|
Bình Minh
Mũi tên trên màn ảnh trước mặt chỉ đến vùng
Chiang Mai cũng vừa lúc tiếng reng thanh vui đánh thức mọi
người. Chờ cả tiếng đồng hồ! Tôi mừng rỡ, kéo ngay màn cửa sổ
lên, nhìn ra. Phải tận dụng cái diễm phúc hiếm hoi này! Những
chuyến máy bay trước, người soát vé ở quầy bao giờ cũng ưu ái
dành hàng ghế giữa cho cả bốn chúng tôi được ngồi bên nhau. Bây
giờ, tôi về một mình, vui mừng cảm ơn ngay khi cô soát vé hỏi
tôi có muốn ngồi bên cửa sổ không. Cả một vùng không gian mờ mờ
tối, thật bao la, thật huyền hoặc khi ở cuối chân trời hiện lên
một đường dài mảnh ưng ửng sắc cam mà lại đượm chút nâu nâu.
Mắt tôi dán chặt khung cửa sổ nhỏ tí, chờ, chờ đường dài cam
sáng dần và lớn dần nơi vịnh Andaman Sea. Giống như hồi nhỏ,
tôi nằm trên bộ ván ngựa vân nâu vàng trong phòng khách, mắt dán
chặt lên cây kim phút trên chiếc đồng hồ có quả lắc vàng đong
đưa và đánh tong tòng mỗi nửa giờ, đánh tong tòng tóng tong mỗi
một giờ. Tôi canh, canh cây kim phút nhính. Vậy mà lần nào
cũng vậy, tôi vừa quay lưng nhìn chỗ khác là cây kim phút ”thừa
cơ nhính lẹ”, nó lừa tôi.
Lần này tôi lão làng và kiên nhẫn hơn nên
không bị ”lừa” như hồi còn bé. Chân trời rực sáng dần, ngay
truớc mắt tôi, hừng hực, không dấu diếm. Mây chưa kéo đến để
chực làm vẩn đục khoảng không gian tinh khiết sớm mai. Một
khoanh tròn như cái bánh cam tiến nhanh đến nơi tôi ngồi, loa
mắt, nhìn lần nữa. Cứ mỗi lần nhìn chăm chăm là khoanh tròn màu
cam tươi đó lại nhấp nha nhấp nhửng muốn ”lao mình” đến tôi.
Khoanh tròn càng lúc càng lớn, lớn hoài cho đến khi tôi mõi mắt,
tôi chán ”nó”, tôi không còn thiết tha coi ”nó” lớn cở nào thì
cả bầu trời cũng đã hừng hừng sáng.
Hải Quan
Khá, khá lắm! Hai người mặc dân phục và một
người mặc quân phục với dáng điệu thẳng cứng, gương mặt như đang
nghe lời vị chủ tịch Đảng đọc huấn từ, đứng đón khánh từ phi cơ
vừa bước ra khỏi đường nối giữa máy bay và tòa nhà phi trường,
không đáng để tâm! Khá ở chỗ là thủ tục nhập cảnh không mất
nhiều thì giờ nữa. Chỉ khá thôi là bởi thì là cách đây ba năm
tôi đã đọc báo thấy lời vị chủ tịch thành phố Sài Gòn cho biết
là sẽ mở khóa học cười cho các nhân viên phi trường vậy mà bây
giờ phim cũ quay lai, cũng toàn ánh mắt không chút thiện cảm chứ
nói chi đến một mỉm cười. Nghiệm ra, thấy cũng đúng thôi. Cái
bảng với hàng chữ ”Đừng để một văn bản nào khác trong chiếu
kháng khi trình”, treo chần dần trước mỗi hàng chờ.
Và thì, được vào học trường Công An, rồi được bổ nhiệm làm
ở phi trường Tân Sơn Nhất, rồi được bổ nhiệm ngồi vào quầy kiểm
tra chiếu kháng nhập cảnh, là tốn biết bao ”công sức” của cha mẹ
vậy mà nhà nước nỡ lòng nào treo tấm thông tin ân cần tĩ mĩ như
thế, lỡ có người tin thiệt thì sao. Làm sao mà cười nổi!
Anh công an hỏi tôi, dĩ nhiên giọng Bắc,
nhưng khá nhẹ nhàng:
- Chị về lần thứ nhất?
- Không, năm hay sáu lần chi đó, tôi không
nhớ.
Hỏi lạ vậy, cứ
nhìn trong sổ chiếu kháng thì biết mà, mỗi lần về là một trang
có dán chiếu kháng, anh đã lật qua lật lại từng tờ, kỹ lắm mà.
Anh công an hỏi tiếp:
- Chị về thăm gia đình?
- Vâng.
Hỏi lạ chưa, thì tôi đã
khai là tôi về thăm gia đình trong đơn xin chiếu kháng nhập cảnh
và cũng đã khai như thế trong mẫu đơn nhỏ nhỏ được các cô Tiếp
Đãi Viên Hàng Không Việt Nam phát trước trên máy bay.
- Chị nhớ giữ kỹ phần này nhá, để khi trở ra
có mà trình. Còn phần này thì hải quan giữ.
