Trang chính
Kỹ thuật
Môi trường
Sinh học
Vi tính
Vũ trụ
Đời sống
Đố vui để học
Thời sự
Trang Thơ

Ung Thư Thanh Quản

Ngo Manh Tran,M.D Ph.D.  www.yduocngaynay.com 

26/06/2008

 Bệnh nhân 69 tuổi (khi khám bệnh năm 2003) than phiền bị khan tiếng vài tháng. Bệnh nhân uống trụ sinh (vì nghĩ bệnh nhân bị viêm nhiễm trùng cổ họng) nhưng không hết. Chuyển bệnh nhân sang bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng.

Bác sĩ tai mũi họng khám bệnh cho thấy tai bệnh nhân bình thường, không bị lủng màng nhĩ. Màng nhày mũi bình thường. Không bị chảy nước mũi hay có máu mũi. Không thương tích mũi. Khám mồm miệng và lưỡi bình thường. Khám thanh quản bệnh trái bị sưng, và dây thanh âm bị liệt bên trái.

Bệnh nhân từ chối không làm sinh thiết và sau đó bị vấn đề bảo hiểm sức khỏe đã phải gián đoạn theo dõi.

Sau đó bệnh nhân trở lại, được chuyển gặp bác sĩ tai mũi họng khác tại một trung tâm y khoa đại học. Thử nghiêm sinh thiết cho biết bệnh nhân bị ung thư có vẩy nơi thanh quản. Bệnh nhân được điều trị bằng xạ trị và hóa học. Bệnh nhân không muốn giải phẫu. Từ đó bệnh nhân hết than phiền bị khan cổ họng, không nóng lạnh, ói mửa, tiêu chảy, khó nuốt hay đau tai mũi họng. Bệnh nhân hiện đang theo dõi bởi một bác sĩ tai mũi họng và một bác sĩ chuyên khoa ung thư.

Kết quả thử nghiêm bệnh lý học sinh thiết năm 2003, cho biết bệnh nhân bị ung thư thanh quản bên trái (invasive moderately differentiated non-keratinizing squamous cell carcinoma). Chụp hình cắt lớp CT theo dõi tháng giêng năm 2007 cho thấy vùng dưới thanh môn (subglotting) không đối xứng, nhưng không thấy u bướu hay hạch bạch huyết. Bệnh nhân được chụp hình PET để truy tầm di căn. Không thấy gì.

Bệnh nhân có tiểu sử hút thuốc lá nặng, nhiều năm, nhưng bây giờ đã bỏ hút thuốc lá, sau khi biết bị ung thư thanh quản.

 

Theo tài liệu của Viện Ung Thư Hoa Kỳ thì phần lớn ung thư thanh quản thuộc loại tế bào có vẩy (squamous). Uống rượu hay hút thuốc là 2 nguyên nhân chính gây ung thư thanh quản. Bệnh nhân khám bệnh bác sĩ thường than phiền đau cổ họng hay ho mà không dứt bệnh, đau khi nuốt hay khó nuốt, đau tai, có cục bướu ở cổ, giọng nói thay đổi hay khan tiếng. Bác sĩ khám bệnh và nôi soi cổ họng. Chụp hình cắt lớp CAT hay MRI để muốn thấy rõ ràng, muốn biết chi tiết bướu ung thư hơn. Thử nghiêm sinh thiết để xác định bệnh lý học ung thư thanh quản. Chụp hình nuốt chất phản quang (barium swallow) để coi thực quản có sao không.

 

Cần định bệnh và phân loại giai đoạn ung thư thanh quản. Giai đoạn 0, giai đoạn 1. giai đoạn 2, giai đoạn 3 hay giai đoạn 4.  

Điều trị ung thư thanh quản tùy thuộc từng giai đoạn, giải phẫu hay không giải phẫu, phối hợp với xạ trị, hoá học trị liệu. Bác sĩ chuyên khoa ung thư sẽ giải quyết trị liệu từng trường hợp với mỗi bệnh nhân.

 

 

Cao Mỡ Trong Tiểu Đường và Phó Cường Giáp Trạng

Ngo Manh Tran,M.D Ph.D.  www.yduocngaynay.com 

22/05/2008

Bs Donald A. Smith khuyến cáo điều trị bệnh cao mỡ (hyperlipidemia) cho bệnh nhân tiểu đường loại 2. Cần hạ thấp lượng cholesterol xấu (bad cholesterol, LDL) xuống thấp dưới 70mg/dl. Cần tăng cao lượng thuốc statins điều trị cao mỡ. Có thể dùng Fibric acids điều trị bệnh nhân tiểu đường loại 2, khi mức mỡ triglycerides cao hơn 200mg/dl và cholesterol tốt (HDL) thấp dưới 40mg/dl. Đạt được mức độ giảm thấp LDL và tăng cao HDL giảm nguy cơ bệnh tim mạch không thua gì khi dùng statins. Niacin cũng có thể nâng cao HDL. Tác giả khuyến cáo tổng hợp thuốc niacin và một thuốc statin.

Trang 897 có những câu hỏi về bệnh ngoài da, đặc biệt bệnh ngoài da do chạm phải những chất bên ngoài, bệnh ngoài da dị ứng thuốc giảm đau NSAID, bệnh ghẻ ngứa ngoài da và ở dương vật, v…v…

Trang 905 có những câu đố điện tâm đồ tim đâp thất nhịp của Bs Rihard A. Harrison và các đồng nghiệp.

Trang 933 có môt trường hợp lâm sàng nói về một bệnh nhân lớn tuổi bị đau bụng và sau được biết bị bệnh cường phó giáp trạng (primary hyperthyroidism).

