
này món kia. Nhưng rồi em cũng chán chuyện chôm chỉa lặt vặt.
Không ai la rày. Không đủ đô. Trong người em luôn luôn nóng nảy,
mau giận, thích đập phá một cái gì đó. Chỉ cần một ánh mắt khinh
thường, một lời chê kiểu tóc chải, một xoay lưng là đủ làm đầu
em nóng bưng, là đủ làm miệng em kiếm chuyện gây, là đủ làm tay
em tung ra không cần lệnh của cái đầu.
* * *
Cái xứ gì mà lạ lùng. Học dỡ học dốt gì cũng cho lên lớp, học
sao cũng không thày cô nào dám la mắng. Cứ mười lăm tuổi là xong
lớp chín, phải học xong lớp chín. Sau đó là tự ý, muốn học tiếp
thì học, không thì lang thang kiếm công chuyện làm mướn.
Em chỉ mong cho xong lớp chín là được tự do.
Bây giờ thì em khôn lắm rồi. Cách đây hai năm, em chán cảnh ba
em sáng bia, chiều bia, bia một mình, bia với mấy người bạn, bia
ngày thường, bia cuối tuần. Mà phải uống bia không thì cũng đở.
Đàng này bia vô là lời ra. Ba càng ra lời thì má càng lớn tiếng,
em càng chuồn xuống đường sớm. Em đánh lộn với tụi Thái Lan trên
Oslo, ngày hôm sau, manh cái mặt bầm đi học, em kể với cô giáo
xã hội là em bị ba đánh. Làm như vậy được hai lần là nhà trường
báo cho văn phòng bảo vệ thiếu nhi, đem em đến một nhà mồ côi ở
một quận khác. Người Na Uy ngây thơ lắm.
Muốn trốn khỏi lời gây tiếng gổ mỗi ngày trong gia đình, muốn
được sống thoải mái với tụi cùng tuổi, muốn được có phòng riêng,
muốn được có tiền tiêu khá rộng rãi, nên em mới làm đủ trò để
được ở nhà mồ côi. Vậy mà em không ngờ rằng em nhớ ba má, nhớ
các em đến nổi em chỉ mong đến chiều thứ sáu là được về thăm
nhà. Em phải có một sợi dây kết nối, em sợ, sợ mình là đứa trẻ
mồ côi thực sự. Coi bộ hình như ba má cũng thích giải pháp này
nữa, khỏi tốn cơm gạo, khỏi tiếng la lời mắng. Tiếng là về nhà
chứ kỳ thực em có ở nhà được bao lâu, đám bạn cũ rủ rê, đám bạn
mới hẹn hò. Thành phố Drammen từ lâu đã trở thành quá nhỏ, quá
nhàm chán cho em. Em lân la lên Oslo.
Mười tám tuổi, hết hạn được ở nhà mồ côi, bỗng nhiên em bị quăng
ra đời. Được cấp một phòng trọ, một số tiền trợ cấp hàng tháng
trong khi chờ kiếm được việc làm. Em không ngờ và nhân viên
phòng xã hội không hiểu cái xốc hụt hẫng của một người đang sống
trong nhà mồ côi có bốn người lớn chăm lo, bỗng chốc phải hoàn
toàn tự lập chỉ vì vừa tròn một mức tuổi đã được ấn định. Tháng
trước, tháng sau, thế là đường sống của em hoàn toàn thay đổi.
Miếng ăn miếng mặc, chuyện làm chuyện chơi, mọi sự em lo mình
ên. Tội gì đi làm cho mệt xác. Được hưởng trợ cấp xã hội, có thì
giờ mánh mung thêm, có thì giờ tụm năm tụ ba, có cơ hội thử hút
thử hít. Được có cái là em không ưa ba cái chuyện hút sách,
không ai cấm cản cả, chỉ không ưa vậy thôi. Có biết bao chuyện
làm hồi hộp, hấp dẫn, nguy hiểm và dễ kiếm tiền hơn.