- Vâng.
Ủa, sao tôi lại trả lời
”vâng”, giọng Bắc?
Muốn lấy lòng công an hả?
Hèn thế! Hay là bản tính nhập gia tùy tục Trời ban cho? Chưa gì
mà đã tùy tục! Nhập thì nhập nhưng phải chừa mấy cái hủ tục
nghe chưa!
Tôi được cái tính “làm lơ”. Lơ kẹp vô chiếu
kháng một “văn bản” khác. Chưa bao giờ! Năm chuyến về, năm
chuyến ra, hai lần bị đưa vô phòng kín, tháo tung cái va ly đã
cài chốt được là do tôi đặt thân hình gần sáu mươi ký lô lên để
ép. Tôi vẫn lơ. Bắt tôi tháo tung va ly thì tôi nhẩn nha xếp
lại. Có giỏi thì giữ chân tôi lại đi, chuyến may bị trễ, lỗ ai
cho biết. Không cho tôi đem món đó hả? Thì tôi đưa tặng anh
bảo vệ. Mấy người khác bĩm môi bảo rằng tôi qua lọt hải quan mà
không cần kẹp gì bên trong chiếu kháng vì bạn song hành của tôi
thuộc dân mũi lỏ, không ai muốn phiền hà tôi. Lần này, một thân
một mình, tôi cũng lơ, lơ hết mấy câu hỏi ân cần, lơ mất câu hỏi
câu giờ cho cái đầu óc chậm chạp hay quên hãy mau mau bừng
tĩnh. Lơ luôn! Cứ mãi ngờ nghệch là an toàn. Mà an toàn
thật! Lần này thì tôi có quyền hênh hoang với bạn bè.
Trong Dòng Xe
Cảnh nhà neo đơn, tôi đã biểu đừng đưa đừng
đón, tôi tự tìm taxi về. Vậy mà cô em nhỏ thua tôi hơn một con
giáp, coi tôi khờ khạo, tin rằng người chị sẽ trở thành con mồi
ngon ngơ ngáo sau hơn hai mươi lăm năm không sống ở Việt Nam.
Chưa chắc ai tiến bộ hơn ai!
Cô em không thích đi xe hơi có máy lạnh nên chỉ lên phi trường,
kêu sẵn taxi, bỏ tôi vô taxi, cho tài xế địa chỉ nhà. Còn cho
tài xế địa chỉ nhà nữa, nhà của ba má tôi, ngôi nhà tôi ở bao
năm trước! Cho nên tôi đơn thân độc mã trên chiếc taxi bảy chỗ
ngồi. Tài xế đúng là dân nam cởi mở, tính tôi khó ngồi yên
lâu, thế là khi xe vừa ra khỏi khuôn viên phi trường, câu chuyện
dòn tan.
- Chà, trúng giờ trưa tan sở nên xe nhiều
quá.
- Cả ngày cả đêm chị ơi.
- Cả đêm?
- Cả đêm, dân chơi đêm, dân làm đêm…
- Xe hơi cũng nhiều đó chớ, nhiều hơn ba năm
trước.
- Nhưng đường xá chật quá, phải len lỏi, chạy
mệt lắm chị.
- Kiểu này, Công An Công Lộ làm việc mệt
nghỉ.
- Làm buổi sáng đủ tiền xài cả ngày rồi, làm
nhiều chi cho mệt chị.
- Cái này là anh nói chớ không phải tui à
nghen.
- Chị về mấy lần rồi?
- Năm lần. Nếu so với lần đầu cách đây mười
sáu năm thì số lượng xe Honda hồi đó bằng số lượng xe hơi bây
giờ, còn số lượng xe đạp hồi đó thì bằng số lượng Honda bây giờ.
Rõ láu táu, không ai hỏi
mà tự khai!
- Xe hơi càng lúc càng nhiều mà đường thì
không mở rộng…
- Tôi nghĩ cũng khó lắm anh. Chỗ đâu mà mở
rộng đường. Chẳng lẽ mở đường sát tới cửa nhà, chẳng lẽ đập nhà
dân. Cũng tội chính phủ, chắc muốn mở rộng đường mà không nỡ
đập phá nhà dân.
- Nghe tới chữ mở đường, quy hoạch là dân
chúng xanh mặt. Ra cái án quy hoạch mở đường, chỉ ra thôi là
dân chúng cứng đơ, không bán, không sửa chữa, không nâng cấp chi
được, chỉ có nước chờ, chờ đời cha qua đời con. Mà chờ năm năm,
mười năm, chờ chừng nào nhà nước rảnh, chờ chừng nào nhà nước có
tiền.
- Nhà nước giàu mà.
- Cán bộ là nhà nước mà chị.
- Thì đúng thôi.
- Mở đường không có lợi cho nhà nước. Tiền
bạc để đầu tư những công trình đẻ ra tiền. Mà khó lắm chị.
Đường nào cũng có nhà cán bộ, mở đường là động mồ động mả.
- Vậy thì cách tốt nhất là mở đường hầm.
- Chị nói giỡn! Cầu xập còn có đường thoát.
Hầm xập thì chỉ có nước kêu trời.