Trong báo Journal Watch General Medicine, May 22, 2007, có tường trình nhiều trường hợp bất chợt khám phá bệnh nhân bị cường phó giáp trạng sau khi thử máu thấy chất calcium lên cao (trung bình khoảng 10.8 mg/dl).

Trong Medscape Family Medicine, Bs Will Boggs tóm tắt bài của Bs Claudio Marcocci cùng các đồng nghiêp đăng trong báo J. Clin. Endocrinol Metabolism, 92: 3114, 2007), cho biết giải phẫu giúp điều trị bệnh cường phó giáp trạng nhẹ (mild hyperparathyroidism).

 

Hoá Chất Chữa Lửa Đồng Dạng Độc Tố PBDEs

Ngo Manh Tran,M.D Ph.D.  www.yduocngaynay.com 

17/04/2008

 

Năm 1998, nghiên cứu tại Thụy Điển cho biết PBDEs nhiễm vào sữa  người. Sau đó thì tơí năm 2004, khối liên hiệp Âu Châu cấm không cho dùng Penta- và OctaBDE.

Vài nghiên cứu ở Gia Nã Đại cho biết trong đồ ăn như cá salmon, thịt bò xay, bơ và phó mát có chứa một lượng đáng kể hóa chất PBDEs. Mặc dù chưa cấm, nhưng mọi người vẫn e ngại không an toàn.

Có vài nghiên cứu cho rằng những hóa chất kể trên có thể làm gan bị nhiễm độc, tuyến giáp trạng bị nhiễm độc, và hệ thống thần kinh phát triển bị trúng độc.

Cũng cần nói thêm:

1) 5% phụ nữ Mỹ chứa độc chất PBDEs trong cơ thể,

2) Sữa các bà mẹ sống trong vùng Tây Bắc Thái Bình Dương chứa độc chất PBDEs 20-40 lần cao hơn  các phụ nữ sống ở Nhật Bản và Âu Châu,

3) Trong một thử nghiệm PBDEs cho 10 người ở tiểu bang Washington, thì người nào cũng nhiễm PBDEs. Lượng PBDEs ngang vơí lượng độc tố trong phòng thử nghiệm có tác dụng nguy hại hệ thống sinh sản,

4) Ngay cả máu trong cuống nhau trẻ sơ sinh cũng chứa PBDEs.

Kể từ 1 tháng Giêng 2008, California cấm bán penta- và octa- PBDE hoặc tất cả mọi sản phẩm chứa những hóa chất kể trên. Tháng 4, 2007, tiểu bang Washington đã cấm dùng PBDEs. Tháng Năm 2007, tiểu bang Maine cũng đã cấm dùng DecaBDE.

Có một điều làm chúng ta suy nghĩ là hóa chất đồng dạng vơí PBDE hiện được đang được dùng để ngăn chặn lửa cháy.

Tham Khảo:

http://www.watoxics.org

/files/pbde-health-effects

 

 

Ngo Manh Tran,M.D Ph.D.  www.yduocngaynay.com 

08/05/2008

ường trình đăng trong National Cancer Institute cho biết trong thơì gian từ năm 1986 tới 1995, số trẻ em thanh thiếu niên (từ 15 tới 19) bị ung thư là 202.2 tỉ người. Tỉ lệ ung thư trẻ em 14-19 tuổi bằng trẻ em từ 0 tới 4 tuổi, và cao hơn trẻ em tuổi từ 10 tới 14 tuổi. Đứng đầu là ung thư bạch huyết Hogkin, ung thư tế bào sinh dục.

Tài liệu nghiên cứu trong báo Medical Pediatric Oncology, 2002, cho biết:

Khoảng 150 tơí 200 triệu trẻ em thanh thiếu niên, tuổi từ 15 tới 19, bị ung thư mỗi năm. Nguyên nhân trẻ em bị ung thư chưa rõ vì sao, nhưng nhiều nghiên cứu cho thấy giáo dục y tế cũng như khuyến khích y khoa phòng ngừa giảm nguy cơ ung thư trẻ em. Thí dụ tránh ra nắng giảm nguy cơ ung thư da melanoma hay loại trừ bệnh viêm gan B giảm nguy cơ ung thư gan.

References: 

1) Cancer Treatment Review, 33: 631-645, 2007

2) National Cancer Institute: http://www.seer.cancer.

gov/publications/childhood

/adolescents.pdf

3) Med Pediatr Oncol., 39:149-55, 2002

 

Trang Sức khoẻ

Năng Lượng Sinh Học và Vi Trùng E. Coli

        Ngo Manh Tran, M.D Ph.D.      29/05/2008

 

Bản tin từ Đại Học Y Khoa California, Los Angeles, đăng trong Nature 3, 2008, cho biết Gs James Liao đã khám phá nguyên tắc sản xuất năng lượng sinh học từ vi trùng E- Coli.

Khoa học gia thay đổi một số đường (pathways) hóa học lên men trong vi trùng E. Coli để sản xuất những phân tử rượu có năng lượng cao, và nhờ đó có thể dùng E. Coli sản xuất isobutanol từ glucose. Những chất rượu năng lượng cao chứa carbon trong isobutanol, 1-butanol, 2-methyl-1-butanol, 3-metyl-1-butanol, và 2-phenylbutanol.

Năng lượng sản xuất isobutanol từ E. Coli cao hơn năng lượng sản xuất ethanol từ bắp ngô, đường hay chất cellulose trong rác.

Rượu butanol chứa nhiều số octane có năng lượng cao hơn ethanol. Bởi vậy khi đốt cháy butanol, năng lượng sẽ mạnh ngang như khi đốt dầu lửa.

Một nhóm khoa học gia khác thuộc Đại Học Alberta, Gia Nã Đại cũng tuyên bố sản xuất năng lượng sinh học từ E. Coli thành butanol.

