Trang chính
Kỹ thuật
Môi trường
Sinh học
Sức khỏe
Vi tính
Vũ trụ
Đời sống
Đố vui để học
Thời sự
Trang Thơ
Liên lạc

muốn nhận "Bản tin"

Nên coi trang Web với 1024x768 Pixels và mở màng hình rộng tối đa,  đọc và viết với Uni code 

 

  Tim Heo trong ngực Người?

   Bích Vân   12/06/2008  

Những bệnh nhân đang nóng lòng chờ thay tim có thể đặt nhiều hy vọng vào những hứa hẹn của các bác sĩ người Đức. Theo tiết lộ của Robert Koch Institut (=RKI, chuyên phụ trách các bệnh truyền nhiễm tại Đức), hiện nay các khảo cứu gia thuộc bệnh viện München-Großhadern đang nghiên cứu làm thế nào có thể cấy ghép tim heo cho loài khỉ, để trong tương lai những quả tim heo sẽ phục vụ nhân loại.
Jörg Hacker, giám đốc RKI, cho biết các tiến bộ trong ngành y những năm vừa qua đã chứng minh rằng các kỹ thuật mới (technologie) hiện nay trong lãnh vực cấy ghép đã đóng một vai trò rất lớn trong phần trị liệu. Ví dụ như cuộc thử nghiệm cấy ghép các tế bào heo sản xuất chất insuline cho những con khỉ bị bệnh tiểu đường, đã được xem là thành công. Nhưng điểm quan trọng nhất trong các cuộc cấy ghép cho người là làm thế nào để ngăn chận những bệnh truyền nhiễm từ thú sang người. Nên để thực hiện các cuộc cấy ghép cơ quan nội tạng cho người, các khảo cứu gia bắt buộc phải nuôi các con heo đã được làm biến đổi gènes.
Tại Hoa kỳ, những quả tim heo đã được cấy ghép thử nghiệm cho các con khỉ đầu chó -paviane- từ năm 2006, nhưng cấy cho người thì dự tính đến năm 2010 mới được thực hiện. Một công ty tại Tân-tây-lan cũng đã thử nghiệm cấy ghép các tế bào heo sản xuất insuline thậm chí cho người.
Heo được xem là loài thú thích hợp để cung cấp các cơ quan nội tạng cho việc cấy ghép vì sự biến dưỡng sinh học của chúng giống người nhất.

 

  Liên-Hiệp-Quốc sắp mở chiến dịch chống kiến lửa

   Bích Vân   22/05/2008  

Vào đầu thế kỷ 20, giống kiến lửa Nam Mỹ đã "lén lút nhập cảnh" vào lãnh thổ Hoa kỳ; và ngày nay thì nhờ ngành du lịch phát triển mạnh khắp thế giới, cộng thêm nền thị trường quốc tế, loài kiến lửa đặc biệt này cũng đã thấy hiện diện tại Trung quốc, Đài Loan, Mã lai, v..v... và cả tại Úc châu. Những con kiến lửa nho nhỏ, đo đỏ và thoắt ẩn thoắt hiện, trông cũng có vẻ vô hại như tất cả loài kiến khác. Nhưng coi chừng, giống kiến lửa xuất xứ từ Nam Mỹ đang trở thành mối lo ngại lớn và sẽ trở thành mục tiêu trừ khử của Liên Hiệp Quốc. Vì tại hội nghị quốc tế bắt đầu từ ngày 19 tháng Năm và kéo dài 2 tuần, đang được tổ chức tại Bonn (Đức quốc) với chủ đề Bảo Tồn Thiên Nhiên và Tài Nguyên Thiên Nhiên, hơn 5000 chuyên gia của 191 quốc gia đều đồng ý rằng loài kiến lửa Nam Mỹ đang gây thiệt hại cho thế giới hàng ngàn tỷ mỹ kim mỗi năm (theo tài liệu của GISP = Global Invasive Species Programm)
Thân mình chỉ dài độ 1 cm nhưng chúng hung hãn vô cùng và có biệt tài tàn phá tất cả trên đường mà đoàn kiến đi qua. Mùa màng tan hoang vì chúng đã đành, cả những nông dân cũng thường bị chúng tấn công và để lại những vết sưng rất đau đớn. Không chỉ thế, loài kiến lửa đỏ này cũng "làm thịt" luôn cả những con thú rất cần để bảo vệ mùa màng trước sự tấn công của côn trùng. Phá hoại như thế chưa đủ, những con vật bé tí độc địa này lại còn ưa thích gậm nhấm dây nhợ các máy móc dành riêng cho công việc đồng áng, gây thiệt hại hàng tỷ mỹ kim mỗi năm chỉ riêng tại Hoa kỳ.
Loại kiến lửa này trong tương lai sẽ là nguy cơ hàng đầu đe doạ hệ sinh thái của những vùng đất xa xôi, đặc biệt là những hòn đảo nhỏ, chẳng hạn. Chúng kéo nhau đi thành từng đoàn khổng lồ và không có gì cưỡng lại được sức tàn phá khủng khiếp của chúng. Và không phải ngẫu nhiên mà chúng được các khoa học gia đặt cho cái tên Solenopsis invicta. Những vết cắn của chúng rát đau như cảm giác bị phỏng lửa, vì thế nên gọi Solenopsis. Và invicta trong tiếng La Tinh có nghĩa là "không thể bị đánh bại", invincible!
Liệu Liên Hiệp Quốc có tìm ra được giải pháp để đánh bại loài kiến Nam Mỹ ????