- Ở các thành phố lớn người ta mở đường hầm
hà rầm, có cái nào xụp đâu.
- Chuyện đó tui không rành. Nhưng ở đây, mở
đường hầm là chết người ở trên, cả người ở dưới. Thôi… thôi…
chẳng thà chịu chạy đường chật vậy mà yên.
- Công ty, văn phòng, hàng quán sao mà ngàn
ngàn, coi bộ làm ăn tự do dữ a.
- Đúng đó chị, bây giờ tự do lắm chị.
Chết bà, gặp dân thứ
thiệt, may mà mình cảnh giác, không láu ta láu táu…
hừm… nghe vậy mà không phải vậy… đừng có tưởng bở!
- Anh muốn nói tự do…
- Thì tự do xả rác, tự do đái bậy, tự do chạy
lấn đường, tự do dành dựt, tự do cướp dựt…
Lên Đường
Hai chị em sửa soạn ra ngân hàng, sau đó mỗi
người đi mỗi ngã. Chỉ chiếc xe Honda Cup màu xanh đậm, đời
trước hai ngàn thì phải, cô em nói:
- Chị chạy xe này.
Tôi phản đối ngay:
- Cho Tư chạy cái xe Dream đi!
- Xe cộ bây giờ nhiều lắm, xe Dream nặng nề
mà chị thì chạy lạng quạng.
- Bảo đảm tay lái còn ngon lành mà! Chưa già
lắm đâu!
- Hơn nữa… he… he… chị chạy xe này… he… he…
không ai thèm dựt. Mất xe thì cũng tiếc, nhưng không bằng mạng
người. Chỉ sợ tụi nó giựt xe lại gây tai nạn cho mình, sợ tụi
cướp vì cái xe mà sanh lòng tham hại mình. Chị ở nước ngoài về…
- Bộ mạng người nước ngoài đáng cẩn thận hơn
sao?
- Chị bị chuyện gì, lơ ngơ một mình ngoài
đường càng thêm rắc rối.
Thôi thì chịu phận lơ ngơ! Chưa kịp đeo lên
vai cái giỏ da màu kem yêu dấu luôn luôn theo sát bên tôi, cô em
lại nhắc:
- Chị đừng đeo giỏ.
- Tư đeo qua vai kia mà. Làm gì tụi nó giựt
được.
- Tụi nó muốn giựt là giựt, mình té kệ mình.
Tụi cướp bây giờ bạo lắm.
- Vậy chớ tiền để đâu?
- Túi quần là bảo đảm.
Kinh nghiệm những lần trước, kỳ này tôi xếp
vô va ly vài cái quần có túi trước, túi càng sâu càng tốt, không
cần”mốt mai” gì hết. Thế là, điện thoại cầm tay ở túi trái,
tiền ở túi phải, cái passport màu đỏ to quá phải nhét vô lưng
quần, quăng cái giỏ với trăm thứ lỉnh kỉnh ở nhà. Không có cái
giỏ, tôi như mất đi một phần thân thiết. Từ nay tôi đành tay
không mà nhỡn nhơ đường phố, nếu cần thì… xách cái bị nylon.
Đời sao hết thẩm mỹ! Thật ra cũng có nhiều người mang bóp, đeo
xách lý le ngoài đường phố lắm chớ. Chắc mấy người đó điếc nên
không biết sợ súng. Vẫn còn ấm ức, tôi lẩm bẩm:
- Vậy chớ công an làm gì, cứ ra đường là sợ
cướp giựt, cứ ra đường là sợ lừa đảo.
Tai Nạn
Dáng điệu như dân buôn ngoài đường, hơi rút
vai, tôi lật áo thun, rút cái pass port đã lận kỹ trong lưng
quần, lật ra. Quái! Không phải mặt mình ở trang đầu. Lật từng
trang, lắc đầu, đưa cho cô em, giọng tôi hơi hoảng:
- Cái passport này không phải của Tư.
- Cái gì? Rồi, tai nạn rồi! Sao chị lại lấy
lộn của người ta? Còn cái pasport của chị đâu?
- Tư đâu có biết. Hải quan đưa Tư chứ Tư đâu
có tự lấy. Nhưng… ông công an ở hải quan không thể đưa lộn
được. Ông giải quyết từng người mà.
Cô em ngắm nghía hình người đàn ông lạ hoắc
trong passport, giọng nửa chọc nửa lo:
- Chà, coi mặt ông này ngầu quá, bụi quá.
Chuyện này không nhỏ đâu. Chị có nhớ khi xếp hàng chờ làm thủ
tục nhập cảnh, ông này đứng trước hay sau chị?
- Không trước cũng không sau. Nhưng Tư nhớ
ông này đi cùng chuyến máy bay với Tư. Bởi gương mặt ngầu ngầu,
mái tóc dài cột túm phía sau khi ông đi lên đi xuống nên Tư nhớ.
- Ông này người nước nào? Chừng nào thì ông
phải ra khỏi Việt Nam?
