|
Lời
người chị kể sau chuyến về thăm Việt Nam: "Má yếu lắm rồi nhưng
đầu óc má vẫn còn nhanh nhẹn như xưa." Chị dùng chữ "nhanh
nhẹn" làm tôi vừa buồn cười vừa thấm thía cách dùng chữ của bà
chị một thời nổi tiếng nàng thơ ở trường Sư Phạm Sài Gòn. Không
ai dùng chữ "nhanh nhẹn" để diễn tả khả năng làm việc của bộ óc
con người. Bà chị này đã từng nổi tiếng (chỉ trong gia đình
thôi!) về tài dùng chữ vừa mỉa mai vừa thật lòng, vừa bóng vừa
thực, vừa diễu vừa nghiêm... Mà ngay chính chị cũng không có
dụng ý, đến chừng thấy chị em cười nghiêng ngửa, chị mới vỡ
lẽ... chị này hơi chậm tiêu!
Chữ "nhanh nhẹn" trong trường hợp này rất thích hợp. Má
chúng tôi! Chúng tôi đã từng đi từ ngạc nhiên đến giật mình vì
cách suy diễn nhanh chóng, cách làm bài toán cộng trừ nhân chia
trong đầu thật nhanh và chính xác của một người đàn bà chỉ học
hết bằng sơ lược tại gia. Bà Tư Bê, vợ ông chồng thông thái, má
của lủ con bảy đứa, lủ con thường tự hào mình là cây toán trong
lớp dù trai hay gái, đã từng cho chúng tôi đo ván về tài tính
nhẩm.
Là con gái lớn của một thày giáo làng Đại Nẫm, Phan
Thiết, người thày dạy chữ quốc ngữ đầu tiên của làng. Sau cậu
Ba là má tôi, thứ Tư, tên Bê, dì Năm tên Xê và tiếp theo đó...
hai dì út lại có tên thật mỹ miều so với những người nhà quê
thời đó: Xuân Lan và Thu Cúc (Làn thu thủy, nét thanh sơn, Xuân
Lan Thu Cúc mặn mà cả hai). Người con cả của ông bà ngoại đã
mất từ nhỏ, không thờ cúng gì cả và cũng là đề tài cho chúng tôi
tò mò bàn cãi:
- Không biết mình có cậu Hai hay dì Hai ha.
- Chị không logic chút nào hết.
- Hả?
- Tui chắc chắn là dì Hai.
- Ngon há, mi hỏi bà ngoại hả?
- Cần gì hỏi. Ông ngoại là thày giáo dạy chữ quốc ngữ
đầu tiên ở làng. Để làm gương, ông ngoại đặt tên cho ba người
con gái đầu lòng là A, Bê. Xê. Suy diễn ngắn đường cũng hiểu là
mình có dì Hai và chắc chắn tên A chứ không phải cậu Hai.
- Thông minh! Có nghĩa là ông ngoại còn làm một cuộc
cách mạng nhằm nâng cao kiến thức phụ nữ nước nhà. Đặt tên ba
người con gái là A,B,C là có dụng ý chứ đâu phải ông ngoại quê
mùa, nghĩ sao thì đặt tên cho con như vậy.
- Quê mùa sao được. Các cậu đều mang tên ngon lành, ai
cũng Nguyễn Chánh...
- Má biết đọc biết viết là ngon hơn đa số phụ nữ thời
đó.
- Má còn biết làm thơ nữa chớ bộ.
- Không những biết làm thơ mà còn thuộc nhiều thơ nữa.
- Ông ngoại ngâm thơ, đọc thơ cả ngày, không muốn cũng
thâm vô từ từ. Tụi mình còn được thâm, huống hồ chi má.
- Mê hát bộ, mê cải lương, mê phim Ấn Độ, mê phim tình
cảm Tàu.
- Có mộng cải tổ xã hội.
- Nếu mùa lúa năm đó ở Dinh Điền không bị "mấy ổng" tịch
thu thì má đã thực hiện được lý tưởng nâng cao kiến thức cho
đồng bào thiểu số ở một buôn Thượng. Má dự định sau mùa lúa là
má sẽ cho xây một trường học rồi vận động ông quận trưởng quận
Tánh Linh bổ giáo viên về dạy học cho người Thượng.