Dùng máy móc trong phòng thí nghiệm tại Đại Học Alberta đốt cháy butanol sinh học đã đạt được những kết quả khả quan.

Tưởng cũng cần thêm là khoảng 2 năm về trước, Rainer Kalscheuer và các cộng sự viên đã nghiên cứu sản xuất năng lượng sinh học từ vi trùng E. Coli, đăng trong báo Microbiology năm 2006.

Chúng ta thường biết E. Coli gây nhiều bệnh nguy hiểm như trúng thực, nhiễm trùng, có thể tử vong. Nhưng đây là lần đầu tiên chúng ta biết về lợi ích của E. Coli cho nhân loại.

Tham Khảo:

1) Nature 3, 2008.

2) p://www.checkbiotech.org/green_News_Biofuels.aspx?Name=biofuels&infoId=16059

3) Microbiology, 152: 2529, 2006.

 

Thuốc Hạ Mỡ Vytorin

        Ngo Manh Tran, M.D Ph.D.  www.yduocngaynay.com     01/05/2008

Thuốc Hạ Mỡ Vytorin
Nhiều bệnh nhân uống thuốc hạ cao huyết áp biết Vytorin. FDA (January 25, 2008) vừa thông báo cho biết họ đang phân tích lại kết quả nghiên cứu của hãng thuốc và so sánh hậu quả tác dụng việc dùng tổng hợp Simvastatin (Zocor) và Ezetimibe (Zetia) với thuốc simvastatin không thôi trong việc giảm chất mỡ cholesterol điều trị bệnh nhân xơ cứng động mạch. Trong thuốc viên Vytorin có chứa Zocor và Zetia.
FDA sẽ phán quyết sau khi hoàn tất kết quả nghiên cứu kể trên.
Trong giai đoạn đầu cho thấy tảng cholesterol trong động mạch cổ không thay đổi khi dùng thuốc tổng hợp Simvastatin và Ezetimide.
Phần nghiên cứu còn lại muốn so sánh tìm hiểu liệu Zocor và Vytorin có ảnh hưởng gì tơí nguy cơ tai biến mạch máu não và bệnh tim mạch hay không. http://www.fda.gov/cder/drug/early_comm/ezetimibe_simvastatin.htm.


FDA Cho Phép (January 18, 2008) Thay Đổi Điều Lệ Dùng Thuốc Ngừa Thai Dán Ngoài Da
Kết quả dựa theo nghiên cứu thuốc cao dán ngừa thai cho phụ nữ tuổi từ 15 tớ 44. Kết quả sơ khởi cho thấy dùng thuốc cao dán ngoài da ngừa thai đã tăng nguy cơ bị máu đông trong tĩnh mạch (venous thromboembolism, VTE). FDA coi lại kết quả nghiên cứu i3Ingenix năm 2006 cho thấy vài phụ nữ dùng thuốc cao dán ngừa thai tăng nguy cơ tĩnh mạch nghẹt máu cục gấp 2 lần. Tuy nhiên, trong thử nghiệm thứ 2 do Cơ Quan BCDSP (Boston Collaborative Drug Surveillance Program) không thấy bị nguy cơ VTE khi so sánh vơí phụ nữ dùng thuốc uống chứa 30 micrograms estrogen và 35 micrograms Progestin Norgestimate (30-35micrograms estrogen và progestin norgstimate). Khi dùng cao dán, lượng thuốc estrogens cao hơn 60% so vơí lượng thuốc khi uống ngừa thai chứa estrogen 35 micrograms.
Theo FDA thì thuốc cao dán ngừa thai an toàn và có hiệu quả nhưng phải dùng đúng cách chỉ dẫn và nếu phụ nữ có những thắc mắc muốn so sánh sự lợi hại của thuốc khi dùng cao dán ngừa thai và nguy cơ máu cục nghẹt tĩnh mạch VTE thì cần bàn luận vơí bác sĩ để hiểu rõ hơn trưóc khi dùng thuốc. druginfo@fda.hhs.gov.


Phương Pháp Mới Truy Tầm Siêu Vi Trùng Cúm
FDA cho phép (January 18, 2008) dùng phương pháp mới ProFlu+ truy tầm siêu vi trùng cúm (siêu vi trùng cúm A và siêu vi trùng cúm B) hay siêu vi trùng gây bệnh phổi (RVS, Respiratory syncitial A và B). Việc truy tầm có thể hoàn tất trong vòng vài ba tiếng đồng hồ.

 

Thuốc Nexavar và Chantix

FDA Cho Phép Dùng Thuốc Nexavar Điều Trị Ung Thư Gan Không Thể Chữa Bằng Giải Phẫu

        Ngo Manh Tran, M.D Ph.D.  www.yduocngaynay.com     20/03/2008

FDA cho phép dùng thuốc Soranefib (Nexavar) điều trị ung thư gan tên là Hepatocellular Carcinoma, khi ung thư không thể điều trị được bằng giải phẫu. Bệnh nhân dùng thuốc Nexavar có thể sống lâu hơn 2.8 tháng so sánh vơí bệnh nhân không dùng thuốc này. Nexavar là thuốc kìm hãm kinase. Nexavar kìm hãm những phân tử trong tế bào ung thư liên hệ thành lập mạch máu trong u bướu ung thư và tế bào tử vong. FDA cho phép dùng Nexavar dựa theo kết quả thử nghiệm cho 602 bệnh nhân ung thư gan so với bệnh nhân không dùng thuốc Nexavar. Bệnh nhân dùng Nexavar sống thêm 10.7 tháng so vơí bệnh nhân không dùng Nexavar sống thêm 7.9 tháng. Khi dùng Nexavarar, u bướu ung thư tiến triển chậm hơn.

