Bệnh nhân 69 tuổi (khi khám bệnh
năm 2003) than phiền bị khan tiếng vài tháng. Bệnh nhân uống trụ sinh
(vì nghĩ bệnh nhân bị viêm nhiễm trùng cổ họng) nhưng không hết. Chuyển
bệnh nhân sang bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng.
Bác sĩ tai mũi họng khám bệnh cho
thấy tai bệnh nhân bình thường, không bị lủng màng nhĩ. Màng nhày mũi
bình thường. Không bị chảy nước mũi hay có máu mũi. Không thương tích
mũi. Khám mồm miệng và lưỡi bình thường. Khám thanh quản bệnh trái bị
sưng, và dây thanh âm bị liệt bên trái.
Bệnh nhân từ chối không làm sinh
thiết và sau đó bị vấn đề bảo hiểm sức khỏe đã phải gián đoạn theo dõi.
Sau đó bệnh nhân trở lại, được
chuyển gặp bác sĩ tai mũi họng khác tại một trung tâm y khoa đại học.
Thử nghiêm sinh thiết cho biết bệnh nhân bị ung thư có vẩy nơi thanh
quản. Bệnh nhân được điều trị bằng xạ trị và hóa học. Bệnh nhân không
muốn giải phẫu. Từ đó bệnh nhân hết than phiền bị khan cổ họng, không
nóng lạnh, ói mửa, tiêu chảy, khó nuốt hay đau tai mũi họng. Bệnh nhân
hiện đang theo dõi bởi một bác sĩ tai mũi họng và một bác sĩ chuyên khoa
ung thư.
Kết quả thử nghiêm bệnh lý học
sinh thiết năm 2003, cho biết bệnh nhân bị ung thư thanh quản bên trái
(invasive moderately differentiated non-keratinizing squamous cell
carcinoma). Chụp hình cắt lớp CT theo dõi tháng giêng năm 2007 cho thấy
vùng dưới thanh môn (subglotting) không đối xứng, nhưng không thấy u
bướu hay hạch bạch huyết. Bệnh nhân được chụp hình PET để truy tầm di
căn. Không thấy gì.
Bệnh nhân có tiểu sử hút thuốc lá
nặng, nhiều năm, nhưng bây giờ đã bỏ hút thuốc lá, sau khi biết bị ung
thư thanh quản.
Theo tài liệu của Viện Ung Thư Hoa
Kỳ thì phần lớn ung thư thanh quản thuộc loại tế bào có vẩy (squamous).
Uống rượu hay hút thuốc là 2 nguyên nhân chính gây ung thư thanh quản.
Bệnh nhân khám bệnh bác sĩ thường than phiền đau cổ họng hay ho mà không
dứt bệnh, đau khi nuốt hay khó nuốt, đau tai, có cục bướu ở cổ, giọng
nói thay đổi hay khan tiếng. Bác sĩ khám bệnh và nôi soi cổ họng. Chụp
hình cắt lớp CAT hay MRI để muốn thấy rõ ràng, muốn biết chi tiết bướu
ung thư hơn. Thử nghiêm sinh thiết để xác định bệnh lý học ung thư thanh
quản. Chụp hình nuốt chất phản quang (barium swallow) để coi thực quản
có sao không.
Cần định bệnh và phân loại giai
đoạn ung thư thanh quản. Giai đoạn 0, giai đoạn 1. giai đoạn 2, giai
đoạn 3 hay giai đoạn 4.
Điều trị ung thư thanh quản tùy
thuộc từng giai đoạn, giải phẫu hay không giải phẫu, phối hợp với xạ
trị, hoá học trị liệu. Bác sĩ chuyên khoa ung thư sẽ giải quyết trị liệu
từng trường hợp với mỗi bệnh nhân.
Bs Donald A. Smith khuyến cáo điều trị
bệnh cao mỡ (hyperlipidemia) cho bệnh nhân tiểu đường loại 2. Cần hạ thấp
lượng cholesterol xấu (bad cholesterol, LDL) xuống thấp dưới 70mg/dl. Cần
tăng cao lượng thuốc statins điều trị cao mỡ. Có thể dùng Fibric acids điều
trị bệnh nhân tiểu đường loại 2, khi mức mỡ triglycerides cao hơn 200mg/dl
và cholesterol tốt (HDL) thấp dưới 40mg/dl. Đạt được mức độ giảm thấp LDL và
tăng cao HDL giảm nguy cơ bệnh tim mạch không thua gì khi dùng statins.
Niacin cũng có thể nâng cao HDL. Tác giả khuyến cáo tổng hợp thuốc niacin và
một thuốc statin.
Trang 897 có những câu hỏi về bệnh
ngoài da, đặc biệt bệnh ngoài da do chạm phải những chất bên ngoài, bệnh
ngoài da dị ứng thuốc giảm đau NSAID, bệnh ghẻ ngứa ngoài da và ở dương vật,
v…v…
Trang 905 có những câu đố điện tâm đồ
tim đâp thất nhịp của Bs Rihard A. Harrison và các đồng nghiệp.
Trang 933 có môt trường hợp lâm sàng
nói về một bệnh nhân lớn tuổi bị đau bụng và sau được biết bị bệnh cường phó
giáp trạng (primary hyperthyroidism).
Trong báo Journal Watch General
Medicine, May 22, 2007, có tường trình nhiều trường hợp bất chợt khám phá
bệnh nhân bị cường phó giáp trạng sau khi thử máu thấy chất calcium lên cao
(trung bình khoảng 10.8 mg/dl).