- Ưa thương vay, mang cực nhọc về nhà cho con cái. Có
nhớ chuyện thằng Minh Teo không?
- Ừ, thấy con người ta èo uột, tám tuổi mà nhỏ như đứa
trẻ lên bốn, cả ngày không nói một tiếng. Má quyết định đem về
nuôi một thời gian, bắt tụi mình đút cơm, chuyện trò với nó,
chơi với nó, đi chơi đâu cũng phải dắt nó theo....
- Coi vậy mà cũng có kết quả chớ bộ. Má sư phạm lắm,
cho con nít chơi với con nít thì con nít mới phát triển bình
thường. Nửa năm sau là nó chạy giỡn có thua gì tụi mình đâu,
còn la to hơn nữa chớ. Chừng Ba Má nó xin nó về, nó khóc, nó
la... Vậy mà bây giờ học lớp đệ thất trường Phan Bội Châu, ngon
lành như ai chứ bộ.
- Nhớ cái áo ấm màu nâu đẹp thiệt đẹp dì Bảy tỉ mỉ đan
cho tui trước khi dì theo dượng Đệ đi tập kết không?
- Ờ, bữa tối đó tui cũng run gần chết. Đang đi, bả ngồi
bệt trước nhà mình, máu me tùm lum. May mà có má ở nhà. Má đem
vô nhà, cắt nhao, tắm rửa, cho em bé bú sữa, rồi lấy cái áo ấm
kỷ niệm của dì Bảy, bọc thằng nhỏ, cho nó luôn cái áo.
- Cái áo ấm đẹp thiệt là đẹp.
- Đến giờ mi còn tiếc sao?
- Tui có tiếc bao giờ đâu, tui phục má lanh trí cứu
người, thương người.
- Má
còn bao bộc nuôi dưỡng bà Hai Mù vì bà không có con cháu, cho
đến khi bà chết.
- Tui
là chuyên viên tiếp tế gạo, nước mắm, than củi... cho bà Hai Mù
đây chớ ai.
- Có
máu làm cách mạng.
- Tại
mê ba, ba bỏ về thành, làm má phải theo, nhưng trong bụng còn ấm
ức lắm, kể chuyện trong chiến khu hoài.
- Bởi
vậy mới bị "mấy ổng" lừa cho một trận, thâu mua hết trơn mùa gặt
năm đầu ở dinh điền Tánh Linh rồi chỉ trả bằng tờ giấy chứng
nhận.
- Bao
nhiêu vốn liếng tiêu tan, nợ nần chất đống. Tụi mình cũng lao
đao nghiêng ngửa theo. Có khi nhà ăn cơm với cá nục kho và canh
bí rợ suốt mùa, ngán tận cổ.
- Nếu
không vì ba chị là má đi tập kết hồi năm năm mươi tư mất tiêu
rồi.
- Thì
tui được bú sữa Gi-Gô
- Ở đó
mà bú sữa Gi-Gô. Bú nước cháo pha đường cho lớn không nổi
luôn. Một mình ba làm sao nuôi nổi ba đứa con thơ con dại.
- Thì
đâu có thằng con trai đầu to lưng bự, tay chưn thòng lòng.
- Ba ém
tài má.
- Hay
là ba có khả năng dung hòa được cái máu làm cách mạng và máu
nghệ sĩ của nhà ngoại trong má, biến thành máu kinh doanh, máu
cầu tiến.
- Lý thuyết này nghe sao mơ hồ, không có căn.
- Má có máu kinh doanh nhưng không có máu bà nội trợ đảm
đang như dì Năm, dì Bảy, dì Chín .
- Quần áo chồng thì bỏ tiệm giặt ủi.
- Nấu ăn cũng không điêu luyện.
- Không biết thêu thùa đan may như mấy dì.
- Cần gì làm bà nội trợ đảm đang. Có người làm, có thì
giờ dẫn con đi coi xi nê, đi coi cải lương... và có thì giờ làm
thơ... bắt con cháu học thuộc. Đứa nào thuộc một bài thì cho
tiền.
- Có thì giờ mê đánh bài tứ sắc nữa chớ.