Adenocarcinoma là loại ung thư từ mô tuyến. Trong việc phân loại thì ung thư adenocarcinoma không nhất thiết phải phát xuất từ tuyến mà từ mô có khả năng bài tiết như loại tuyến. Adenocarcinoma thường thấy ở súc vật hay người.

Muốn biết thêm chi tiết, xin vào: http://www.fda.gov/bbs/topics/NEWS/2007/NEW01748.html

FDA khuyến cáo Khi bệnh nhân dùng thuốc Chantix:

Nếu bệnh nhân dùng Chantix trong việc cai thuốc lá mà thấy tâm tính thay đổi hay cách cư xử thay đổi thì phải báo cho bác sĩ điều trị biết. Ngược lại, các bác sĩ cho bệnh nhân dùng thuốc Chantix trong việc cai thuốc lá cũng phải theo dõi bệnh nhân. FDA đang nghiên cứu muốn xác định vấn đề an toàn khi dùng Chantix. Bệnh nhân cũng nên biết Chantix có một số công phạt khác như làm buồn ngủ, vậy phải cẩn thận khi lái xe hay sử dụng những máy móc. Muốn biết thêm chi tiết, xin vào:

http://www.fda.gov/bbs/topics/NEWS/2007/NEW01749.html

 

Bệnh Tâm Thần Phân Liệt – Bs Thái Minh Trung

             28/02/2008

Hỏi:

Kính chào Bác sỹ, em hiện đang sống ở Việt Nam, em có một số thắc mắc mong Bác sỹ giải đáp giùm. Bạn trai em năm nay 29 tuổi, bị bệnh tâm thần phân liệt dạng hoang tưởng đã gần 3 năm, luôn có suy nghĩ là có người (cấp trên ở công ty cũ) theo dõi, chi phối và điều khiển suy nghĩ của mình. Khi mắc bệnh được khoảng 6 tháng gia đình mới đưa đi gặp bác sỹ tâm thần và được cho uống thuốc đều đặn từ đó đến nay. Sau khi uống thuốc chừng 2 tháng thì đi làm lại. Hiện bạn em là lập trình viên cho một công ty viễn thông. Chuyên môn của anh ấy luôn được định giá cao, tuy nhiên trong cuộc sống cũng như công việc lại thường thua thiệt so với mọi người xung quanh. Em muốn biết điều này có là nguyên nhân gây bệnh hay có ảnh hưởng đến bệnh? Mong bác sỹ cho em biết diễn tiến của bệnh và cách điều trị. Liệu bệnh có được chữa khỏi nếu bệnh nhân chịu hợp tác tuyệt đối với bác sỹ? Công việc tương đối áp lực có ảnh hưởng đến bệnh hay có cần thiết phải tìm một công việc nhẹ nhàng? Nếu kết hôn thì khả năng di truyền bệnh cho con cái?

Em rất mong nhận được hồi âm từ bác sỹ.

Chúc bác sỹ luôn dồi dào sức khoẻ.

Em chân thành cảm ơn.

Bs Thái Minh Trung trả lời:

Chào cô,

Theo những triệu chứng cô kể thì bạn trai của cô bị chứng Tâm thần phân liệt dạng hoang tưởng nghi kỵ (paranoid delusion). Những người bị bịnh này có nhiều hạn chế trong sự giao thiệp vì không ít thì nhiều, họ hay nghi ngờ người khác. Họ thường tránh hồi hộp và rất thụ động trong những buổi thảo luận. Có lẽ vì vậy mà bạn trai cô, mặc dù có đủ tài năng nhưng không được thành công trong công việc. Ngoài ra bịnh này làm thùy trán của não bộ (frontal lobe) hoạt động ít lại. Cho nên việc suy luận và quyết định không được nhanh chóng như lúc chưa bịnh. Một phần khác phản ứng phụ (side effect) của thuốc cũng dễ làm cho b/n mệt mỏi và chậm chạp.

Cách trị bịnh: chúng tôi không biết bạn cô uống thuốc gì. Nhưng nếu anh ấy đi làm trở lại được thì thuốc đã trị đúng bịnh. Đây là một loại bịnh kinh niên nên lúc nào bạn cô cũng phải cần uống thuốc. Nếu bỏ thuốc thì bịnh tái phát. Mỗi lần tái phát bịnh sẽ nặng hơn.

Anh ấy cần tránh những việc làm có nhiều áp lực gây căng thẳng tinh thần hoặc những công việc đòi hỏi phải quyết định nhiều.

Giấc ngủ là kim chỉ nam. Nếu ngủ không được là triệu chứng bịnh sắp tái phát. Bịnh này không tri khỏi được phải cần uống thuốc suốt đời. Tuy nhiên vẫn có vài trường hợp ngoại lệ là bịnh tự nó hết, nhưng mà hết sức là hiếm.

Lạm dụng rượu và những loại thuốc kích thích như thuốc lắc (Extasy) sẽ làm bịnh nặng hơn và khó trị hơn. Tuyệt đối phải tránh xa rượu chè. Cần tránh hút thuốc vào đêm vì sẽ làm khó ngủ.

Nếu gặp phải người chồng bị bịnh này mà còn uống rượu thì cuộc sống gia đình sẽ rất khó khăn. Có nguy cơ bạo hành gia đình hay ngược lại bịnh nhân có những hành động tự tử vì triệu chứng hoang tưởng làm người đó khổ sở vô cùng. Ngược lại xác suất bịnh nhân được chữa trị đúng mức và bịnh ít tái phát ở những b/n có gia đình chăm sóc và nâng đỡ.

 Di truyền: Bịnh này có yếu tố di truyền tương đối yếu. Nếu cha hay mẹ bị bịnh thì 10% đứa bé sẽ bị bịnh này. Nếu cha mẹ bị bịnh thì gần 40% đứa bé sẽ bị bịnh này.