* * *
Tôi nhào tới bồi thêm một cái đá thiệt mạnh, thằng Pakkis lăn
qua một bên, nằm im rơ. Chẳng cần ngó coi nó sống hay chết,
hoảng quá, tôi chạy băng qua sân vườn trẻ, nhảy rào, tìm ra
đường lộ, cố giữ bình tỉnh khi đứng ở trạm xe chờ chuyến xe buýt
ra khỏi thành phố Drammen. Đang thổi thổi hai tay cho ấm, nghe
tiếng thình thịch phía sau, tôi quay lưng. Thằng Tự cũng vừa
chạy tới trạm xe, tôi nhanh trí, giả bộ ngóng cổ chờ xe tới, làm
như không quen biết gì nó. Nó hiểu, nó cũng chẳng ngó ngàng gì
đến tôi, còn chu miệng huýt một điệu nhạc nữa chớ. Tôi xuống
trước nó một trạm, ráng đi thật ung dung đến nhà thằng Hòa Cò
như thường lệ.
Mới chín giờ tối thứ sáu mà hành lang khu chung cư vắng hoe, tôi
ngồi ngoài cửa chờ chưa được năm phút thì thằng Hòa Cò cũng về
tới. Không hơn một tiếng đồng hồ là cả đám tụ tập trong nhà
thằng Hòa Cò. Thằng Hòa Cò này khôn tính, rộng tánh, sòng phẳng
và cư xử đàn anh, tụi tôi tin tưởng nó, lợi tức tiền bạc giao
cho nó cai quản. Nó khôn, những lần tụ tập ở nhà nó, không có
cảnh ồn ào nhậu nhẹt làm phiền lòng hàng xóm, ra vô im lìm,
không gây chú ý. Nó sống một mình nên cả băng tìm đến đây sau
khi chạy tứ táng để đánh lạc hướng cảnh sát.
Thằng Hòa vừa để nồi nước nóng với những cây xúc xích đỏ nằm
ngổn ngang, quăng ra bàn ba gói bánh khoai tây, chai tương cà,
bịch hành khô, là cả đám nhào lại, tranh nhau làm phần ăn cho
mình. Cũng thằng Hòa Cò, nó bàn hơn tính thiệt. Nhất định cả
băng sẽ bị lấy cung, tệ lắm là bị giam vài tháng, nhưng tất cả
nhất định không ai nhận là mình đã bắn hai phát vô đám Pakkis,
biết cũng không nói. Đám Young A kéo từ Oslo xuống Drammen tính
chuyện ăn thua đủ, tính chuyện dằn mặt băng Việt Maxi, tính
tranh dành thị trường cho chi nhánh đàn em ở Drammen. Tất cả sẽ
chối được cái gì là chối, chối hết, nhất là chuyện tụi cảnh sát
Na Uy không đánh đập nên không sợ, không khai.
Tụi cảnh sát hay thiệt. Không về nhà riêng, tôi bắt xe xuống
Moss, nhà ba má, chưa nhắm mắt là tụi nó gõ cửa. Biết trốn cũng
vô ích, tôi theo ra xe trong tiếng khóc bỡ ngỡ của má, miệng há
hốc của ba, ánh mắt kinh hoàng của bốn đứa em. Cảnh sát còn cho
biết là cả băng Việt Maxi, sáu thằng đều bị bắt, thằng Hòa Cò
cũng ngồi khám luôn. Ở tù vậy mà yên. Chớ không, tôi phải trốn
tiệt trong nhà một thời gian, sợ đám Young A tìm trả thù, nghe
nói tụi nó tính diệt từng thằng một. Yên thì yên phần không bị
trả thù nhưng bụng thì lo không biết tụi kia có giữ đúng lời là
sẽ không khai cái gì hết.
Cảnh sát phải mướn thông dịch, thẩm vấn từng đứa một, dọa dẫm,
dụ dỗ hợp tác để giảm án, thét rồi cảnh sát chắc chịu thua đám
Việt Maxi, miệng đứa nào cũng kín như dán băng keo thứ thiệt.