- Cũng lạ há! Ba với má mỗi người một tánh, một đam mê,
thế mà sống thiệt là thuận hòa. Người thì cầu an sống đời công
chức, chỉ biết vui thú với sách báo, bàn cờ. Người thì xông xáo
ngoài thương trường, không bao giờ chịu bằng lòng với công ăn
chuyện làm đang có, lúc nào cũng tìm cách cải tiến, đổi mới.
- Bởi vậy nhịp sống kinh tế nhà mình lên dốc xuống dốc
đều đều, làm cuộc sống tụi mình cũng lao đao theo mà má là chủ
chốt.
- Nhưng có khi nào mi xin tiền mua sách, mua truyện,
đóng tiền học thêm, đi xi nê... mà má không cho chưa? Dầu cho
nhà đang hồi thất bại. Má chịu chơi ở chỗ đó.
- Má còn có mộng cho con học cao nữa chớ.
- Ba học cao hơn má nhưng không có mộng cao bằng má.
Đứa thì má muốn cho học dược sĩ để mở tiệm thuốc tây, đứa thì
học bác sĩ để mở phòng mạch, đứa thì học làm giáo sư để mở
trường học... bất kể gái hay trai.
- Má có ý định đầu tư vô lủ con mà. Không biết ai sẽ
đạt được ước nguyện cho má đây, không phải tui à nhen.
- Tui thấy má tiến bộ lắm về phương diện nam nữ bình
quyền.
- Cái này ta nghĩ má bị ảnh hưởng ông ngoại, ba mình.
Con gái nhà ngoại ai cũng được cho đi học đâu có thua gì con
trai.
- Ngoại trừ má vì má là con gái lớn, phải phụ bà ngoại
buôn bán
- Còn chủ trương của ba là "nhất nghệ tinh, nhất thân
vinh", dù trai hay gái đều phải có một nghề để tự nuôi thân,
nhất là con gái, sẽ không bị lệ thuộc vào chồng. Mình có bao
giờ nghe ba hay má nói "con trai của mình...." lần nào đâu.
- Bởi vậy ông Hoàng, con trai trưởng mà không được ưu
tiên cái gì hết. Nhóc Hưng nhà mình cũng đâu có được cưng chiều
hơn ai.
- Mà lạ lắm nghen. Tui để ý thấy ba không bao giờ chở
má đi dạo trên cái xe mô-bi-lếch cà bịch cà tang của ba há!
- Không đi chung chớ nói chi đi dạo chung.
- Vậy chớ mi có thấy vợ chồng bác Chỉnh, vợ chồng chú
Sáu Sang, vợ chồng cô Ba, có ai đi chung nhau ra đường lần nào
chưa?
- Hi...hi...chắc thời đó còn mắc cở.
Má chúng tôi đại khái là như vậy đó, người đàn bà phong
phú đa tài đa dạng, nhất là óc tổ chức và tài suy diễn, tính
nhẩm. Cái tài tính nhẩm thần khốc, đã từng cho lủ con giỏi
toán, ông chồng thông thái đo ván.
Công việc mua lúa từ xe này đến xe kia ("Xe" là đơn
vị để chỉ số lượng lúa, chừng một trăm giạ thì phải, khoảng tám
bao bố), trử lúa ở nhà máy để xay gạo bán dần quanh năm, tính
toán lời lãi để định giá lúa, giá gạo... thế mà bà không hề dùng
bút giấy.
Đong lúa xong, nhà một nông dân ở Ngã Hai, bà bắt đầu
tính cho nhà nông:
- Một xe giá ba ngàn sáu, năm nay nhà chú được hai xe
bốn chục giạ, vị chi là... ba ngàn sáu, ba ngàn sáu, ba trăm
sáu, ba trăm sáu, ba trăm sáu, ba trăm sáu...
Trong
khi anh con trai của chú thím nhà nông tìm giấy viết, chưa kịp
ghi thì bà nói:
- Tám ngàn sáu trăm bốn chục. Chú thím mượn trước hai
ngàn rưỡi, còn lại sáu ngàn một trăm bốn chục.
Chú
thím nhà nông nhìn, chờ cậu con trai thông thái loay hoay tính,
mười phút sau, gật đầu.