 

  Chó săn kiểu mới của nhà đoan Nam Hàn

   Bích Vân   01/05/2008  

Sở quan thuế của Nam Hàn, tại Taejon, vừa xác nhận một dự án chắc chắn có một không hai trên thế giới, là huấn luyện các con chó cloning (nhân bản vô tính) thành những thám tử chuyên nghiệp trong "nghề" đánh hơi các loại ma tuý quốc cấm. Sau khoá huấn luyện, các con chó đặc biệt này sẽ bắt đầu "hành nghề", có lẽ vào tháng Sáu sang năm.
Tổng cộng đã có 7 con chó ra đời hồi cuối năm ngoái. Tất cả đều được đặt tên là Toppy (gọi tắt của "tomorrow's puppies"), và tất cả đều sinh ra từ những tế bào gốc của một con chó giống Labrador tên là Chase. Sở quan thuế không tiếc lời khen ngợi tài đánh hơi của chú khuyển Chase và từ đó nảy sinh ý định "clone" để tạo thêm nhiều chú Chase nữa cho ngành quan thuế. Đại học quốc gia tại Seoul vì đã có nhiều kinh nghiệm với các chương trình "cloning" nên năm ngoái đã nhận lãnh trách nhiệm tạo thêm nhiều chú khuyển Chase với phương pháp cloning. Khi thử nghiệm Gen của 7 con chó, các khoa học gia đã xác nhận rằng cả 7 chú chó con đều từ phương pháp cloning mà được tạo thành.
Có đúng là từ phương pháp Cloning? Mọi người đều không quên sự bịp bợm (nhờ thế mà nổi tiếng thế giới) của khảo cứu gia Hwang Woo Suk cũng tự nhận là đã thành công trong công trình "cloning" chú chó con Snuppy năm 2005.

 

  Loài Ếch không phổi

   Bích Vân   10/04/2008  

Năm ngoái tại miệt dưới đảo Borneo, các khoa học gia đã phát hiện tổng cộng 9 con ếch loài Barbouroula kalimantanensis rất lạ lùng vì chúng không có phổi. Dường như chúng thâu nhận dưỡng khí hoàn toàn qua da. Cho đến nay, trong các loài vật lưỡng cư (amphibie), chúng ta chỉ biết rất ít về loài vật không có phổi, trong số đó có 3 loài kỳ đà và một loài trùn. 
Thật ra từ những thập niên 70 và 90, các khoa học gia đã phát giác ra một loài ếch không phổi. Nhưng mãi đến khi bắt được thêm 9 con ếch cũng không phổi nên mới dám đoan chắc rằng loài ếch Barbourula là loài không phổi. Nghĩa là đặc điểm của loài 

ếch da mầu nâu đen 

Barbourula là không có phổi, có lẽ để thích ứng với môi trường sinh sống có khí hậu khá lạnh và nước trong lành chảy xiết có chứa nhiều dưỡng khí. Thân ếch Barbourula vì dẹp lép nên diện tích da phô bầy ra nhiều so với thân hình các loài ếch khác, và nhờ đó mà sự hấp thụ dưỡng khí qua da dễ dàng hơn.

Theo quan điểm của các nhà sinh vật học thuộc đại học quốc gia Singapour (vừa đăng trên tạp chí Current Biology), môi trường sống của loài ếch không phổi Barbourula đang bị đe doạ vì nguồn nước bị ô nhiễm do những mỏ khai thác vàng lén lút và bất hợp pháp trên đảo Borneo, khiến nước đục ngầu và chứa đầy chất thuỷ ngân; cần phải có ngay biện pháp hữu hiệu để bảo vệ loài ếch lạ lùng này.

 

 

 

Trang Sinh học

Từ 1 hoá thêm 4

                 Bích Vân    19/06/2008

Marine là một sở hữu quý báu của nước Nhật. Quý báu vô cùng vì cô nàng có biệt tài đánh hơi để phát hiện những bệnh nhân mắc bệnh ung thư ngay ở thời kỳ mới chớm. Vì biệt tài này mà hãng Seems của Nhật (chuyên về tế bào gốc) đã "còm-măng" một công ty, cũng chuyên về khảo cứu tế bào gốc tại Nam Hàn, làm thế nào để có thêm 4 chó con giống y hệt Marine, nghĩa là cũng có tài đánh hơi các bệnh về ung thư y hệt như Marine.

Thế là hôm 16 vừa qua, ông giám đốc Ra Jeong Chan của hãng RNL Bio tại Seoul tường trình trong một cuộc họp với báo chí rằng RNL đã cho ra đời (hôm 28 tháng Năm) 4 chú chó mực con, loại chó săn giống Retriever được "nhân bản vô tính"(clon) từ cô chó cái Marine. Mỗi chú chó con trị giá khoảng 500.000 mỹ kim sẽ được đem sang Nhật để dự khoá huấn luyện "đánh hơi bệnh ung thư" và sau khoá huấn luyện kéo dài 3 tháng, rất có thể 2 chú chó con sẽ được đem bán.