Coi kỹ cái passport bên ngoài thì giống mà
bên trong thì xa lạ, từng trang, từng trang, giọng tôi hơi lo:
- Cũng là người có quốc tịch Na Uy, nhưng tên
nghe như người Mỹ Latin. Dấu in đã tới Thổ Nhĩ Kỳ, Tàu, Anh, Ý,
Tiệp Khắc, Áo, Ba Lan… ôi, đúng là dân-du-lịch-ba-lô đây. Ông
sẽ rời Việt Nam bốn ngày trước Tư.
- Cũng đỡ, như vậy ông sẽ giao trả passport
của chị ở hải quan. Nhưng… mệt… mệt rồi! Em phải đi với chị ra
phi trường, không thể chờ. Hai ngày, không biết người ta còn
nhớ chị không đây. Không biết ông đó có giữ passport của chị
không đây. Cũng chưa chắc là ông này giữa passport của chị.
Phiền… phiền!
- Tội nghiệp ông này. Chắc chắn ông sẽ ở
khách sạn, phải trình passport… rồi làm sao đây? Nhưng không
thể lộn được. Hải quan giải quyết từng người một mà. Có thể
liên quan đến nhiều người! Cũng may hôm nay Tư cần passport để
ra ngân hàng, còn nếu không là đến ngày ra phi trường, trình pas
port, mới té ngửa.
Ngồi sau lưng cô em trên đường xa lộ xuống
Sài Gòn, đầu óc tôi bắt đầu làm việc:
Chắc tại cái tội làm lơ, không thèm nhét một “văn bản” nào khác
vô passport nên hắn ghét đây, hắn cho mình một bài học đây. Mà
như vậy là liên lụy đến nhiều người. Vô lý! Vô lý! Hải quan
giải quyết passport từng người mà. Nhưng biết đâu… biết đâu họ
có cách dằn mặt những tên cứng đầu, làm lơ như mình.
Già Mà Ngớ
Trưa nắng chang chang, không nón bảo vệ,
không khăn che miệng, không găng tay cao qua cùi chỏ, không vớ,
chỉ võn vẹn cặp kính mát, tôi gồng mình chịu… cháy. Hôm nay là
ngày thứ ba tôi có mặt ở Việt Nam thế mà tôi vẫn chưa làm quen
lại những thủ tục trước khi ra đường. Đó là nón, khăn che
miệng, nếu che cả cổ càng tốt, găng tay cao quá cùi chỏ, kính
mát. Khăn che miệng, chỉ miệng mũi thôi và kính mát thì tôi
chấp nhận, còn những thứ kia thì… no thanks! Ấy cho nên cái
trán, bàn chân, bàn tay và hai cánh tay vốn dĩ đậm màu đã bắt
đầu thành than. Chỉ sau hai ngày! Ơi…
nhớ thủa nào cùng nhỏ bạn thân trên chiếc PC thong dong đường
phố, tóc thả dài lay lay trong gió chiều, khoái chí giả bộ làm
ngơ những ai ngoái đầu nhìn lại… Bây giờ thì các cô chẳng được
có người ngoái đầu nhìn lại vì cô nào chạy xe cũng trang phục
như sắp sửa đi cướp nhà băng. Nét thơ mộng biết sao tìm được
trong lòng Sài Gòn của tôi!
Tôi không ngờ chú công an trẻ măng gật đầu
ngay khi tôi trình bày lý do muốn đi vào phía trong, nơi chỉ
dành cho nhân viên và hành khách đang chờ qua đợt kiểm tra hành
lý, hoàn tất thủ tục nhập cảnh. Tôi đưa passport cho một nhân
viên sau quầy, trình bày, xin được gặp ngưòi có thẩm quyền giải
quyết chuyện này.
Vừa lật trang đầu của sổ passport, ông ấy kêu
to:
- Đây rồi, đây rồi, chính ông này rồi, ông có
tóc dài cột túm phía sau nên dễ nhớ. Ông ta đến trả lại cái
passport của chị mấy ngày nay rồi. Sao bữa nay chị mới đến?
Mừng húm, tôi trả lời:
- Cũng may là tôi cần passport nên mới khám
phá ra hôm nay. Còn không, đến ngày đi, đến phi trường mới biết
không phải passport của mình, chừng đó mới quýnh quýu. Anh có
passport của tôi đây không?
- Chúng tôi không có ở đây, chị phải lên công
an hải quan. Công An Hải Quan giữ. Sao chị lại lấy passport
của ông ấy?
- Các anh đưa cho tôi chứ làm sao tôi tự lấy
được. Nhưng làm sao lộn được khi công an hải quan giải quyết
từng người?
- Lộn là lộn ở đây.
À ra thế! Thôi nhớ rồi! Khi đưa va ly cho chạy
qua dây cuốn, người kiểm soát cứ nhận passport, chờ hành lý đi
qua khỏi rồi trả lại, không cần ngó mặt người nhận có phù hợp
hình hay không. Mà người nhận cũng hấp tấp, va ly qua cửa ải
cuối cùng được an toàn nên cứ dơ tay nhận passport màu đỏ giống
in hệt của mình, nhét vô giỏ, xong, thủng thẳng ra cửa. Vậy mà
tôi nghi ngờ công an hải quan mưu mô làm khó dễ kẻ “làm lơ”.