Mỗi tối, chị em chúng tôi thường quây quần ở nhà trong
vì phòng này rộng, thoáng mát, đủ chỗ cho bộ ván ngựa, cái
giường, cái bàn ăn, cái võng vải bố... cả chỗ giặt đồ và hồ
nước. Người nằm trên bộ ván gõ đọc truyện, người đu đưa chiếc
võng hát vu vơ, người ngồi co rút chân ở góc gường đọc truyện
hình, vài ba người chơi cờ cá ngựa... Ba ngồi dựa lưng ở cái ghế
bố đọc báo, má ngồi bệt ra nền nhà xi măng soạn vá mấy cái bao
bố để ngày mai xay gạo ở nhà máy lớn. Chị Hai Cao đang bớt lửa
nồi chè đậu xanh hột nấu với đường tán ở phía sau bếp. Con Tư
ngưng đọc truyện hình, nói trống không:
- Lạ
há, má với chị Ba cùng tuổi con rồng, cách đây mười hai năm, hồi
má mới sanh chị ba, tuổi má gấp tuổi chị Ba hai mươi bốn lần.
Bây giờ mười hai năm sau, tuổi má chỉ gấp ba lần tuổi chị Ba.
Chưa ai kịp nuốt trôi ý tưởng bất chợt khá rắc rối của
con Tư thì má lên tiếng:
- Mười hai năm sau, tuổi má chỉ gấp hai tuổi con Ba
thôi.
- Hở ?
- Hả ?
- Ờ há !
Ba
cười cười, tiếp chuyện:
- Theo cái đà này, mười hai năm sau nữa, má mày bằng
tuổi con Ba.
- Ông nói sai bét. Chừng đó tuổi tui gấp năm tuổi con
của nó.
- Trời ! ! !
Và óc tổ chức thì cho đến nay tôi vẫn tự phụ là tháo vát
những lúc gia đình có tiệc tùng, những lúc nhận chịu trách nhiệm
tổ chức này nọ ở sở làm..., nhưng so với má tôi, trong thời buổi
không có điện thoại, không tự lái xe, không có chuyện đặt hàng,
bà có bảy đứa con, tôi chỉ có hai nhóc tì..., tôi thua xa Bà.
Cứ mỗi dịp Tết, đám giỗ ông nội bà nội là chúng tôi phải phục
má, ba tôi cũng vậy. Từ khi bà nội mất, ba tôi lãnh phần cúng
giỗ. Tiếng là ba tôi nhưng má tôi lãnh trọn bộ, hình như ba
không đụng tới móng tay, chỉ tiếp trà các ông các bác từ Đại Nẫm
xách dù xuống ăn giỗ nhà tôi và trong bụng bao giờ cũng chờ một
gói xôi vị nếp than đặc biệt do má tôi nhét vô giỏ làm quà buổi
chiều trước khi về. Mỗi lần có giỗ, giỗ ông nội, giỗ bà nội là
má tôi chuẩn bị một cách âm thầm đủ mọi thứ, nếp, rượu nếp, đậu,
mượn người nuôi heo chia đôi từ sáu tháng trước, gà vịt mua về
nuôi cho mập cả mười ngày. Trước ngày cúng tiên, mấy người mối
lúa của má tôi từ Ngã Hai, Phú Hội mang trái cây, rau cải, bông
hoa... để từng rổ ở nhà sau, như má đã đặt từ lâu. Tiệc giổ năm
nào, bà con nội ngoại từ Đại Nẫm, láng giềng hàng xóm làm đầy
dãy bàn ngoài phòng khách, hai bộ ván và bàn ăn nhà sau.
Còn Tết thì khỏi nói. Mọi sự được chuẩn bị chu đáo,
bánh tráng, nếp nổ, rượu nếp than, heo nuôi chia, gà vịt... rộn
rịp từ giữa tháng chạp... cho tới những phong bì lì xì lớn nhỏ
theo tuổi cũng đã được nằm sẵn trong túi áo má tôi trước ngày
mồng một. Quần áo mới cho chúng tôi cũng được đặt may cùng lúc,
cất trong tủ, từ tháng mười một. Cúng giao thừa xong thì coi
như chỉ việc ngã lưng ăn tết. Bánh, mứt, cốm, măng kho, thịt
kho, bánh tét, củ cải chua, củ kiệu chua, rượu nếp than, cơm
rượu, cây mai, chậu cúc, chậu vạn thọ... đâu ra đó, tươm tất
cho đến mười giờ khuya đêm ba mươi bà mới yên tâm ngủ để chờ
cúng giao thừa. Không những sắp xếp từ trong ra ngoài cho cái
gia đình với lủ con bảy đứa, cộng thêm vài đứa cháu, má tôi
còn chu cấp cho nhà nội, nhà ngoại món này thứ kia để ăn Tết.