Nhờ đâu mà loài chó có biệt tài đánh hơi để tìm ra người có bệnh ung thư thì cho đến nay vẫn còn là một điều bí ẩn, và là mục tiêu tìm tòi của các nhà khảo cứu tại nhiều quốc gia. Họ giả thuyết rằng các tế bào bị ung thư "bốc mùi" khác lạ so với một tế bào lành khoẻ, và mùi khác lạ này rất có thể được tìm thấy trong nước tiểu? Chưa có giải đáp!

 

Khám phá một loại tắc-kè mới tại Việt Nam

                 Bích Vân    29/05/2008

Một toán thám hiểm người Đức và Việt vừa khám phá tại đảo Cát Bà, là hòn đảo lớn nhất trên tổng số 1.969 đảo của vịnh Hạ Long, Bắc Việt, một loại tắc-kè chưa từng được biết đến từ trước đến nay. Theo mô tả của Hội Bảo Tồn Các Loài Vật của Đức quốc (tài trợ cho cuộc thám hiểm và có trụ sở tại Münster, Đức), lưng tắc kè có những vết sọc ngang mầu vàng cam; những ngón chân dài khẳng khiu với một cái đuôi đo khoảng 10 cm dài gần bằng thân. Thân tắc kè mầu nâu nâu xám xám pha lẫn những lấm chấm mầu xám nhạt, làm nổi bật lên 3 hoặc 4 vết sọc vàng cam trên lưng. Cả cặp mắt (rõ) to của tắc kè cũng có mầu vàng cam, chiếm gần hết phần đầu của tắc kè.
Trên tạp chí chuyên khoa Zootaxa quốc tế số mới nhất phát hành tại Tân Tây Lan, khảo cứu gia Thomas Ziegler cùng các cộng sự viên thuộc Vườn Bách Thú tại thành phố Köln, Đức quốc, nhận định rằng đây là một loại tắc kè tương đối hiếm và chỉ có thể tìm thấy tại Cát Bà mà thôi. Vì là "sản phẩm" đặc biệt chỉ riêng Cát Bà mới có nên loài tắc kè hiếm quý này đã được các khảo cứu gia người Đức đặt cho cái tên khoa học là Goniurosaurus catbaensis !!!!

 

Một loại táo mới

                 Bích Vân    08/05/2008

Các khảo cứu gia người Úc vừa tạo được một loại táo mới, được đặt tên là Enchanted, có đặc điểm là không trở nên thâm đen (trông mất ngon) ở chỗ cắt, và sau mấy giờ đồng hồ bị cắt thành miếng nhỏ hay bị gọt vỏ cũng vẫn giữ được mầu hồng hồng nhạt nguyên thuỷ. Đây là kết quả lai giống giữa hai loại táo Lady WilliamsGolden Delicious mà chúng ta vẫn thường thấy bầy bán.
Bộ trưởng Kim Chance của Bộ Nông Nghiệp Tây Úc đặt nhiều hy vọng vào loại táo Enchanted sẽ được mọi người trên thế giới ưa thích nhờ đặc điểm vẫn giữ được mầu tươi ngon hấp dẫn dù để thật lâu sau khi bị cắt. Đây cũng là một lợi điểm nếu táo Enchanted được đưa vào ngành kỹ nghệ chế biến thực phẩm, kể cả trong kỹ nghệ chế tạo nước trái cây. Hoặc táo Enchanted được gọt vỏ sẵn trong các "lunchboxes" hoặc bầy biện mỹ thuật trên những dĩa trái cây gọt sẵn tại các tiệm ăn chẳng hạn, ...
Theo một bản tường trình trên mạng Internet của báo "West Australian", loại táo Enchanted còn có thêm một lợi điểm nữa để mọi người chắc chắn sẽ ưa chuộng là loại táo mới này không do sự biến đổi Gen mà được tạo thành, chỉ là sự lai giống tự nhiên.

 

Uống nhiều chất Paracetamol sẽ làm hại gan

                 Bích Vân    17/04/2008

Các khoa học gia thuộc đại học Düsseldorf vừa báo động rằng uống quá liều lượng thuốc trấn thống, thường thì mua không cần toa của bác sĩ, là một trong những nguyên nhân thông thường của các bệnh viêm gan cấp tính. Đây là điều khá ngạc nhiên vì bấy lâu chúng ta cứ tưởng bệnh viêm gan cấp tính trong đa số các trường hợp là do bệnh Hepatitis. Theo quan điểm của các chuyên gia, nếu những người đã mập phì mà còn uống vô tội vạ các loại thuốc có chứa chất Paracetamol thì nguy hiểm sẽ tăng cao hơn nữa, nhất là khi các bà mập phì thường có mỡ trong gan. Gan lúc đó không còn khả năng loại trừ một liều lượng quá nhiều các chất thuốc độc hại như Paracetamol. Hậu quả là bệnh nhân sẽ rơi vào trạng thái hôn mê, và sau đó, có đến 80% trường hợp bệnh nhân sẽ bị thiệt mạng nếu không được ghép gan.