Trước sau như một, tôi khai tôi đi lại nhà dì ở gần đó, nghe
tiếng súng, chạy lại coi, bị tụi nó xô đẩy, tôi tức quá đá cái
thằng nằm ngay chân tôi một phát rồi bỏ đi, không biết gì nữa
hết. Tôi nhận tôi thường đi chơi chung với năm thằng trong băng
Việt Maxi. Khi tôi khai như vậy, tôi nghĩ thằng Pakkis đó không
phải chết vì cú đá của mình. Quả thật đến bây giờ tôi cũng không
biết chắc thằng nào trong bọn đã bắn, nhưng tôi có thể đoán ra,
tôi dại gì thú thiệt sự suy đoán của mình. Anh em Việt Maxi được
cái đó, không bao giờ phản bội nhau.
Mấy tuần lễ xử án, tôi bật ngữa. Té ra là chỉ mình tôi khai là
tôi đá thằng đó. Mấy đứa kia chối hết, chối từ đầu đến cuối,
chối mọi chuyện. Tụi nó bị kết tội đồng lõa âm mưu đả thương
người khác. Bằng chứ sờ sờ đó mà tụi nó còn kháng án, không nhận
tội âm mưu, không nhận tội đồng lõa, chối hết. Cảnh sát điều tra
từng gia đình Việt Nam có liên quan đến chúng tôi, không khai
thác gì được, không ai hở môi. Tôi phục người Việt Nam ở chuyện
này.
Cái chết của thằng Pakkis là cái án tử có âm mưu, nhưng thằng
nào cũng chối, không nhận một lời kết án nào có liên quan đến vụ
này. Hơn hai năm trời, không tìm ra cây súng, không tìm ra thủ
phạm đã bắn hai phát đạn vô đám Pakkis, làm một thằng lãnh trọn
hai phát đó, chết ngay tại chỗ trước khi cảnh sát có mặt. Tụi nó
chối hết. Không ai khai gì hết.
Nhận tội cú đá là nhận cho phần tôi, tôi muốn ở tù cho qua
chuyện, tôi đã bắt đầu chán đám bạn cả ngày rong rong kiếm tiền
bằng mọi cách. Những chuyện mánh mung gian lận không còn hấp dẫn
cho tôi nữa. Đi đâu, ở đâu, ngay cả trong họ hàng tôi, tôi không
có một tiếng nói, tôi không dám ngững mặt ngang hàng với ai hết.
Chục năm trời. Bây giờ tôi muốn thay đổi, muốn sống một đời sống
như thằng Tâm thua tôi một tuổi, con cậu Tư. Nó cũng học tới lớp
chín như tôi, lúc nghỉ học nó cũng là cà đầu đường xó chợ, nhưng
được vài năm thì nó xin vô làm hãng bia Ringnes, làm bốn năm,
lên được chức trưởng nhóm, coi ngó hơn hai chục nhân viên chớ ít
sao. Tôi muốn đi làm, hãng xưởng nào cũng được, lương bao nhiêu
cũng được, miễn sao tôi có nồi cơm chắc chắn mỗi ngày, miễn sao
tôi được ngồi ngang hàng với mọi người mà trong lòng không
ngượng nghịu mặc cảm. Ông Lars ở văn phòng xã hội khuyên tôi
biết bao lần, ông hứa nếu tôi muốn là ông tìm ngay việc làm cho
tôi.
Ngày cuối cùng, tòa án xử tôi tội đồng lõa đả thương với bản án
không có gì nặng lắm. Tôi nhẩm tính: Bản án ba năm trong tù và
hai năm tại ngoại, mình ở trong tù đã hơn hai năm, như vậy không
còn bao lâu nữa. Kể ra cũng đáng thôi. Bề nào thì thằng Pakkis
cũng đã chết. Tôi chấp nhận bản án. Thời gian trong tù, tôi được
dạy nghề thợ mộc, cái nghề tôi thích từ nhỏ, cũng là nghề của
ông nội. Những ông thày trong tù khen tôi khéo tay, khen tôi
siêng học, làm nhiều báo cáo tốt cho tôi, hứa tìm việc cho tôi
khi mãn hạn tù. Tôi nôn nao chờ ngày ra.