Ngay cả tiền cho ông ngoại đánh bài mấy ngày Tết, năm nào cứ đến
trưa ba mươi là má tôi sai chị Ba đạp xe đem lên cho ông có mà
vui chơi.
Trước ngày khai trường mỗi năm chừng nửa tháng là tập vở
đã được chất từng chồng cao trên bàn học chung. Mỗi đứa hai bộ
quần áo mới để đi học, một bộ để bận ở nhà đã được đặt may cùng
lúc.
Mùa Tết Trung Thu thì dây sóng lá, hồ, giấy màu...
một chiều nào đó được má bày trên bàn học, thế là cả tuần đó tụi
tôi mặc sức mà trổ tài làm lồng đèn. Năm nào má tôi cũng hợp
tác với gia đình chú sáu Sang, bác Sắc để lủ con nít chúng tôi
gần hai chục đứa cứ đến đêm Trung Thu sau khi đi diễn hành lồng
đèn với trường ở vườn bông lớn, tụ họp lại để được chia bánh
kẹo và một màn văn nghệ bỏ túi do lủ nhỏ chúng tôi tự biên tự
diễn với sự khuyết khích của người lớn đang ngồi uống trà ăn
bánh trung thu, loại bánh đắt tiền nên chúng tôi mỗi đứa chỉ
được một góc tư cái bánh.
Đó là những chuyện lớn. Còn biết bao chuyện nhỏ hàng
ngày trong gia đình mà má tôi, một người rất bận rộn ngoài
thương trường, đều được má chuẩn bị đâu ra đó. Không biết má
tôi có hiểu thấu đáo chữ "tập thể" hay không nhưng mọi sinh hoạt
gia đình tôi đều mang bóng dáng tập thể, có lẽ vì con đông, má
tôi bận rộn mà lại rất chu đáo, nên phải làm chung được cái gì
thì làm. Ngay cả chuyện đánh đòn, tụi tui cũng bị ăn đòn tập
thể, lủ con nhớ đời. Nghĩa là một ngày đẹp trời nào đó, má kêu
sáu đứa con lên nằm xếp hàng trên bộ ván gõ ngoài phòng khách,
mặt úp xuống. Má bắt đầu nhịp nhịp cái roi, với giọng thật bình
tỉnh ngọt ngào, bà kể tội từng đứa, răn dạy kèm theo vài cái roi
làm đứa nào đứa nấy nước mắt ròng ròng mà tai thì vễnh nghe lời
kể tội hấp dẩn cho "nạn nhân" kế tiếp, ngay cả "nạn nhân" cũng
không nhớ là mình bị tội gì. Đánh đòn chung cho đỡ mất thì giờ
và chắc cũng để nhắc nhở lủ con cái quyền lực của bà, vì công ăn
việc làm, bà phải giao hết chuyện ăn học, giáo dục lủ con cho ba
tôi. Biết bao nhiêu chuyện.... Khả năng tổ chức của bà được thi
thố từ ngày thường cho tới ngày giỗ, ngày Tết, lễ hội...
Có một điều làm tôi bận tâm nhất khi tôi đã làm mẹ, biết
chăm sóc cái gia đình nhỏ bé của tôi, là nhớ lại những lần ba
dẫn chúng tôi đi chơi hoặc ở Đá Ông Địa, hoặc ở Rạng, không bao
giờ có mặt má tôi. Lúc đó chúng tôi coi đó là một điều tự
nhiên.