Theo các thống kê hiện nay thì mỗi năm tại Đức có 500 trường hợp chết người vì bị bệnh viêm gan cấp tính. Do đó Viện Dược Phẩm của Đức sắp đưa ra một dự thảo luật không cho phép tự do mua các loại thuốc có chất Paracetamol. Luật sẽ có hiệu lực bắt đầu ngày mùng 1 tháng Mười năm nay; cụ thể là nếu muốn mua một hộp thuốc có chứa hơn 10 gr Paracetamol (= 20 viên có chứa 500 mgr paracetamol/mỗi viên), bệnh nhân cần phải có toa bác sĩ.

 

1/4 con gái Mỹ bị "bệnh kín"

                 Bích Vân    27/03/2008

Đàn ông ở Mỹ rụng rời (cả chân lẫn tay) khi Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Bệnh CDC, Centers for Disease Control and Prevention trụ sở tại Atlanta, vừa cho biết hàng triệu cô gái Mỹ bị mắc nhiều loại bệnh nhiễm trùng có thể lây lan qua đường tình dục. Ước chừng có đến 3,2 triệu thiếu nữ Mỹ từ 14 đến 19 tuổi mắc những bệnh nhiễm trùng ở bộ phận sinh dục. Cuộc thăm dò đã được thực hiện với 838 thiếu nữ mới lớn để tìm 4 "bệnh kín" thường gặp nhất của phụ nữ.

1- Bệnh HPV = Human Papilloma Virus, trong vài trường hợp có thể gây nên bệnh ung thư, là bệnh thường gặp nhất, chiếm 18%.

2- Chiếm hạng nhì với 4% nơi các cô là các bệnh nhiễm trùng gọi là Chlamydial infections, nhiều khi có thể đưa đến mù loà hoặc không còn khả năng sinh sản (những cô gái da đen mắc phải bệnh này nhiều hơn các cô da trắng hoặc Mễ). 

3- Tiếp theo là có 2,5% các cô mắc bệnh lở loét bộ phận sinh dục (herpes genitalis) và sau cùng

4- có 1,9% các thiếu nữ khổ sở vì nhiễm ký sinh trùng Trichomonas ở âm hộ.

Tất cả những bệnh truyền nhiễm này không chỉ gây nguy hiểm cho các ông (khi lây lan qua đường tình dục) mà chính những thiếu nữ khi mắc các bệnh này sẽ rất dễ nhiễm thêm những vi trùng hay siêu vi trùng khác, tức là có thể tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung, và độc hại hơn cả là nhiễm siêu vi trùng HIV. Theo nhận xét của Sara Forhan, người thực hiện cuộc nghiên cứu, con số chính thức cho rằng 1/4 các cô thiếu nữ ở Mỹ mắc đủ các loại "bệnh kín" trên thực tế có thể nhiều hơn nữa, vì cuộc nghiên cứu chỉ chú trọng đến 4 bệnh thường gặp nhất nơi phụ nữ.
 
 

Cây ăn thịt chuột

                 Bích Vân    06/03/2008

Miền Cape York (thuộc cực bắc Queensland, Úc châu) từng nổi tiếng có rất nhiều loại cây ăn thịt mọc hầu như khắp nơi trong vùng. Đã từ lâu, các loại cây chuyên ăn thịt của vùng Cape York đã thu hút được nhiều nhà thực vật học đến tận nơi để tìm hiểu. Thế mà vẫn còn loại cây mà mãi đến nay họ mới phát hiện ra. Đó là một loại cây lạ lùng ăn cả thịt chuột trong số những mồi sâu bọ mà cây bẫy được! Khảo cứu gia Charles Clarke thuộc đại học James Cook (Townsville) đã bất ngờ tìm thấy loại cây ăn thịt chuột này trong khu vực gần Jardine River National Park. Địa điểm chính xác khi tìm được "cây ăn thịt chuột" cho đến nay vẫn phải giữ kín vì đây là loại cây cực hiếm, mà trong vùng lại có quá nhiều các nhà thực vật không chuyên nghiệp nên rất dễ làm cho cây bị thương tổn. Chưa kể là nhiều lái buôn nghe tin lạ cũng sẽ đổ xô tới để kiếm lợi. Theo tiết lộ của Clarke, cây này thuộc họ Nepenthes, còn gọi là tenax (theo tiếng La-tinh) và trên khắp thế giới chỉ có 3 loại cây thuộc họ Nepenthes.
N. tenax có thể cao đến 1 thước, nhưng các bẫy để bắt sâu bọ côn trùng thì lại ít khi lớn hơn 15 cm. Các mẩu còn sót lại từ xác những chuột nhỏ tìm thấy phía bên trong những lá cây (tựa như cái bẫy) cho thấy cây không chỉ ăn côn trùng sâu bọ. Clarke cho biết thêm là trong khu vực này còn có thêm hai loại nữa là N. mirabilis và N. rowanae cùng họ.
Tuy là mới phát hiện ra lần đầu tiên, nhưng cũng rất có thể "cây ăn thịt chuột N.tenax" đã được nhà thực vật học lừng danh Frank Jardine hái để lấy giống và miêu tả rất kỹ từ năm 1890. Nhưng không may là mẫu lấy giống của cây N.tenax đã bị rớt ra khỏi túi trong khi ông phi ngựa về trại. Và từ đó đến nay, chưa thấy ai nói tới hoặc tìm ra được loại "cây ăn thịt chuột" này.
 