Trời Phật đâu sao không chứng giám cho lòng thành của tôi. Trước
khi mãn hạn tù, tôi nhận được một tờ giấy báo là tôi sẽ bị trả
về Việt Nam vì bản án đồng lõa, cố tình đả thương người cho đến
chết. Ngẩn ngơ mù người, tôi đòi có thông dịch để dịch lại bản
án. Đúng vậy. ĐM thằng thông dịch hồi đó. Nó dịch mà không giải
thích, dịch là bản án đồng lõa đả thương người. Nhiêu đó. Tôi
không hiểu rõ nghĩa từng chữ khi người ta đọc bản án dầu đã được
dịch ra tiếng Việt. Mấy người đó đâu biết khả năng tiếng Việt
của tôi có hơn gì tiếng Na Uy đâu. Tôi chỉ mới học tới lớp ba là
phải đi vượt biên mà. Tôi có đồng lõa cho nên tôi không kháng án
ngay lúc đó, cho nên tôi nhận tội liền vì tôi đã khai là tôi đá
thằng đó. Nhưng còn tệ hơn nữa là lý do tôi bị đuổi về Việt Nam
vì tôi là một phạm nhân không có quốc tịch Na Uy. Lạ đời không?
Cả nhà ai cũng vô quốc tịch hồi tôi còn đi học, hồi tôi ở nhà mồ
côi. Đúng vậy. Ba má tôi quên, quên ghi tên tôi vô đơn khi gia
đình xin vô quốc tịch vì trên giấy tờ, tôi không phải là con của
ba má. Người ta quên tôi, quên sự hiện diện của tôi. Má tôi
khóc, ba tôi ân hận, thừa!
Tôi kháng án. Hai năm tại ngoại tôi từ hẳn đám bạn du đảng, từ
hẳn, không giao tiếp với người Việt Nam với hy vọng làm lại từ
đầu, với hy vọng nếp sống chừng mực sẽ là bằng chứng tốt khi tòa
xử lần nữa. Tôi được huấn nghệ, tôi được cấp nhà, tôi có bạn bè
Na Uy đàng hoàng, tôi sống như một người Na Uy, tôi đi trượt
ski, tôi chơi thể thao, tôi thực tập ở hãng Eskones. Thư kháng
án của tôi được chấp nhận. Bạn bè Na Uy hứa giúp tôi kháng án
tiếp. Muốn giúp là một chuyện, công pháp là một chuyện. Cho đền
gần ngày xử, suy ngẫm những lần hỏi cung, linh cảm một kết quả
vô vọng, tôi quyết định trốn qua Đức, tìm đến tụi Việt Nam bên
đó mà tôi đã giao du từ mấy năm trước. Số mạng tôi nằm trên bàn
cân mà cán cân là một sợi chỉ hy vọng mong manh. Một hạt cát
thêm vô đầu cân kia, thế là quyết định trả tôi về Việt Nam được
ký, theo lời người bạn kể.
Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, tụi Việt Nam bên Đức làm ăn táo bạo hơn
tụi bạn của tôi ngày xưa. Tôi phải lăn vô để kiếm sống. Cùng là
cặn bả của xã hội, nhưng phong sống của tụi này khác tụi Việt
Maxi, làm tôi nhớ bạn bè, nhớ gia đình quá sức. Tôi lẻn về thăm
gia đình. Không biết sao, cảnh sát chờ canh, chận bắt trước khi
tôi về đến nhà. Được phép gặp ba má năm phút, tôi bị hai người
cảnh sát mặc quần áo dân sự áp tải ra phi trường Fornebu.
Ba má tôi van xin. Các em tôi khóc lóc. Má tôi xin được gởi về
Việt Nam thay tội cho tôi. Chuyện đâu có dễ như ba má nghĩ.
Gương mặt ba héo khô già trước tuổi vì thằng con hoang đàng, mái
tóc má lấm tấm trắng vì ân hận. Faen! Héo hắt! Bạc tóc! Tôi
hoang đàng? Đúng! Ai đẩy tôi vào con đường hoang đàng? Nói đi!