Sáng chủ nhật đẹp trời nào đó, ba tuyên bố buổi nay
cho mấy đứa nhỏ đi tắm biển ở Đá Ông Địa. Thế là chúng tôi rộn
rã thay cái quần phồng, hai chị lớn thì mặc thêm áo cánh ở
trong. Má tôi mướn xe lam từ lúc nào không biết, xịch xịch đậu
trước nhà, chúng tôi dành nhau ngồi ngoài, không ai quan tâm là
má có đi hay không. Buổi trưa, tắm, chơi, rượt bắt cua bắt còng
đã đời, chị Hao Cao dọn cơm vắt ăn với muối mè hay thịt ram
mặn.
Món cơm vắt của má tôi lúc bấy giờ ngon không thể
tưởng. Món này bao giờ cũng tự tay bà làm. Cơm gạo dẻo có trộn
chút muối, một cái khăn trắng mỏng đủ ướt. Bà trải khăn ra mâm,
đổ cơm nóng lên khăn, cuốn nhanh lại, dằn, bóp chặt cho đến khi
ổ cơm vắt tròn đều dài độ gang tay, đường kính độ sáu centimet.
Mỗi ổ bánh được gói chặt bằng lá chuối đã được hơ nhanh qua bếp
nóng. Đến chừng ăn thì cắt ra từng lát như bánh tét. Đôi lúc,
bà nổi hứng, bà vắt cho mỗi đứa con một vắt, gói riêng cho từng
đứa. Đó là lúc chúng tôi sung sướng nhất khi được chị Hai Cao
đưa chia những ổ cơm vắt nho nhỏ xinh xinh, chỉ của riêng mình.
Ăn ngon, tắm mát, đùa giỡn thỏa mãn nhưng không ai trong
chúng tôi thắc mắc là: Má đâu? Sao má không ra đây nghỉ ngơi
như chị em mình, như ba? Má không cần những ngày nghỉ ngơi
sao? Mặc dù mọi việc đều do bàn tay sắp xếp của má! Âm Thầm!
Làm sao má chúng tôi có thì giờ tham gia vào những giây phút vui
chơi của các con? Cả ngày! Nhưng mọi điều kiện để cuộc vui
được toàn mỹ đã do má tôi chuẩn bị chu toàn. "Lòng Mẹ" của bà
là thế đó! Một đề nghị của ba tôi dành cho lủ con là bà nhanh
chóng chuẩn bị, hưởng ứng hết lòng... chỉ cần giúp lủ con học
giỏi thêm, tẩm bổ đầy đủ hơn, vui chơi thoải mái hơn, phát triển
toàn diện hơn là bà không ngại khó nhọc, không ngại tốn kém.
Sau năm bảy mươi lăm, chỉ là một công chức nhỏ, ba chúng
tôi không phải đi ở tù như những người khác, nhưng ông xin nghỉ
việc, không muốn cộng tác với chính quyền mới. Với ông chồng
chán thời, với lủ con học hành bấp bênh, má chúng tôi một mình
lèo lái nhịp sống gia đình trong cơn sóng gió chung của toàn
miền Nam. Mặc cho ông chồng mang nặng tư tưởng phản động tránh
né chính quyền, tránh né hội họp. Mặc cho lủ con bất bình ngấm
ngầm chống đối, tưởng không thể đội trời chung với quan thày
Cộng Sản. Một mình má tôi bắt tay làm hòa với những hống hách
theo thời của người hàng xóm bỗng chốc trở thành tổ trưởng, tổ
phó. Một mình bà thu xếp trả công cho hàng xóm đi làm thủy lợi
thay lủ con sáu đứa. Một mình chạy chọt cho thằng con trai út
không bị đi nghĩa vụ qua Campuchia...
Má chúng tôi âm thầm ôm nổi buồn thế sự của ông chồng đã
một mình về quê dùng bàn tay thư sinh biến ruộng hoang thành
mảnh vườn làm căn bản cho lủ con tìm đến nương thân khi tình thế
đi vào đường cùng. Âm thầm cưu mang những ý tưởng phản động
ngấm ngầm của lủ con trước bao bất bình. Âm thầm tìm mọi phương
cách chống đỡ, xoay trở, bao che để chồng mình, con mình không
phải trực tiếp đối đầu với chính quyền mới.