 

Thịt do súc vật được clone: ngon bổ như thường!

              UYÊN HẠNH   24/01/2007

 EU: thịt do súc vật được clone không nguy hiểm. Thịt và sữa từ những súc vật được clone cũng an tòan như nguồn thịt và sữa từ những súc vật bình thường. Đó là kết luận có được trong bản dự thảo từ Cơ quan Thực phẩm Âu châu EFSA sau khi họ đã nghiên cứu để làm bản tường trình thực thụ về vấn đề an tòan trong việc tiêu thụ thịt và sữa cung cấp từ nguồn súc vật được clone. Nước Mỹ đã tiến nhanh hơn Âu châu một bước trong vấn đề nầy. Tại đây Cơ quan Thực phẩm Hoa kỳ vừa cho phép sản xuất và bán ra thị trường thực phẩm từ bò, heo và dê được clone. Chính phủ Đan Mạch ngược lại chỉ cho phép clone động vật liên hệ đến vấn đề nghiên cứu. Thịt từ những động vật nầy không được phép dùng để bán cho người tiêu thụ. Nhưng luật lệ ở Đan mạch không đề cập đến việc cấm nhập cảng thịt của súc vật được clone từ nước ngoài vào cũng như chưa có luật chung cho các nước trong khối EU về điều luật nầy.

Theo khẳng định của chính quyền Hoa kỳ trong bản báo cáo được gửi đi vào tuần vừa qua (15.1.2008) và Báo Washington Post đã đăng tải nguồn tin về kết quả của bản báo cáo đó cho thấy sau một cuộc nghiên cứu khá rộng lớn về vấn đề tiêu thụ thịt của súc vật được clone thì kết quả cho biết không có một nguy hiểm nào kể cả những nguy cơ tiềm ẩn trong việc tiêu thụ thịt của súc vật được clone. Thực sự cũng phải mất vài năm nữa lọai thịt clone nầy mới xuất hiện trên các quầy thịt  lạnh cũng như sẽ có sự xuất hiện của các hộp sữa giấy từ lọai súc vật nầy tại các siêu thị. Lý do bởi vì lọai súc vật được clone hiện thời quá đắt để giết lấy thịt bán ra cho người tiêu thụ kể cả việc lấy sữa để bán từ lọai súc vật nầy. (nguồn dr.dk)

 

Tinh tinh đực chuộng những con cái đã „chín muồi“

            Bích Vân    03/01/2007

(Tin die Welt Online) - Trong việc lựa chọn người bạn tình những con tinh tinh đực có những khác biệt rõ ràng với loài người: Các khoa học gia hiện đang tìm kiếm câu trả lời, tại sao loại thú xem ra có họ hàng rất gần với chúng ta, thay vì chọn những con cái trẻ tuổi thì lại chọn những con lớn tuổi hơn mình ?

Khác với loài người, tinh tinh đực chuộng làm Sex với những con cái lớn tuổi. „Những con cái già tuổi chẳng cần làm gì hết, con đực tự tìm đến tán tỉnh“, Martin Muller khoa học gia thuộc đại học Boston trình bày trong tập tài liệu nghiên cứu của ông.

"Da nhăn nheo, lổ tai bị sức, núm vú dài lòng thòng không nhất thiết gây gợi cảm cho những con tinh tinh đực bằng cặp môi đầy đặn, một thân hình quyến rũ của những con cái trẻ tuổi, tuy nhiên tinh tinh đực không đánh giá ngoại hình là quan trọng. Những con tinh tinh đực phải đấm đá nhau để được phép làm tình chung với những con cái già. Chúng cũng làm tình với những con cái trẻ nhưng những con này cũng phải làm đủ mọi cách mới quyến rũ được con đực, trong khi những con cái già chẳng cần làm gì hết mà tình nhân vẫn cứ đến xin xỏ được yêu.

Muller cùng những người bạn đồng nghiệp đã tìm thấy câu trả lời cho sự khác biệt giữa người và tinh tinh về chuyện yêu này. Điểm chính là loài người đặt căn bản trên mối quan hệ lâu dài với nhau.

Các nhà nghiên cứu cũng đưa ra những lý do khác như là, loài tinh cái khác với phụ nữ là chúng có thể thụ thai suốt đời. Những con cái già là những bà mẹ giỏi so với những con trẻ ngoài ra những con già có thể dành giực thức ăn trong nhóm mạnh hơn so với những con trẻ tuổi.