Xin lỗi! Xin lỗi!
- Anh chỉ dùm tôi đường lên phòng công an hải
quan.
Đúng là nơi tôi đã làm thủ tục nhập cảnh! Lại
phải trình bày lần nữa, vấn đề coi bộ lạ với những người đang có
ca này. Quang cảnh nơi đây có vẻ nghiêm khắc, lạnh lùng. Tận
tâm, họ phải gọi điện thoại đi nhiều nơi. Cuối cùng, một cậu
rất trẻ, đến, nói, giọng nam:
- Chúng tôi đang quản lý passport của cô.
Giật mình, hơi khớp khi nghe chữ quản lý. Tôi
hỏi liền:
- Quản lý là gì?
Đôi mắt còn trong xanh của anh chàng công an mở
to, hơi bất bình vì câu hỏi vừa ngơ ngáo vừa vô duyên của người
đàn bà đáng tuổi mẹ mình. Cậu ráng lấy vẻ ôn hoà, nhìn thẳng vô
mắt tôi, đo lường xem tôi hỏi thật hay đùa, nói:
- Là chúng tôi đang giữ pass port của cô.
Lòng nhủ bụng, sao không nói giữ mà nói là quản
lý, hừm… háng rộng!
Tôi hỏi tiếp:
- Vậy em cho cô nhận lại được không?
- Cô phải xuống phòng tiếp dân để nhận. Người
giữ passport của cô không có ca làm bây giờ, cháu đã gọi điện
cho anh đó, anh trên đường đến đây.
- Phòng tiếp dân là phòng gì?
Lại hỏi ngu ngơ! Lại mở to mắt nhìn! Anh chàng
công an hải quan kiên nhẫn hướng dẫn đường xuống phòng tiếp
dân. Miệng lẩm bẩm… phòng tiếp dân… phòng tiếp dân… xuống hết
cầu thang cuốn, đi ra khỏi khu vực, quẹo phải… chết bà… phòng gì
ta… phòng gì ta? Chạy ngược lên, hỏi:
- Hồi nãy em nói cô sẽ tới phòng gì?
Mặc kệ những đôi mắt nửa trêu cợt nửa tội
nghiệp, tôi lại lẩm bẩm… phòng tiếp dân… phòng tiếp dân… gần lối
đi vào của hành khách sẽ lên máy bay… phòng tiếp dân…
- Chị đưa passport cho tôi.
Giật mình, tôi quay lại. Cậu thanh niên mặc
thường phục, cũng rất trẻ, cũng nói giọng nam, hơi hối hả, vừa
nói vừa như muốn giựt cái passport tôi đang cầm trên tay. Một ý
tưởng bén ngay trong đầu tôi: tiền trao cháo múc. Tôi lắc đầu
mà trong bụng hơi hơi tự xấu hổ vì cử chỉ nghi ngờ của mình, trả
lời:
- Chú em phải đưa passport của tôi.
Quả thật, cậu ta hơi bực mình vì tôi tỏ thái độ
nghi ngờ. Nhập gia tùy tục mà! Phải
biết nghi ngờ, phải biết đề phòng mới mong sống sót! Hay cậu ta
bực mình vì tôi không xuống giọng? Giọng cậu ta khó
chịu rõ ràng:
- Chị đừng lo, không ai lấy passport của chị làm
gì đâu. Tôi kiếm nhà chị hai ngày nay mà không ra, chị khai địa
chỉ nhà sai, chị khai gian.
Nghe hai tiếng “khai gian”, các đường gân mặt
bắt đầu căng, nóng, tôi cáu, trả lời dấm dẳng:
- Tôi không khai gian, đó là số cũ, địa chỉ thay
đổi số mới nên tôi không biết.
- Đáng lý chị phải trả tiền xăng cho tôi.
Không khí bỗng dưng căng thẳng giữa tôi và cậu
công an này. Nhận được cái passport của mình, chắc ăn, tôi
nghênh mặt, trả lời:
- Chú em cần bao nhiêu? Vài trăm đô?
Rõ là giận mất khôn, lỡ hắn ta ừ thì sao? Tiền chùa sao!
Anh chàng công an trẻ, người nam lắc đầu, bỏ
đi, chắc chán cái bà Việt Kiều đanh đá này.