Sống với Cộng Sản, sống với bất bình, gây gổ với cấp
trên, chống đối, cứng đầu,... chẳng làm được gì, chẳng dám có
ước mơ vượt biên như mọi người vì lủ con hiểu rõ hoàn cảnh kinh
tế gia đình. Để rồi một cuối tuần, lủ con như thường lệ, về nhà
để được tẩm bổ, bà tuyên bố: "Má lo được một chỗ đi vượt biên,
các con ai muốn đi trước? Đi được một đứa là lần lượt đứa này
lo cho đứa kế."
Chuyến đó không thành, nhưng ý tưởng vượt biên tìm đường
thoát đã mở đầu cho chục chuyến về sau, bao nhiêu vốn liếng làm
ăn của bà mất hết đợt này sang đợt khác. Cuối cùng thì lủ con
trốn thoát. Lủ con ra đi, không một quay lưng nhìn lại để nhận
mang theo hình ảnh má mình đứng dựa gốc cây me nhà ngoại, cố
nhón chân nhìn theo bóng ba đứa con gái mất dần mất dần trên
đường xuống bãi chiều hôm đó, mất và không bao giờ còn gặp được
nữa. Lủ con ra đi không một vấn vương về sự mất mát đớn đau mà
ba má mình sẽ nhận chịu.
Bây giờ, trong những lần quay quần bên nhau đốt lò
hương cũ, nhìn lại những sinh hoạt trong cái tiểu gia đình của
chính mình, chị em chúng tôi thường lắc đầu bái phục má chúng
tôi, thắc mắc không hiểu làm sao bà có thể đảm đương nhiều chức
vụ cùng một lúc: Bộ trưởng bộ Kinh Tế, bộ trưởng bộ Ngoại Vụ,
bộ trưởng bộ Nội Vụ, bộ trưởng bộ An Sinh, bộ trưởng bộ Y Tế, bộ
trưởng bộ Xã Hội.... Ba tôi tiếng là thủ tướng nhưng chỉ được
tài đề ứng, tài bàn... sau đó là má tôi lãnh hết, thu xếp hết,
không cần bàn tới bàn lui, trong sự tin tưởng tuyệt đối của thủ
tướng và toàn dân. Hai cánh tay vươn những ngón thon dài của bà
vẫn mãi mãi cố gắng thu xếp mọi ước muốn nhỏ lớn của lủ con đã
thành gia thất, sống xa bà ngàn dặm, cho đến ngày hôm nay, mọi
sự. Thế mà chúng tôi, không ai thực hiện nổi, không ai cố gắng
tận lòng để những ước mơ của bà được hoàn mỹ, không ai thành bác
sĩ, dược sĩ, giáo sư để bà mở phòng mạch, tiệm thuốc tây, trường
học.
Sống trong ngành giáo dục lâu năm, tôi mới nhìn nhận
rằng má chúng tôi là một nhà giáo dục thật là thực tiển, không
cần tốt nghiệp một trường Sư Phạm nào, không cần nghiên cứu,
không cần tham khảo một quyển sách nào. Cùng với chồng, bà biết
tạo đủ mọi điều kiện để lủ con được lớn lên trong không khí gia
đình thuận hoà êm ấm, tuổi trẻ phát triển vững bền và tự tin,
một nền tảng căn bản cho mọi đứa trẻ bất cứ giàu nghèo.
Bà không giỏi đan thêu, bánh mứt, nhưng chúng tôi, bốn
người con gái của bà khéo léo chuyện nội trợ không kém một người
bạn nào. Học nữ công ở trường, học lóm bạn bè, học qua dì Chín,
chúng tôi muốn làm món bánh, đan cái áo, thêu cái khăn bàn, móc
cái màn cửa, may cái áo kiểu mới... chỉ cần xin tiền là bà sốt
sắng cho, không hỏi tới hỏi lui. Tôi nhớ hồi năm học lớp chín,
tôi mới học may trong những giờ nữ công với cô Nhan, tôi tìm lục
trong tủ ra một sấp vải má tôi mua để dành may áo Tết. Tôi loay
hoay cắt may một cái áo bà ba cho má, vạt áo dỉnh ra ngoài, cổ
áo chật phải sửa tới sửa lui thành rộng tênh... vậy mà bà mua
thêm hai xấp vải nữa biểu tôi may cho bà. Quả thật, đến cái áo
thứ ba thì áo đẹp không thua gì đưa tiệm may. Và tôi trở thành
thợ may của gia đình, đồ bộ, áo dài, quần tây, pyjama... cở nào
tôi cũng thử tài, xấu có, đẹp có, nhưng ai ai cũng thỏa mãn.