 

Những con heo nhỏ nhắn để cứu người

            Bích Vân    28/12/2007

Từ tế bào gốc trong tủy xương của heo, Seong Hwan-Hoo và các khoa học gia, thuộc National of Animal Science Sudkorea, đã tạo được những con heo bình thường nhưng nhỏ nhắn và khi trưởng thành cũng chỉ nặng tối đa 60 đến 80 ký-lô. Những cơ quan nội tạng của loài heo nhỏ bé từ phương pháp nhân bản này sẽ được xử dụng để chữa bệnh; vì nhờ có kích thước nhỏ bé nên phù hợp với cơ quan nội tạng của người. Nhờ phương pháp biến đổi Gen, các cơ quan nội tạng heo sau khi cấy ghép vào cơ thể người sẽ không còn xảy ra các phản ứng bị đẩy ra.
So với phương pháp xử dụng các tế bào bình thường như trước đây để "nhân bản" heo (sống sót chỉ 1-5%) thì phương pháp xử dụng tế bào gốc từ tủy xương heo được xem là thành công gấp 4 lần hơn, vì trong số 4 con heo sinh ra hồi đầu tháng 12 thì chỉ có một con chết vì bị tai nạn; một con nữa chết trong khi bị "lôi ra" thử nghiệm DNA; hai heo con còn lại vẫn mạnh khỏe.
Các khoa học gia Nam Hàn không ngừng cứu vãn phần nào danh dự bị bôi nhọ sau trường hợp Hwang Woo-Suk, chuyên gia nổi tiếng trên thế giới với phương pháp klon từ tế bào gốc của người, đã gian lận kết quả những chương trình "nhân bản" và đang bị kiện ra tòa.

Khám phá mới nhất: Bệnh ung thư vú sẽ được chữa lành không di căn

         Uyên Hạnh    06/12/2007

5 Gen xác định tiến trình căn bệnh ung thư vú: Các nghịên cứu gia Đan Mạch đã khám phá và nhận diện được số gen, một trợ lực chính xác cho việc điều trị chứng ung thư vú.

Từ trước đến nay các bác sĩ chuyên khoa về ung thư tại Đan Mạch vẫn chưa có được một phương thức hữu hiệu để có thể quyết định được người nào trong số bệnh nhân sau khi được cắt bỏ u độc tính ở vú cần phải được tiếp tục điều trị bằng y dược.

Hiện thời nhóm nghiên cứu gồm một số các bác sĩ khoa ung thư, bệnh lý học và di truyền học từ Đại học Odense và Đại học Syddansk tại Đan Mạch đã tìm thấy được một phương thức, và với phương thức nầy họ có thể biết chắc chắn rằng bệnh nhân nào cần phải được tiếp tục chữa trị cho dứt hẳn chứng ung thư vú.

Khi một người bệnh giới nữ được phát hiện mang chứng bệnh ung thư vú, thì với sự trị liệu hiện thời khó có thể thấy trước nên không chận đứng được mối nguy hại về sau khi căn bệnh tái phát, hoặc lan tràn qua các bộ phận khác trong cơ thể.  

Sự điều trị được thích ứng cho từng cá nhân: Thành quả của cuộc nghiên cứu nầy giúp cho các bác sĩ thấy rõ trước tiến trình phát triển về sau của căn bệnh và vì thế tạo sự dễ dàng hơn cho việc tức khắc lập một chương trình điều trị thích hợp cho từng cá nhân, để người bệnh được chữa lành hẳn.

Các nghiên cứu gia đã làm các cuộc thử nghiệm trên 30.000 đơn vị Gen của người bị ung thư vú và từ đó định diện được mầm ung thư ẩn dạng, còn lại để phát tán về sau. Theo cuộc thử nghiệm nầy các nhà nghiên cứu bằng phương cách ”mở” và ”tắt” đã tìm thấy được mẫu Gen được định dạng là ”tốt” và ”xấu” cho một quá trình bệnh ung thư vú. Có nghĩa là khi một bệnh nhận được phát hiện mang bệnh ung thư vú, người bệnh được chữa trị bằng cách cắt bỏ u độc tính nầy (cắt chiếc vú bị mang u bệnh), căn bệnh ung thư vú sau đó biến mất ở một số người nhưng có khi xuất hiện trở lại và lan tràn đến các bộ phận khác trong cơ thể.

5 Gen quan trọng: Các nghiên cứu gia nầy đã tìm thấy được 5 đơn vị Gen quan trọng nhất qua cuộc thử nghiệm đã hiện dạng để giúp người điều trị thấy được chứng ung thư tại người bệnh sau khi được cắt bỏ chiếc vú/đôi vú có còn ”ẩn hình” để sau nầy trở về và làm căn bệnh tái phát dưới hình thức di căn hay không. Thấy rõ điều nầy vị bác sĩ trị liệu sẽ dùng y dược để trị người bệnh sau khi đã bị cắt bỏ u độc tính ở vú để ”mầm bệnh” còn sót lại được ”giết chết hẳn” không còn ”lý do”  trở về hoặc có cơ hội lan tràn qua các bộ phận khác của người bệnh nữa. Điều nầy cũng có nghĩa là người chữa trị thấy rõ và không bị đưa vào tình trạng lượng chữa trị không đủ hoặc qúa dư thừa.   