Nếu trong gia đình có người bị bịnh (vợ chồng thì bình thường) thì xác suất đứaa con bị bịnh là 5% hay ít hơn.

BS Thai Minh Trung, Chuyên Khoa bệnh Tâm Thần, Giáo Sư Đại Học Y Khoa California, Irvine, Hoa Kỳ.

 

Bisphosphonates có liên quan đến đau cơ và xương nghiêm trọng, cảnh báo của FDA

             BS Đồng Ngọc Khanh  24/12/2007

Bisphosphonates có thể gây đau cơ xương nghiêm trọng đôi khi làm bịnh nhân không thể sinh hoạt bình thường được, FDA cảnh báo như trên vào ngày Thứ Hai 7/1/2008.

Binh nhân có thể cảm nhận đau nghiêm trọng trong nhiều ngày, nhiều tháng hoặc nhiều năm sau khi bắt đầu dùng thuốc biphosphonates. Một số trường hợp khi ngưng dùng thuốc,  đã hết đau ngay . Mặc dầu trong thông tin kê đơn nhà sản xuất đã có cảnh báo về đau cơ xương sau khi dùng biphosphonates nhưng hình như đã không được các thầy thuốc xem trọng, FDA cho biết.

 FDA ghi nhận cảm giác đau nghiêm trọng này khác với những triệu chứng đau ở giai đoạn đầu dùng thuốc (vd., sốt, ớn lạnh, đau xương) thường xảy đến khi dùng các chế phẩm biphosphonates tiêm tĩnh mạch, hoặc loại viên uống mỗi tuần một lần hay mỗi tháng một lần.Theo FDA các triệu chứng ban đầu này thưòng sẽ giảm đi sau vài ngày dùng thuốc.

Thầy thuốc sẽ phải đánh giá tình trạng và mức độ đau sau khi dùng Biphosphonates để quyết định có tiếp tục sử dụng thuốc này cho bịnh nhân nữa hay không.

Các biệt dược có chứa Biphosphonates là: Actonel, Actonel+Ca, Aredia, Boniva, Didronel, Fosamax, Fosamax+D, Reclast, Skelid, và Zometa.

Bs Đồng Ngọc Khanh

Nguồn:  www.fda.gov

 

Dược Phẩm Mới 

           Ngo Manh Tran, M.D Ph.D.  www.yduocngaynay.com  20/12/2007

FDA vừa cho phép (October 17) dùng thuốc chích gân mới Doripenem (Doribax) điều trị bệnh nhiễm trùng đường tiểu nặng hay nhiễm trùng bụng.

Như vậy đây là một loại thuốc rất cần thiết điều trị bệnh nhiễm trùng nặng khi bệnh nhân phải nhập viện.

Thuốc không được phép dùng cho phụ nữ có thai. Hiện giờ thuốc chưa được xác định có thể dùng cho trẻ em hay không. Muốn tìm hiểu những công phạt của thuốc, xin vào: http://www.fda.gov/bbs/topics/NEWS/2007/NEW01728.html

Thuốc Mới Trị HIV: FDA cho phép (October 16) dùng thuốc mới trị bệnh nhiễm HIV tên là Raltelgravir. Thuốc Raltelgravir kìm hãm phân hóa tố không ngăn chặn siêu vi trùng HIV sinh sản. Bởi vậy khi dùng Raltelgravir thì lượng siêu vi HIV sẽ xuống thấp trong máu và lượng bạch cầu sẽ lên cao. Tức là CD4+(T) sẽ tăng cao. Hiện chưa biết thuốc có thể dùng lâu được không và cũng chưa biết thuốc có thể dùng cho trẻ em dưới 16 tuổi được không. Chưa biết thuốc có thể dùng cho đàn bà mang thai. Vậy cần hỏi bác sĩ điều trị. Thuốc cũng có một số công phạt. Xin tham khảo thêm, nếu cần: http://www.fda.gov/bbs/topics/NEWS/2007/NEW01726.html

FDA lưu ý (October 17) một số cá nhập cảng họ Puffer, bao gồm những cá sau đây: cá fugu, bok, globefish, swellfish, balloonfish, hay sea squab. Những loại cá kể trên có thể chứa những độc tố tác dụng hệ thống thần kinh, nguy hiểm đến tính mạng. Nhưng theo FDA thì cá Puffer nhập cảng từ Nhật hay bắt được dọc ven bờ biển Đại Tây Dương, Hoa Kỳ, từ Virginia tơí Nữu Ước, coi là an toàn. Những triệu chứng khi bị trúng độc tố từ cá Puffer gồm có đau nhói xung quanh môi miệng hay chân tay. Bệnh nhân cảm thấy  nói năng khó khăn, đi đứng mất thăng bằng, tê liệt và bắp thịt bị yếu đi. Đôi khi bệnh nhân bị ói và tiêu chảy. Trong trường hợp bệnh nặng, bộ máy hô hấp bị tê liệt và tử vong.

FDA phải đưa ra thông cáo kể trên là bởi trong mấy năm vừa qua, một số cá Puffer được nhập cảng bất hợp pháp từ ngoại quốc, đã gây ra những triệu chứng kể trên. www.cfsan.fda.gov/~dms/adpuffer.html

 

 
 
Biểu Hiện Di Thể (Gene) Trong Cơn Shock Nhiễm Trùng vào Máu   

           Ngo Manh Tran, M.D Ph.D.  www.yduocngaynay.com  08/11/2007

 

Bs Hector Wong, giáo sư y khoa Nhi Đồng tại Đại Học Cincinnati nghiên cứu biểu hiện gene cho trẻ em khi bị cơn shock do nhiễm trùng vào máu.