Kinh tế gia đình có xuống dốc đến độ nào đi nữa thì cái máy may
hiệu Singer bao giờ cũng hiện diện trong gia đình chúng tôi.
Sau năm bảy mươi lăm, tình hình kinh tế cả nước xuống tận cùng,
nhờ cái khéo léo may vá tự học và cái máy may Singer, có lần tôi
dự định mở tiệm may kiếm sống qua ngày. Cái khéo léo của chị em
chúng tôi không do má dạy bảo nhưng do má tạo điều kiện tốt để
phát huy và phát triển.
Có một lần, tôi và người chị kế than với nhau:
- Bác
Chỉnh gái ở nhà, tụi Minh Thảo, Minh Thu, có chuyện gì cũng hỏi
ý má nó. Bà Minh Thảo rả đám với bồ, bác Chỉnh gái dỗ dành. Má
mình đâu có thì giờ như vậy.
- Còn
Thím Sáu Sang thì đan thêu thiệt đẹp. Ước gì mình cũng có một
người mẹ khéo léo, thân mật lo cho con như vậy.
Thật bất công với má tôi! Chúng tôi không biết rằng
thím Sáu Sang khéo léo đan thêu nhưng hai người con gái của Thím
chẳng quan tâm gì đến chuyện nữ công gia chánh, vua diện của phố
Ba Mươi Căn. Thím khéo nhưng thím không tạo điều kiện cho con
cái học hỏi, tập tành. Chúng tôi không quan tâm đến cảnh vợ
chồng bác Chỉnh gây gổ nhau ngày này qua ngày kia đến nổi tụi
con bác phải qua chơi lì nhà tôi, không muốn về nhà. Tụi nó đâu
được má nó dẫn đi xi nê, đi coi cải lương. Đâu được má nó cho đi
Sài Gòn chơi, lên dinh điền Tánh Linh nghỉ hè, lên Ma Lâm nghỉ
hè,... hưởng những mùa hè tràn ngập tiếng cười trong tình thương
gia đình, khi ở núi rừng Núi Ông Tánh Linh, khi ở miền biển
ngọt Hòa Đa. Đâu được má tìm đủ mọi cơ hội để lủ con có một
tuổi thơ hoa mộng bình an... ngay cả những khi nền kinh tế gia
đình đang xuống dốc trầm trọng. Tôi tin là những người con của
chú thím Chỉnh không ai học hành tới nơi tới chốn, người bỏ đi
tu, người uống thuốc độc tự tử hụt, người thất tình bỏ nhà ra
đi, vợ chồng đổ vỡ vì tuổi thơ của họ không được lót bằng hoa
thơm, bằng sự bình an tâm tư.
Như thế đó, hợp tâm với chồng, má tôi đã cho chúng tôi
một tuổi thơ an bình, chúng tôi được nuôi dưỡng bằng tình thương
chân thật và tận tụy. Chúng tôi tin tưởng rằng tình thương chân
thật và tận tụy chúng tôi được thừa hưởng đó, là một gia tài to
lớn vô hình, vô giá, làm hành trang cho cuộc đời chúng tôi.
Những người con của Ông Bà đang cố gắng san sẻ cái diễm phúc đó
với cái gia đình nhỏ bé của mình để tuổi thơ của các con cũng
được lót bằng hoa thơm. Thật đúng như Sidney Harris đã nói:
"Ngoài những lề lối, nề nếp sống ra, kỷ niệm đẹp (tốt) là những
gì tốt nhất, ta có thể truyền đạt cho con cháu". Và thành ngữ
"đồng vợ đồng chồng tát biển Đông cũng cạn" cũng rất đúng trong
nhịp sống gia đình chúng tôi. Vợ chồng đâu cần phải có chung sở
thích, học vấn đâu cần phải ngang ngữa nhau... chỉ cần đồng tâm
đồng lực, đi cùng hướng thì khó khăn nào cũng vượt qua được.
Võ Thị Điềm Đạm
Trở về Trang Chính |