”Sự khám phá nầy của chúng tôi sẽ giúp ích cho một số lớn các bệnh nhân bị ung thư vú sự việc tránh khỏi bị quá nhiều ảnh hưởng phụ của thuốc trong khi nhận sự điều trị. Bởi vì quá trình điều trị rất nặng nhọc cho người bệnh. Cũng như có thể thấy rõ được tình trạng bệnh để thực hiện những cuộc chữa trị với phẩm lượng chính xác được sử dụng hầu chận đứng những tác hại hiện có hoặc về sau của căn bệnh nầy. Khám phá mới nầy phối hợp với kỷ thuật cao cấp hiện đại sẽ giúp khá nhiều người bị ung thư vú được chữa trị và hòan tòan lành mạnh trở lại”. Đây là lời phát biểu của nhà nghiên cứu di truyền và dịch tễ học, Giáo sư Torben Kruse của Đại học đường Odense tại Đan Mạch, ông là người trách nhiệm và điều hành cuộc nghiên cứu nầy với thành quả tốt đẹp đã thấy được trên đây.

Một  thích thú quá tuyệt vời”. Theo phỏng đóan của vị giáo sư trên thì phải mất nhiều năm trước khi phương thức nầy thực sự được sử dụng tại các bệnh viện ở Đan Mạch để chữa trị người bị bệnh ung thư vú. Cơ quan Phòng chống Ung thư Đan Mạch, Kræftens Bekæmpelse, đón nhận tin nầy như một niềm vui lớn. Bà Iben Holten, Y sĩ trưởng kiêm Giám đốc điều hành Cơ quan Thông tin và Phòng chống Bệnh Ung thư  đã gọi khám phá trên là ”Một điều thích thú thật quá tuyệt vời”. Bà còn nói thêm rằng: ”Khám phá mới nầy ngoài việc tạo một đảm bảo trong việc điều trị người bệnh còn giúp cho một số lớn phụ nữ thóat được sự khổ nhọc của ”hành trình hóa trị”. Tôi biết chắc rằng sự phát triển của nền tân kỷ thuật trong phạm vi nghiên cứu Gen là tương lai tốt đẹp cho việc nghiên cứu về chứng bệnh ung thư”   

|Trang chính||Sức khỏe||Kỹ thuật||Môi trừơng||Sinh học||Vũ trụ||Vi tính||Đời sống||Đố vui để học||Liên lạc||Thời sự|


  Làm thế nào để "cai rượu"?

    Bích Vân   262008

  • GFDN = glial cell derived neurotrophic factor thật ra là yếu tố tăng trưởng (growth factor) phụ trách sự phát triển các tế bào thần kinh đặc biệt của não bộ. Thử nghiệm trên loài chuột cố ý cho quen với tửu lượng cao với phương pháp đạp đòn bẩy để được uống rượu, sau khi được tiêm chất GDNF vào não bộ, trực tiếp thẳng vào phần gây nên các cơn ghiền (ví dụ như ma tuý, rượu hoặc thuốc, ..), chỉ chưa tới 10 phút sau, các con chuột không còn tỏ vẻ "cuống cuồng" thèm rượu nữa mà các lần "đạp đòn bẩy" cũng thấy thưa hẳn, và các chú chuột cũng uống ít rượu hẳn. Với những con chuột cho nghiện một loại dung dịch ngọt ngọt nhưng không phải rượu, chất GFND tiêm vào não chẳng tỏ ra một tác dụng nào vì vẫn thấy chúng "hăng" đạp đòn bẫy để thoả cơn ghiền chất ngọt ngọt.
    Khảo cứu gia Sebastien Carnicella, và các cộng sự viên thuộc đại học California tại Emeryville (Hoa kỳ), hy vọng rất nhiều vào công dụng mới khám phá của GFDN để khai triển phương pháp trị liệu chưã bệnh ghiền rượu cho người, vì những diễn biến của cơn ghiền rượu nơi người và loài chuột tương đối giống nhau. Trên tờ Proceedings of the National Academy of Sciences, các khoa học gia còn tường trình rằng GDNF không chỉ làm biến mất cảm giác vật vã cồn cào vì "thèm một hớp" mà hơn thế nữa, GDNF còn ngăn cản không để dễ ghiền rượu trở lại sau một thời gian dài không uống giọt nào. Và đây là yếu tố rất quan trọng trong công trình khảo cứu vì cái khó khăn nhất trong sự trị liệu bệnh nghiện rượu là các bệnh nhân hầu hết thường ... tái phạm nhiều lần, tái đi tái lại, rồi lại tái ...
  •  