Phân tích mẫu máu 57 trẻ em khi bị nhiễm trùng máu có 63 biểu hiện gene khác nhau. Trong đó có 2 loại metallothionein. Khi mức metallothionein tăng cao và mức kẽm xuống thấp sẽ tăng cao nguy cơ tử vong.

Chuyên gia dùng kỹ thuật “micro-array” bằng những con chips phân tích mẫu máu lấy từ 15 bệnh nhân không bị cơn shock, so vơí 42 bệnh nhân lên cơn shock vì  nhiễm trùng máu. Trong số 42 bệnh nhân bị shock do nhiễm trùng vào máu có 9 trẻ em bị tử vong.

Các chuyên gia hiện đang nghiên cứu mức kẽm tìm hiểu thêm nguyên nhân vì sao thấp mức kẽm trong cơ thể liên hệ nguy cơ tử vong trong trường hợp trẻ bị shock do nhiễm trùng vào máu.

Trong một nghiên cứu khác do Ts Shu Fang Liu thuộc Trung Tâm The Feistein Institute đăng một loạt bài tại nhiều báo y khoa đặt trọng tâm tìm hiểu phân tử Lipopolysaccharide (LPS) một biểu hiện gene gây “tiền viêm, pro-inflammatory” và thương tích cho nhiều bộ phận trong cơ thể. LPS là một độc tố vi trùng, giúp nghiên cứu tìm hiểu sinh bệnh lý hiện tượng shock do nhiễm trùng máu.

Gs Louise C. Showe thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu The Wistar cũng đã dùng kỹ thuật DNA micro-array tìm hiểu những biểu hiện gene trong bệnh lý, trong đó gồm tế bào ung thư máu lymphoma, bệnh xơ cứng, bệnh mập phì, và đặc biệt hội chứng shock do nhiễm vi trùng vào máu.

Các chuyên gia tại Wistar đã thử nghiệm chất LPS vào chuột bình thường, không bệnh tật, và thấy phân tử LPS đã thay đổi biểu hiện gene. Khi chuột được chích BCG  (thuốc chủng vi trùng lao bị làm yếu đi) 3 tuần lễ trước khi chích một liều nhỏ LPS thì thấy phát hiện viêm và gây shock nhiễm trùng vào máu và chuột bị tử vong.  

Nghiên cứu biểu hiện di thể (gene) liên hệ hội chứng shock do nhiễm vi trùng vào máu là một đề tài khảo cứu hấp dẫn.

Tham khảo:

1) Hector Wong et al., Physiological Genomics, July 2007.

2) SF Liu et al., Circulation, 100: 1330, 1999.

3) LC Showe et al., NYAS, 795: 413, 1996.

 

|Trang chính||Sức khỏe||Kỹ thuật||Môi trừơng||Sinh học||Vũ trụ||Vi tính||Đời sống||Đố vui để học||Liên lạc||Thời sự|

  



Lại Nói Chuyện về Vytorin

  Ngo Manh Tran, M.D Ph.D.  

www.yduocngaynay.com 

          05/06/2008


FDA (January 25, 2008) vừa thông báo cho biết đang phân tích kết quả nghiên cứu của hãng thuốc so sánh hậu quả tác dụng việc dùng tổng hợp Simvastatin (Zocor) và Ezetimibe (Zetia) với thuốc simvastatin không thôi trong việc giảm chất mỡ cholesterol điều trị bệnh nhân xơ cứng động mạch. Trong thuốc viên Vytorin có chứa Zocor và Zetia.
FDA sẽ coi lại sau khi hoàn tất kết quả nghiên cứu kể trên.
Trong giai đoạn đầu cho thấy tảng cholesterol trong động mạch cổ không thay đổi khi dùng thuôc tổng hợp Simvastatin và Ezetimide.
Phần nghiên cứu còn lại muốn so sánh tìm hiểu liệu Zocor và Vytorin có ảnh hưởng gì tơí nguy cơ tai biến mạch máu não và bệnh tim mạch.
http://www.fda.gov/cder/drug/

early_comm/ezetimibe_simvastatin.htm.
FDA Cho Phép (January 18, 2008) Thay Đổi Cập Nhật Điều Lệ Dùng Thuốc Ngừa Thai Dán Ngoài Da
Kết quả dựa theo nghiên cứu thuốc cao dán ngừa thai cho phụ nữ tuổi từ 15 tớ 44. Kết quả cho thấy dùng thuốc cao dán ngoài da ngừa thai tăng nguy cơ bị máu đông trong tĩnh mạch (venous thromboembolism, VTE). FDA coi lại kết quả nghiên cứu i3Ingenix năm 2006 cho thấy vài phụ nữ dùng thuốc cao dán ngừa thai tăng nguy cơ tĩnh mạch nghẹt máu cục gấp 2 lần. Trong thử nghiệm thứ 2 do Cơ Quan BCDSP (Boston Collaborative Drug Surveillance Program) cho thấy không bị nguy cơ VTE khi so sánh vơí phụ nữ dùng thuốc uống chứa 30 micrograms estrogen và 35 micrograms Progestin Norgestimate (30-35micrograms estrogen và progestin norgstimate). Khi dùng cao dán, lượng thuốc estrogens cao hơn 60% so vơí lượng thuốc khi uống ngừa thai chứa estrogen 35 micrograms.
Theo FDA thì thuốc cao dán ngừa thai an toàn và có hiệu quả nhưng cần dùng đúng cách chỉ dẫn và nếu phụ nữ có những thắc mắc muốn so sánh sự lợi hại của thuốc khi dùng cao dán ngừa thai và nguy cơ máu cục nghẹt tịnh mạch VTE thì cần bàn luận vơí bác sĩ để hiểu rõ hơn trưóc khi dùng thuốc. druginfo@fda.hhs.gov.
Phương Pháp Mới Truy Tầm Siêu Vi Trùng Cúm
FDA cho phép (January 18, 2008) dùng phương pháp mới ProFlu+ truy tầm siêu vi trùng cúm (siêu vi trùng cúm A và siêu vi trùng cúm B) hay siêu vi trùng gây bệnh phổi (RVS, Respiratory syncitial A và B), trong vòng vài ba giờ đồng hồ là xong. ProFlu+ vừa chính xác, vừa nhanh hơn những phương pháp thử nghiệm khác. Tuy nhiên, thử nghiệm dương tính không thể loại trừ những nguyên nhân gây nhiễm trùng khác hoặc siêu vi trùng tìm thấy đặc thù với bệnh hay triệu chứng bệnh. http://www.fda.gov/bbs/topics/