Sau Lưng Những Người Đàn Ông Lạ
Tôi đã quyết định là sẽ sống “bụi đời” trong
lần này. Nghĩa là dùng phương tiện giao thông công cộng, ăn
uống hàng quán bình dân, ăn mặc xềnh xoàng… để dễ mở to mắt,
vểnh rộng tai, hỉnh mũi hít sâu… Cho nên mỗi khi có việc xuống
Sài Gòn, tôi đều đi xe buýt, đến trạm gần đó, đón xe honda ôm
tiếp tục. Cũng nhờ tôi cố ý tỏ ra ta đây rành Sài Gòn khi nói
địa chỉ và cũng chẳng muốn trả giá chi cho mệt nên bao giờ cũng
vui lòng cả hai, tôi và người chạy xe ôm. Hay một điều là tôi
luôn luôn dùng tên đường cũ thế mà hầu như tài xế honda ôm nào
cũng biết. Còn tên đường mới, những đường lớn thì tôi biết,
những đường nhỏ, trăm ngàn đường nhỏ, là tôi chịu thua. Những
cái tên hoàn toàn lạ quắc lạ quơ đối với một người khá rành sử
Việt, biết yêu văn chương như tôi! Ôi… lịch sử Việt Nam hai ngàn năm văn hoá, hai ngàn năm dựng
nước giữ nước, sao “nghèo nàn” đến nổi không đủ người để đặt tên
đường nên đành phải dùng những cái tên mà chưa chắc những người
tuổi Đảng chất đầy ba lô biết được đó là ai. Nếu hỏi nguồn gốc
tên trăm ngàn con đường nhỏ đó thì chỉ có một vài người “viết
sử” biết chứ đảng viên làm sao nhớ cho hết tên những em giao
liên, những em bắn hạ được một máy bay Mỹ trong khời kỳ
đánh-Mỹ-cứu-nước, thời kỳ
hột-gạo-tẻ-làm-hai-đặng-đem-chia-cho-miền-Nam-nghèo-khổ-đáng-thương.
Những người bạn thấy tôi đi xe ôm lại nhà,
ai cũng lắc đầu, cho là tôi gan, dám đón xe ôm một mình. Sao ai
cũng đánh giá “Việt Kiều” khù khờ lơ ngơ? Sao ai cũng đánh giá
mạng sống “Việt kiều” đáng giá hơn những người dân khác? Con
người, ai ai cũng có trái tim, có khối óc, cũng đều đáng quí
đáng giữ như nhau. Xe ôm là một trong những phương tiện giao
thông “công cộng”, tôi đang sống trong lòng “công cộng” ấy…
Lần nào cũng vậy, ngồi chưa nóng yên xe là
tôi bắt đầu gợi chuyện. Nhưng gợi như thế nào để người chạy xe
ôm không cho mình ngờ nghệch? Được thôi, nếu “lố” thì cứ phịa
là: “Đã ở Sài Gòn trước bảy lăm, dọn về quê ngoài Trung quá lâu
nên thấy Sài Gòn có nhiều đổi mới…”. Thường là một lời phê bình
bâng quơ, một câu hỏi chung chung… là câu chuyện bắt đầu. Có
khi đường ngắn mà chuyện dài, cộng thêm sự “thuận khẩu” giữa hai
người, vừa trả tiền, tôi vừa “vớt vát” lắng nghe thêm được chút
“chuyện lòng”. Và rồi kết thúc bằng nụ cười thật tươi trên cả
hai gương mặt. Và rồi đôi mắt mở to khi tôi nói: “Anh mua cho
tụi nhỏ bịch bánh.
Mà cũng lạ, không ai tỏ vẻ khó chịu vì những
câu hỏi có-vẻ-moi-móc của người khách nhiều chuyện phía sau lưng
mình. Trái lại là khác! In như được hỏi thăm, được có người
lưu tâm đến việc làm của mình… là một niềm vui.
Ấy cho nên những mẫu chuyện trên xe honda ôm
bao giờ xanh mướt từ đầu đến cuối. Và dĩ nhiên là tôi tháo bỏ
khăn “bảo khẩu” , bỏ qua
mấy hột bụi lăn tăn trong phố chợ, bỏ qua khói xăng vỡn vờ trong
nắng gắt.
* * *
- Thường chạy chừng bao lâu thì lấy lại vốn
chiếc xe vậy anh?
- Xe mướn mà chị.
- Ô? Mướn vậy làm sao chạy đủ sống?
- Chắt mót cũng đủ no chị. Nhưng có cái là
tay làm hàm nhai, không bao giờ dành dụm được cái gì.
- Nếu bịnh hoạn thì sao đây?
- Tới đâu hay tới đó. Có bịnh thì ráng chịu,
rồi cũng qua.
- Chắc phải hai vợ chồng làm mới có sống?
- Vợ em ngồi bán bánh bao cho tiệm, tháng được
gần triệu bạc. Ráng cho ba đứa nhỏ đi học. Đây rồi tới chừng
tụi nó bắt đầu lên cấp hai… không biết lo sao cho xuể… bảo hiểm,
sách vở, đồng phục, bảo quản trường… chi chi cũng do cha mẹ đóng
góp. Bây giờ em mướn xe chạy ngày chạy đêm. Đến chừng tụi nó
lên cấp hai, em không biết phải chạy thêm ca nào nữa đây.
- Thời giờ đâu mà nghỉ ngơi?
- Nghỉ gần như cả ngày đó chớ chị.
- Ô?
- Thì cả ngày mà chạy được chục chuyến là may
rồi. Ngồi tán dóc với anh em chờ khách.
* * *
- Trước tui cũng có cái cup, chạy cũng đỡ. Xe
mình, chạy nhiều ăn nhiều, chạy ít ăn ít, chớ xe mướn mà chạy
không đủ trả cho chủ thì nợ chồng nợ chất.
- Xe cũ quá sao?
- Mất, chị. Mất xe tui không ức, chỉ ức công
an.
- Ô?