      Trăn và rắn. Rắn và trăn ... tràn ngập

        Bích Vân   052008

  • Từ ít lâu nay, các khoa học gia của Mỹ rất đỗi ngạc nhiên và vẫn quan tâm tìm hiểu nguyên do xảy ra hiện tượng loài trăn đang lan tràn khắp miền đông.nam Hoa kỳ với nhịp độ thần tốc. Nếu "dân số trăn" cứ tiếp tục gia tăng mau lẹ như hiện nay, chẳng mấy chốc mà khắp vùng Florida, Georgia và Louisiana sẽ đầy các con trăn "bò lổm ngổm" khắp mọi nơi chốn đúng ra là của loài cá sấu.
    Khoa học gia Frank Mazzotti cho biết trăn (python) có xuất xứ từ Burma, Miến Điện, được khách du lịch mang về Florida để nuôi trong nhà như một thứ gia súc làm kiểng. Những con trăn được nuôi cho lớn, thân hình đồ sộ khổng lồ có khi dài đến 5 thước và nặng 70 ký-lô, trở thành nguy hiểm không thể nuôi trong nhà nên bị chủ nhân đem thả tại những vùng đầm lầy, Everglades. Sống trong thiên nhiên với nhiệt độ ấm áp, những con trăn sinh sôi nẩy nở một cách nhanh chóng và đang có khuynh hướng lan tràn nhanh như một bệnh dịch. Một con trăn nặng 50 ký có thể đẻ khoảng 60 đến 80 trứng mỗi năm. Loài trăn bơi rất giỏi và trườn rất nhanh; ăn thịt thỏ, chó, mèo, sóc, chồn, .v..v... và cả một vài loại cá sấu.  Từ 2002 đến 2005, báo chí đã đăng tin bắt được tổng cộng 201 con trăn cả sống lẫn chết tại miền nam Florida. Nhưng chỉ riêng năm ngoái, người ta đã bắt được 418 con trăn lớn. Và nếu đúng như ước tính của nhà sinh vật học Skip Snow thì hiện nay miền đông.nam Hoa kỳ là giang sơn của hơn 30.000 con trăn khổng lồ (biết đâu lại chẳng ăn cả thịt người?) 
    Hồi đầu năm nay, những người dân tại Úc châu không chỉ khổ sở vì hạn hán đang hoành hành mà còn khổ và sợ vì nạn rắn độc cũng lần mò vào thành phố. Chỉ riêng tại tiểu bang Victoria (tuy nhỏ nhất trong số 6 tiểu bang của Úc nhưng lại đông dân nhất, với thủ đô là Melbourne) trong năm vừa qua cũng có gần 200 người bị rắn cắn. Thống đốc Rob Hulls của tiểu bang Victoria đã phải lên tiếng yêu cầu dân chúng nên đề phòng những con rắn độc địa đang ẩn nấp trong thành phố và khuyên mọi người nên cố hết sức tránh lại gần chúng. Ông cũng tỏ ý lo ngại cho năm nay các loại rắn có thể tràn vào thành phố nhiều hơn nữa để kiếm một chút không khí ẩm ướt. Mấy năm liền, hiện tượng rắn bò vào thành phố vẫn tiếp diễn. Vì tại châu Úc, khi mùa Hè bắt đầu với sức nóng nung người thì lại bị hạn hán; thế có nghĩa là cái vòng lẩn quẩn lại vẫn cứ tiếp diễn.
  •  

      Viagra không chỉ dành riêng cho "ông uống để rồi bà khen ... sao mà hay thế!"

        Bích Vân   152008

  • Tuy đã được phổ biến rầm rộ trên thị trường từ 10 năm nay, các khảo cứu gia vẫn không ngừng khám phá ra thêm các công dụng khác nữa của Viagra, ngoài mục đích "cương dương" là công dụng chính mà mọi người trên thế giới biết đến và rồi "ưa chuộng" viên thuốc bé bé xanh xanh Viagra. Và mới đây, lại thêm một công dụng nữa của Viagra vừa được khám phá, có thể sẽ giúp ích được rất nhiều cho những người bị bệnh teo cơ bẩm sinh, và kéo dài tuổi thọ của họ.
    Trên tạp chí PNAS (Proceedings of the National Academy of Sciences) của Mỹ, khảo cứu gia Christine Des Rosiers thuộc Mantreal Heart Institut, Canada, giải thích rằng hoạt chất Sildenafil (tên thương mại là Viagra) có thể ức chế diếu tố phosphodiesterase (PDE 5). Nơi những người bị bệnh rối loạn cương dương, chính diếu tố này là một trong những thủ phạm ngăn cản không cho dương vật tiết ra hoá chất cGMP (Guanosinmonophosphat) là chất truyền tín hiệu mỗi khi "bị kích thích" để giúp cho máu tới dương vật nhiều hơn, nhờ đó tạo nên tình trạng "căng cứng"(với trợ lực của Viagra để vô hiệu hoá PDE 5 thì chất cGMP sẽ được tiết ra nhiều hơn). Chất cGMP truyền tín hiệu khắp cả những cơ quan nội tạng như tim chẳng hạn, do đó rất có thể ngăn chặn được sự thoái hoá của cơ tim. Từ đó nảy sinh ý định thử nghiệm Viagra nơi những con chuột cố ý cho mắc bệnh teo cơ như người (ví dụ bệnh Duchenne). Sau cuộc thử nghiệm, không chỉ tim mà cả thể tạng của những con chuột này tỏ ra bền bỉ hơn, khoẻ mạnh hơn hẳn những con chuột không được nhận Viagra.
    Nhưng trước khi có thể dùng Viagra để làm phương pháp trị liệu cho những người bị bệnh teo cơ bẩm sinh, cần phải làm thêm nhiều cuộc khảo cứu lâm sàng sâu rộng hơn nữa.
     
  •  

      Những ích lợi của đậu nành và thuốc Aspirin

        Bích Vân   24