NEWS/2008/NEW01780.html
FDA cho phép dùng phương pháp di thể (gene) mới TOP2A Fish truy tầm nguy cơ ung thư vú khi bị tái phát hoặc tiên đoán thời gian bệnh nhân vú sống sót. Thử nghiệm dựa theo nguyên tắc tìm hiểu khi nào vài biểu hiện di thể thay đổi trong u bướu. Thay đổi di thể TOP2A trong ung thư vú cho phép tiên đoán ung thư vú tái phát hay bệnh nhân không thể kéo dài được thời gian sống sót. Thử nghiệm này thích hợp cho bệnh nhân bị ung thư vú tiền mãn kinh hay u bướu ung thư thay đổi kích thước, đang di căn vào hạch bạch huyết. Phương pháp này thể tiên đoán khi nào ung thư vú tái phát hay ước lượng thơì gian bệnh nhân ung thư vú sống sót. http://www.fda.gov/bbs/topics/

NEWS/2008/NEW01774.html.
 

 

Đổ Mồ Hôi Đêm

  Ngo Manh Tran, M.D Ph.D.  

www.yduocngaynay.com 

          15/05/2008

 
Trong báo The Journal of Family Practice số 4, June 2007 có bài nói về đổ mồ hôi đêm. Theo các tác giả Cindy W. Su, Sean Gaskie và C. Hitchcock thì tìm hiểu tiểu sử bệnh lý rất quan trọng trong việc chuẩn định bệnh đổ môi đêm. Bệnh nhân thường than phiền bị đổ mồ hôi đêm mà trời không mấy gì nóng nực. Phụ nữ bị mặt đỏ phừng (hot flash) đổ mồ hôi đêm và thường dùng kích thích tố chữa giảm mồ hôi đêm. Những nguyên nhân khác làm đổ mồ hôi đêm như ho lao, ung thư bạch huyết, nhiễm HIV, hội chứng ợ chua, và heart burn. 
Một số thuốc trị bệnh trầm cảm cũng có thể làm đổ mồi hôi đêm.
Nhiều y sĩ muốn thử nghiệm tìm hiểu truy tầm đổ mồ hôi đêm, nhưng cũng có y sĩ cho rằng việc này không cần thiết. Những thử nghiệm từng được nêu ra như đếm máu, đo mức kích thích tố thùy não (TSH), đo độ lóng tụ hồng huyết cầu, thử lao và thử HIV, chụp hình phổi.
Theo tác giả  Anthoni J. Viera cùng các đồng nghiệp tường trình trong báo American Family Physicians, March 1, 2003, còn đề nghị thêm chụp hình cắt lớp bụng, chụp hình cắp lớp phổi, sinh thiết tủy xương.
Theo nhóm bác sĩ Cindy W. Su và các đồng nghiệp thì nếu thử nghiệm không thấy gì, y sĩ  thử cho bệnh nhân thuốc chống ợ chua. Bác sĩ cần theo dõi tình trạng bệnh nhân liên hệ nhiệt độ trong cơ thể. Tuy nhiên y sĩ cần loại bỏ nghi ngờ bệnh nhân có thể bị viêm nội mô hay viêm ung thu bạch huyết.
Một tường trình khác cho biết kích thích tố trị liệu có thể giảm hiện tượng đổ mồ đêm và mặt nóng phừng của phụ nữ khi tắt kinh (75%).
Thêm một nghiên cứu khác nữa cho rằng chữa bằng thuốc giảm độ ợ chua heart burn có thể đạt được kết quả giảm mồ hôi đêm tới 80%. Một số thuốc dùng để thoa trực tiếp chỗ đổ mồ hôi như thoa ngoài da aluminum chloride hexadrate (Drysol), antiperspirants, scopolamine, hay phenoxylbenzamine hydrochloride (Dibenzyline).
Nhưng ngược lại, một số thuốc sau đây có thể gây đổ mồ hôi đêm: Thuốc chữa bệnh ưu trầm, thuốc chữa bệnh nhức nửa đầu, thuốc giảm nhiệt, thuốc chống cholinergic (tiết acetylcholine), thuốc chống GNRH, thuốc chữa tiểu đường, thuốc chống gia cảm (sympathomimetic), và vài thứ thuốc khác trong đó phải kể: rượu, thuốc trị cao máu chặn beta (beta blockers), thuốc trị cao máu chặn calcium (calcium blockers), Bromocriptine, v. v. v. Xin coi thêm chi tiết trong Evaluations of night sweats, trong báo Journal of Family Practice, 56: 493, 2007.
Trong mục này, các tác giả cũng nêu lên một số bệnh gây đổ mồ hôi đêm như:
1) Bệnh tuyến nội tiết, bệnh tiểu đường loại Diabetes insipidus, cường giáp trạng, mức đường hạ thấp trong máu, bướu nội tiết như pheochromocytoma (u bướu tế bào ưa nhuộm crôm), carcinoid tumor (u tế bào ưa nhuộm chất bạc), hoặc tình trạng sau khi bệnh nhân bị cắt bỏ ngọc hoàn,
2) Bệnh nhiễm trùng như nhiễm trùng nội mô, HIV, Infectious mononucleosis, abcess phổi, bệnh lao phức tạp Mycobacterium avium complex, viêm xương và bệnh lao, nhiễm trùng nấm coccidiomycosis hay histoplasmosis,
3) Những nguyên nhân ung thư như: ung thư máu trắng, ung thư nhiếp hộ tuyến, ung thư thận, và nhiều loại ung thư khác.
4) Một số bệnh thần kinh như tự động mất phản xạ (autonomic dysreflexia), bệnh thần kinh tự trị (autonomic neuropathy), tai biến mạch máu não.
5) Hiện tượng thay đổi sinh lý sau khi uống rượu lâu năm, đột nhiên ngưng uống rượu (withdrawal), sau khi dùng ma túy lâu năm như cocaine hay opioids.
6) Sau hết, hội chứng mệt mỏi kinh niên, ợ chua, ợ nóng (heart burn), tắt kinh, ngủ ngáy nghẹ thở, lên cơn bấn loạn, có thai, đau ngực sau khi động mạch tim co thắt mạnh (Prinsmetal), viên mạch máu Takayasu, viêm mạch máu thái dương..., đều có thể làm mồ hôi ra ban đêm. Cần đọc thêm những triệu chứng khác khi bị cơn đau tim trong tham khảo số 4, để biết và kịp thời cấp cứu. 
Tài Liệu Tham Khảo:
1) Journal Family Practice, 58: 493, 2007.
2) American Family Physicians, 67: 1079, 2003
3) Có thể đọc thêm nhiều tài liệu khác tại: Medline Literature từ 1966 tới 2001, Harrison's Principle thứ 13th.