- Nhà ngủ, tụi nó cạy cửa. Tui đi trình công
an, tui biết ai cạy cửa. Vậy mà công an biểu: Anh chỉ nghi ngờ
thôi thì làm sao chúng tôi điều tra được. Chừng nào anh biết
chắc người lấy cắp thì lại đây báo.
Ma quỷ thần ơi!
* * *
- Chú em chở tôi lại Hai Bà Trưng gần chợ Tân
Định. Bao nhiêu?
- Chị cho mười ngàn.
- Ô… nhà thờ đẹp quá! Chú chạy vòng lại cho tôi
xem chút.
- Chà… coi bộ nhà nước cũng chịu bỏ tiền lo cho
chùa cho nhà thờ lắm đó chớ.
- Nhà nước gì… dân làm hết.
- Dân làm hết?
- Dạ… dân muốn tu sửa thì gom tiền mà sửa. Cha
muốn làm đẹp nhà thờ của mình thì kêu gọi dân trong xứ của mình
đóng góp.
- Đâu phải ai cũng có tiền dư mà đóng góp.
- Ai cũng ráng dành dụm mà làm nở mặt nở mày nhà
thờ của mình. Như giáo xứ của em… đỡ có cái là mấy người giàu
cho tiền xây sửa nhà thờ… bà con có góp thêm được bao nhiêu thì
góp.
Khôn… khôn thiệt… cho sửa
sang… cho trùng tu tự do… nhà thờ nào cũng đẹp, chùa nào cũng
lộng lẫy… nhìn qua bộ mặt Sài Gòn, ai dám bảo tự do tôn giáo ở
cái xứ Việt Nam này đang bị bóp chặt? Hừm… coi vậy mà không
phải vậy… đừng tưởng cha mẹ cho con ăn mặt đẹp là cha mẹ thương
con… hừm!
* * *
Khi tôi tiến lại hai người đàn ông ngồi trên hai
chiếc xe mà kinh nghiệm cho tôi biết họ chạy xe ôm. Thường thì
những người chạy xe ôm lanh mắt, tôi chưa kịp hỏi là họ đã chào
mời. Lần này, tôi lại gần mà không ai thèm ngó tới tôi, hai
người mãi mê nói chuyện. Tôi vừa hỏi thì một chiếc xe trông
thật tồi tệ từ bên kia đường tấp lại. Hai người đàn ông hất hàm
nói với người chạy chiếc xe cũ mèm: “Tài của mày.” Tôi đành
nhủ lòng: “Người ta nghèo, người ta
mới chạy cái xe cũ mèm, đừng bày đặt lựa chọn.” Vịn
nhẹ hông người chạy xe ôm để lấy thế ngồi lên yên xe, tự nhiên
tôi không thích cái thế ngồi này của ông ta. Người đàn ông này
khá to con nên phần yên phía sau của tôi hơi ít. Xe chạy được
vài chục mét, ông ta hơi nhích người về phía sau làm phần ngồi
của tôi càng ít hơn và dĩ nhiên khoảng cách giữa ông và tôi gần
hơn mặc dù tôi đã cố gắng ngồi hơi ngữa ra phía sau để tránh
đụng vào ông ấy. Chạy được vài chục mét, ông nhích ra phía sau
chút nữa. Người ông chạm đùi tôi. Ráng chịu đựng. Ông nhích
ra sau chút nữa. Rợn người, tôi biểu ông ngừng lại. Không giải
thích, trả tiền, không chờ thối lại, tôi quay lưng bước vài bước
ngược chiều xe đậu, dơ tay ra dấu một chiếc xe khác đang đậu ở
ngã tư gần đó.
May mà hôm nay mình không có
hứng nói chuyện. Nếu không, ông ấy tưởng… hừm… coi tui vậy chớ
không phải vậy đâu nghen… đừng tưởng bở!
Trên Xe Buýt
Trở lại chuyện đi xe buýt. Một điều chắc chắn
là những người đi xe buýt là học sinh sinh viên nghèo, người dân
nghèo. Không ai bỏ công đi bộ từ nhà ra trạm xe buýt, bỏ công
đứng chờ xe buýt đến bất cứ lúc nào, rồi lại bỏ công đi từ trạm
xe buýt đến chỗ mình muốn đến. Vấn đề đi bộ là chuyện bất đắc
dĩ đối với người dân Sài Gòn, cái xe là cái chân. Giá xe buýt
rất rẻ. Hai ngàn cho một tuyến đường trong Sài Gòn, bất cứ gần
xa. Ba ngàn cho tuyến đường ra ngoài Sài Gòn. Khá nhiều, không
phải đợi lâu, mười lăm, hai mươi phút là cùng. Nhưng khổ cái là
không biết chắc giờ xe buýt đến. Cũng không biết tuyến đường
này sẽ đi qua những con đường nào, trạm nào. Không có sổ hướng
dẫn trên xe, không có bảng hướng dẫn ở trạm chờ.
Hừm…cứ việc đứng, cứ việc chờ, xe tới là
may rồi, trả có mấy ngàn bạc mà bày đặt đòi hỏi. Từ đó tới giờ
có ai đòi ai hỏi đâu!