Chính tôi? Tôi không chối! Tại sao ba má chưởi mắng bắt tôi từ
bỏ đám bạn của tôi? Tuổi trẻ tôi cần có bạn, không giao du với
những người bạn ấy thì tôi giao du với ai? Ba má của tụi bạn
cũng cấm cản không cho tụi nó giao du với tôi, ai tốt, ai xấu?
Fuch you! Ai hơn ai? Ai đáng giá hơn ai? Ai sẽ tránh ai? ĐM!
Tránh nơi này thì phải có một nơi trú ngụ khác. Nơi nào? Tôi là
một hiện thể bằng xương bằng thịt bằng trái tim bằng khối óc,
tôi phải có một chỗ dung thân giữa thế gian này. Nhưng tôi không
có quyền lựa chọn.
Từ khi vừa bước chân đến Na Uy, tôi đã được huấn luyện cách nói
láo. Láo là tôi qua đây một mình, kêu ba bằng dượng Hai, kêu má
bằng dì Hai từ trong nhà cho tới ngoài đường để ba má nhận được
tiền bảo dưỡng tôi, để cậu mợ được bảo lãnh qua Na Uy nhanh
chóng. Láo về tuổi tác. Láo về công ăn chuyện làm đen của ba má.
Láo đến độ đôi lúc tôi tưởng là thiệt. Thế mà tại sao tôi không
nói láo, tại sao tôi không chối là tôi đã đá thằng Pakkis đó, có
ai nhìn thấy rõ ràng là tôi đã đá đâu, có thằng bạn nào khai
đâu. Tại sao? Tại sao khi tôi thành tâm muốn làm lại từ đầu,
muốn được sống như một người bình thường thì được trả lời bằng
một hình phạt này? Tụi kia chối, chối hết. Tụi nó được gì? Được
máng án tù sáu tháng, một năm, hai năm là cùng. Còn tôi, tôi
khai thật, cho nên tôi được tưởng thưởng bằng cái án biệt xứ,
suốt đời. Đó là công lý, fuck you! Đầu óc tôi bị những dấu hỏi
dấu chấm than đánh tới đánh lui trong suốt hai mươi ba tiếng
đồng hồ từ phi cơ này chuyển sang phi cơ kia.
Giao tôi cho công an tại phi trường Tân Sơn Nhất, hai người cảnh
sát Na Uy biến mất. Lạ lắm, khi hai người cảnh sát Na Uy đi rồi,
tôi mới nhận thức được là mối liên hệ với đất nước Na Uy, con
người Na Uy hoàn toàn bị cắt đứt, một phần lớn trong tôi bị cắt
lìa. Cảm giác mất mát càng lớn dần khi người công an áo vàng đeo
những huy hiệu đỏ chói, đẩy tôi, nói, giọng nói lạ lùng tôi chưa
từng nghe, tôi không hiểu lắm, đại khái hình như là: "Tao kiếm
xe cho mày đi liền, ĐM, tụi Na Uy đem rác về đổ ở đây."
Với năm trăm dollar được mấy người công an đổi ra tiền Việt Nam,
tôi bắt đầu chi dùng cho chuyến xe đò về Bắc Mỹ Thuận, về Cần
Thơ, về quê tôi. Quê tôi? Người ta biểu Việt Nam là quê hương
của tôi thì tôi biết vậy. Người tài xế lái chiếc xe gắn máy chở
tôi lại địa chỉ được ghi trên tờ giấy mà công an ở phi trường
biểu tôi phải trình diện. Bỏ tôi đó, giống như hồi ông hiệu
trưởng tôi dẫn tôi đến lớp học, giao tôi cho cô giáo mà không hề
thắc mắc là tôi sẽ xoay trở như thế nào giữa muôn ngàn âm thanh
hoàn toàn xa lạ, ông quay lưng bỏ đi.
Người ta mướn cho tôi căn phòng được dựng kế bên nhà một người
bà con xa của ba ở một con hẽm sâu, cho tôi một địa chỉ để tôi
liên lạc. Căn phòng ba bề là lớp ván mỏng, vừa đủ chỗ cho cái
gường lính, bếp gaz, vài kệ bằng mủ cứng, cái bàn nhỏ và vài ba
cái ghế. Tôi tập quen dần với cái nóng hâm hấp của mái tole từ
khi vài vệt nắng chen qua khe hở ở cánh cửa duy nhất cho tới khi
tôi phải bật cái bóng đèn treo lơ lững trên đầu.