 

 

Thuốc Beta-Blockers Trị Cao Huyết Áp

  Ngo Manh Tran, M.D Ph.D.  

www.yduocngaynay.com 

          24/04/2008

Trong  báo Jl Family Practice tháng giêng 2008 có một bài của 2 bác sĩ Srah-Anne Schumann và John Hickner, thuộc Đại Học Y Khoa Chicago, nói về người già dùng thuốc beta-blockers  trị cao máu. Trong tường trình có nhắc lại hướng dẫn JNC  7 khuyến cáo bệnh nhân uống thuốc lợi tiểu trước nhất và, nếu cần sau đó, dùng thêm những thuốc trị cao huyết áp beta-blockers, calcium-channel blockers, angiotensin-converting enzyme inhibitors, và angiotensin receptor blockers.

Nghiên cứu Cochrane 2007 so sánh dùng thuốc trị cao máu beta-blockers cho bệnh nhân từ 18 và lớn tuổi hơn. Kết quả cho thấy dùng beta-blockers không công hiệu nhiều trong việc giảm nguy cơ tai biến mạch máu não, cũng không hiệu quả trong việc điều trị bệnh động mạch vành tim, khi so sánh vơí bệnh nhân không dùng beta-blockers. Công hiệu còn kém hơn khi so sánh vơí thuốc calcium channel blockers, renin-angiotensin system inhibitors, và thuốc lợi tiểu thiaziades. Nghiên cứu này cho người lớn tuổi và chưa thể kết luận liên hệ tuổi tác.

Nghiên cứu CMAJ tổng kết 21 thử nghiệm tìm hiểu vai trò beta-blockers trong việc điều trị cao huyết áp phòng ngừa bệnh tim mạch bao gồm tử vong, nhồi máu cơ tim chưa đưa tơí tử vong, và tai biến mạch máu não chưa đưa đến tử vong. Kết quả phân tích theo tuổi tác trung bình 60 tuổi trở lên và trung bình dưới 60 tuổi. Kết quả thử nghiệm cho thấy thuốc beta-blockers và những thuốc trị huyết áp khác đều công hiệu như nhau cho người còn trẻ. Tuy nhiên beta-blockers tăng cao nguy cơ tử vong, tăng cao nguy cơ tai biến mạch máu não, hay nhồi máu cơ tim.

Cả 2 kết quả nghiên cứu kể trên cho thấy cần lưu ý việc dùng beta-blockers là thuốc thứ nhất trị cao huyết áp, đặc biệt cho người già 60 tuổi trở lên.

Trong bài viết này cũng nêu lên việc dùng beta-blockers cho bệnh nhân đau ngực và suy tim, hoặc cho người già dùng beta-blockers đứng hàng thứ 3 hay thứ 4 sau ACE inhibitor, ARB, hay calcium-blocker, kể cả sau thuốc lợi tiểu.

Các tác giả cũng đề cập việc dùng thuốc Metoprolol, một loại beta-blocker, không tốn kém và có khả năng giảm nguy cơ tử vong bệnh nhân có tiểu sử nhồi máu cơ tim hay suy  tim. Muốn biết thêm chi tiết, xin đọc  bài trong tham khảo dưới đây (1).

Trong một nhiên cứu khác do Bs Sripal Bangalore và các đồng nghiệp đăng trong báo American College of Cardiology, 2007, cho biết beta-blockers có hiệu quả trong việc điều trị suy tim, vài loại tim đập thất nhịp, bệnh tim lớn (hypertrophic obstructive cardiomyopathy), và bệnh nhân đã bị nhồi máu cơ tim trước đây (2).

Tham Khảo:

1)      Jl of Family Practice, 57: 18, 2008.

2)      Jl of American College of Cardiology, 50: 563, 2007.

 

© Copyright 2003 khoa học@đời sống
All rights reserved.