Sáng sớm, xe buýt đầy các em áo trắng. Tôi phải
đứng. Hàng ghế cạnh tôi đứng là hai em học sinh cở mười sáu
mười bảy tuổi, một nam một nữ. Giọng nam sinh vui vẻ:
- Đã quá, được nghỉ lễ Hùng Vương, lễ ba mươi
tháng tư, lễ lao động, cuối tuần.
Cô bé ngồi bên không mấy vui, trả lời cóc nhảy:
- Đã gì mà đã! Phải ôn bài thi chết luôn.
- Tao đi chơi.
- Má mày có tiền, mày đâu cần học.
- Má tao cũng bắt tao học chớ bộ. Mà sao bữa
nào tao cũng thấy mày về trễ?
- Học thêm. Bữa nào cũng phải sáu bảy giờ mới
về tới nhà, cơm nước, học bài là đi ngủ. Thứ bảy chủ nhật thì
ôn bài. Tuần nào cũng có ít nhất ba bài kiểm. Còn thi thì phải
thi thử rồi mới thi thiệt đặng lớp đạt điểm cao, đạt thành
tích. Lớp đạt thành tích thì mấy ổng mấy bả được thưởng chớ lợi
ích gì mình. Thi miết thành ra ngán tận cổ. Học thét thành
khùng. Mà mày coi cái ông thày vật lý ngu ơi là ngu, mày thấy
hông…
- Ờ, ổng ngu thiệt. Hỏi ổng thì ổng biểu về nhà
đọc lại sách.
- Ổng tưởng tụi mình là thần đồng, cái gì cũng
biểu ráng tự tìm hiểu. Năm nay sách dùng dấu hiệu này, ổng biểu
mình dùng dấu hiệu này. Sang năm nhà trường đổi sách, dùng dấu
hiệu khác, ổng biểu mình dùng dấu hiệu khác. Cũng một công thức
mà nay dùng dấu hiệu này, mai dùng dấu hiệu khác, hỏi thì biểu
ráng mà hiểu.
Trời ơi… phải chi mình bắt
cóc được con bé này, đem vô một quán nước… “tra hỏi”… đáng đồng
tiền bát gạo biết mấy…
* * *
Chia tay với TP ở trước trường Đại Học Khoa Học
Tự Nhiên, con đường tình ngày xưa của dân Khoa Học và Sư Phạm,
tôi lên xe buýt. Xe đông nghịt, không còn ghế trống. Một ngày
mệt mõi vì ráng thu xếp nhiều công chuyện hiện rõ trên gương
mặt, dáng điệu, tôi gồng tay vịn thanh sắt. Một em có vẻ học
sinh, nói nhỏ: “Cô ngồi đây đi!” Chẳng phản đối vì mình chưa
già đến nổi được nhường ghế trên xe buýt, tôi cảm động, ngồi
xuống.
* * *
Trưa nắng chang chang, xe buýt cũng chẳng còn
ghế trống, tôi cùng lên với hai người đàn bà hơi lụm khụm. Em
bán vé kêu to: “Các em trẻ mạnh khỏe nhường chỗ cho bà ngoại!”
Thế là lần lượt các em đứng dậy nhường ghế, không một lời phản
đối, một cử chỉ thật bình thường. Dĩ nhiên tôi cũng là “bà
ngoại”.
* * *
Cũng trưa nắng chang chang, tôi không cần
lắng tai, lời qua tiếng lại của chú bán vé và một hàng khách đàn
bà giọng bắc-bảy-mươi-lăm… cái tật cố
hữu từ hơn ba mươi năm là phải phân biệt giọng bắc để cân lường
sự việc, đập vào đôi tai luôn vểnh cao:
- Địch mẹ! Chắc qua mẹ nó rồi.
- Chị xuống trạm nào?
- ĐM Gò Dưa
- Qua Gò Dưa lâu rồi, sao chị không xuống?
- ĐM! Soát vé mà không biết trạm, ĐM không
biết kêu, ĐM.
- Tới trạm thì chị lo mà xuống chớ.
- ĐM, tôi đã biểu tôi xuống trạm Gò Dưa, ĐM.
- Thì gần tới trạm, tôi kêu trạm Gò Dưa. Chị
muốn xuống thì phải chuẩn bị xuống chớ khách hàng mấy chục người
làm sao tôi nhớ nổi.
- Ngừng đây cho xuống, ĐM!
- Ngừng đây sao được mà ngừng, phải chờ trạm
tới.
- ĐM! Xa quá làm sao đi được… ngừng… ngừng…
ĐM…
- Chị xuống trạm tới rồi qua bên kia đường
đón ngược lại. Gần tới trạm rồi đó, chị ra từ từ là vừa.
- ĐM…
Ơi… sao mà nhớ những người
bạn bắc-kỳ-ăn-cá-rô-cây của tôi ngày xưa, nhớ lời ăn tiếng nói
sao mà dịu dàng, nhớ lời đùa tiếng đáp sao mà êm tai.
(còn tiếp)
Võ Thị Điềm Đạm
Bài tùy bút được viết sau bốn tuần ở Sài
Gòn vào tháng tư năm 2007
Trở về Trang Chính |