* * *
Cách đây mười lăm năm, tôi ngơ ngơ ngáo ngáo trong lớp học, mọi
lời nói loáng thoáng qua tai, không bắt được một câu cho trọn
vẹn, bắt chước cười, bắt chước la, bắt chước vẽ, mong chờ tiếng
chuông reng hết giờ. Ngày nay, giữa phố chợ đông người, tôi cũng
ngơ ngơ ngáo ngáo, mọi lời nói cũng loáng thoáng qua tai, không
hiểu được một câu trọn vẹn. Nhưng tôi không thể bắt chước cười,
tôi không thể bắt chước thong dong ngồi quán với ly bia trên
bàn, tôi không thể làm những chuyện trái ngược để được chú ý bởi
tôi không muốn ai gọi tôi là "con khỉ tóc hoe", bởi đầu tôi có
quá nhiều dấu hỏi, có quá nhiều dấu chấm than.
Ngày rời Việt Nam tôi mười một tuổi, nay trở lại, tôi hai mươi
sáu tuổi. Mười lăm năm! Ngày đi, tôi là một thằng nhỏ còn chạy
quanh chọc phá mấy cặp rù rì trong vườn bông ban đêm, chưa bao
giờ đứng trước gương ngắm nhìn chính mình, chưa bao giờ ngồi yên
được vài phút, tiếp nhận mọi sự việc quanh mình như con chim con
há mỏ nhận mồi chim mẹ thả bỏ vô, hít thở hơi mưa dầm cơn nắng
hanh như nụ hoa mười giờ bò lan tràn trên mặt đất nở ra khi có
nắng đóng lại khi nắng tàn, chưa biết ước mơ cho tương lai. Ngày
trở lại, tôi là một người đàn ông luôn luôn nhìn quanh thăm dò
cho mỗi bước đứng bước đi, gương mặt mang đầy dấu tích hận đau
làm tôi không dám đứng trước tấm gương tự ngắm nhìn mình, tiếp
nhận mọi sự việc chung quanh bằng tấm lòng có nhiều lớp cạn lọc,
không biết mơ ước tính toán gì cho tương lai.
Nếu ai đó hỏi tôi là người nước nào thì thật tình tôi không biết
trả lời như thế nào. Mười một năm ở Việt Nam so với mười lăm năm
ở Na Uy, bên nào nặng? Tôi là người Việt Nam vì nội ngoại, ba má
là người Việt Nam, vì má sanh tôi trong nhà thương Cần Thơ, vì
tóc tôi đen, vì mũi tôi tẹt. Những năm ở Na Uy, đối với người Na
Uy thì tôi mãi mãi là người Việt Nam, dầu tôi có nhuộm tóc, dầu
tôi ăn chơi không thua gì tụi bạn Na Uy. Nhưng tôi lại không tự
cảm thấy tôi là người Việt Nam hoàn toàn, tôi không có một chút
gắn bó nào với câu vọng cổ kéo dài với những giọng hát nhèo nhẹo
và tôi không cười được khi xem những vở kịch trên video.
Không phải tự tôi không cảm thấy tôi hoàn toàn là người Việt Nam
mà ngay chính cả mọi người chung quanh đây, có ai coi tôi là
người Việt Nam đâu. Người ta cười câu nói ngây ngô phát từ miệng
người đàn ông gần ba mươi tuổi. Người ta nhíu mày không hiểu vài
chữ phát âm ngượng nghịu từ người đàn ông da vàng mũi tẹt như họ
nhưng lại đến từ một đất nước xa xôi. Xấu hổ, mặc cảm, tôi rút
mình không muốn giao thiệp. Ngày ba bữa cơm thui thủi, tối trở
lăn gối chiếc một mình, cứ thế mà hít thở cái không khí bưng
bưng bụi bậm.
Phải tìm đường sinh nhai, tôi ráng lần tìm nơi xin việc, đủ mọi
việc.
- Ông có thể cho tôi làm ở đây.
- Mày có thể làm gì?
- Ơ... tôi có học chuyện này, học hai năm.
- Chuyện này là chuyện gì?
- Chuyện... chuyện như ông đang làm.
- Ha... ha... chuyện tao đang làm mà cũng đi học, cũng học hai
năm... ha... ha... Mà tao học hơn mày, tao học cả đời, học từ
lúc cầm búa đập dập nát ngón tay cho đến khi tao nhắm mắt mà
cũng bào láng cón mặt bàn, đến bây giờ cũng còn học, mày có thể
biết không?
- Dạ, tôi có thể học nữa.
- Sao mày không có thể học nữa ở chỗ mày đã học đó... ha...ha...
thằng này nói nó có thể làm được. Nó chỉ có thể thôi...
ha...ha... có thê mà cũng xin vô đây làm. Mày có thể cho tao
biết mày là người gì mà không biết nói chuyện. Mày có thể đi chỗ
khác để tao đục cho xong cái chân bàn này không. Mày có thể đừng
đứng lạng quạng cản công cản chuyện của tao không?
Như thế, tôi xin hết chuyện làm này đến chuyện làm kia, không ai
tin tôi khi họ nghe giọng nói nạc mỡ, câu văn ngượng ngập. Ngưòi
ta nghi ngờ tại sao tôi đang ở ngoại quốc nghe nói sung sướng
giàu sang lắm mà lại về Việt Nam lang thang tìm những việc làm
"rẻ tiền". Lâu lâu bạn bè khi thì tụi trong băng Việt Maxi ngày
xưa, khi thì tụi bạn Na Uy, khi thì ba má chợt nhớ đến tôi, gởi
cho vài trăm đô để dành sống qua ngày. Tôi tiêu dè dặt từng đồng
vì không biết khi nào được nhớ tới. Tôi lo sợ đến một lúc nào đó
bạn bè, gia đình quên người bạn, người con đang bơ vơ giữa "xứ
người".
Na Uy không có án tử hình. Nếu tòa án cho tôi lựa chọn thì tôi
chọn cái án nặng nhất của Na Uy là hai mươi mốt năm thay vì cái
án "trở về quê hương" này. Hai mươi mốt năm trong tù, dầu gì thì
còn có một chỗ đứng, được cư xử như một con người, được có những
ước mơ cho hai mươi mốt năm sau. Còn ở đây, ở Việt Nam, ở nơi
người ta gọi là quê hương của tôi thì tôi chỉ là một tấm giẻ
rách vụn, suốt đời là tấm giẻ vụn trong muôn ngàn tấm vải đầy
màu sắc được mang ra may thành những tấm áo, tấm màn. Làm sao
tôi có được ước mơ cho hai mươi mốt năm sau?
Ba má đã cắt một tấm vải từ bộ áo gia đình để vá lên bộ áo gia
đình khác mà không cần biết đến kết quả của sản phẩm may vá đó.
Ba má đã cắt một tấm vải từ bộ áo Việt Nam màu vàng rực rỡ để
đem vá chồng lên bộ áo Na Uy màu xanh đỏ trắng tươi. Bởi màu sắc
quá chói mắt nên người ta cắt tháo nó ra, đem nó vá chồng lên bộ
áo nguyên thủy của nó nhưng người ta không hiểu rằng tấm giẻ vụn
này đã không còn thích hợp với tấm áo Việt Nam ngày nay cho nên
không ai muốn dùng nó. Chẳng lẽ từ nay và mãi mãi, nó chỉ là một
tấm giẻ vụn vô dụng?
Tôi có dám ước mơ: Một ngày nào đó, người ta thâu lượm những
mảnh giẻ vụn như tôi, kết may khéo léo thành một tấm khăn trải
bàn, thành một cái bao gối. Hỡi đôi bàn tay khéo léo! Hỡi khối
óc biết tận dụng của thừa vật thải! Hỡi tấm lòng biết nhìn xuống
vực sâu! Các người có hiện diện trên thế gian này không?
Trở về Trang Chính |