Trong Medscape Family Medicine, Bs
Will Boggs tóm tắt bài của Bs Claudio Marcocci cùng các đồng nghiêp đăng
trong báo J. Clin. Endocrinol Metabolism, 92: 3114, 2007), cho biết giải
phẫu giúp điều trị bệnh cường phó giáp trạng nhẹ (mild hyperparathyroidism).
Năm 1998, nghiên cứu tại Thụy Điển
cho biết PBDEs nhiễm vào sữa người. Sau đó thì tơí năm 2004, khối liên
hiệp Âu Châu cấm không cho dùng Penta- và OctaBDE.
Vài nghiên cứu ở Gia Nã Đại cho
biết trong đồ ăn như cá salmon, thịt bò xay, bơ và phó mát có chứa một
lượng đáng kể hóa chất PBDEs. Mặc dù chưa cấm, nhưng mọi người vẫn e
ngại không an toàn.
Có vài nghiên cứu cho rằng những
hóa chất kể trên có thể làm gan bị nhiễm độc, tuyến giáp trạng bị nhiễm
độc, và hệ thống thần kinh phát triển bị trúng độc.
Cũng cần nói thêm:
1) 5% phụ nữ Mỹ chứa độc chất
PBDEs trong cơ thể,
2) Sữa các bà mẹ sống trong vùng
Tây Bắc Thái Bình Dương chứa độc chất PBDEs 20-40 lần cao hơn các phụ
nữ sống ở Nhật Bản và Âu Châu,
3) Trong một thử nghiệm PBDEs cho
10 người ở tiểu bang Washington, thì người nào cũng nhiễm PBDEs. Lượng
PBDEs ngang vơí lượng độc tố trong phòng thử nghiệm có tác dụng nguy hại
hệ thống sinh sản,
4) Ngay cả máu trong cuống nhau
trẻ sơ sinh cũng chứa PBDEs.
Kể từ 1 tháng Giêng 2008,
California cấm bán penta- và octa- PBDE hoặc tất cả mọi sản phẩm chứa
những hóa chất kể trên. Tháng 4, 2007, tiểu bang Washington đã cấm dùng
PBDEs. Tháng Năm 2007, tiểu bang Maine cũng đã cấm dùng DecaBDE.
Có một điều làm chúng ta suy nghĩ
là hóa chất đồng dạng vơí PBDE hiện được đang được dùng để ngăn chặn lửa
cháy.
ường trình đăng trong
National Cancer Institute cho biết trong thơì gian từ năm 1986 tới 1995, số
trẻ em thanh thiếu niên (từ 15 tới 19) bị ung thư là 202.2 tỉ người. Tỉ lệ
ung thư trẻ em 14-19 tuổi bằng trẻ em từ 0 tới 4 tuổi, và cao hơn trẻ em
tuổi từ 10 tới 14 tuổi. Đứng đầu là ung thư bạch huyết Hogkin, ung thư tế
bào sinh dục.
Tài liệu nghiên cứu trong báo Medical
Pediatric Oncology, 2002, cho biết:
Khoảng 150 tơí 200 triệu trẻ em thanh
thiếu niên, tuổi từ 15 tới 19, bị ung thư mỗi năm. Nguyên nhân trẻ em bị ung
thư chưa rõ vì sao, nhưng nhiều nghiên cứu cho thấy giáo dục y tế cũng như
khuyến khích y khoa phòng ngừa giảm nguy cơ ung thư trẻ em. Thí dụ tránh ra
nắng giảm nguy cơ ung thư da melanoma hay loại trừ bệnh viêm gan B giảm nguy
cơ ung thư gan.
Bản tin từ Đại Học Y Khoa California, Los Angeles, đăng trong Nature 3, 2008, cho biết Gs James Liao đã khám phá nguyên tắc sản xuất năng lượng sinh học từ vi trùng E- Coli.
Khoa học gia thay đổi một số đường (pathways) hóa học lên men trong vi trùng E. Coli để sản xuất những phân tử rượu có năng lượng cao, và nhờ đó có thể dùng E. Coli sản xuất isobutanol từ glucose. Những chất rượu năng lượng cao chứa carbon trong isobutanol, 1-butanol, 2-methyl-1-butanol, 3-metyl-1-butanol, và 2-phenylbutanol.
Năng lượng sản xuất isobutanol từ E. Coli cao hơn năng lượng sản xuất ethanol từ bắp ngô, đường hay chất cellulose trong rác.
Rượu butanol chứa nhiều số octane có năng lượng cao hơn ethanol. Bởi vậy khi đốt cháy butanol, năng lượng sẽ mạnh ngang như khi đốt dầu lửa.
Một nhóm khoa học gia khác thuộc Đại Học Alberta, Gia Nã Đại cũng tuyên bố sản xuất năng lượng sinh học từ E. Coli thành butanol.
Dùng máy móc trong phòng thí nghiệm tại Đại Học Alberta đốt cháy butanol sinh học đã đạt được những kết quả khả quan.
Tưởng cũng cần thêm là khoảng 2 năm về trước, Rainer Kalscheuer và các cộng sự viên đã nghiên cứu sản xuất năng lượng sinh học từ vi trùng E. Coli, đăng trong báo Microbiology năm 2006.
Chúng ta thường biết E. Coli gây nhiều bệnh nguy hiểm như trúng thực, nhiễm trùng, có thể tử vong. Nhưng đây là lần đầu tiên chúng ta biết về lợi ích của E. Coli cho nhân loại.
Thuốc Hạ Mỡ Vytorin
Nhiều bệnh nhân uống thuốc hạ cao huyết áp biết Vytorin. FDA (January 25, 2008) vừa thông báo cho biết họ đang phân tích lại kết quả nghiên cứu của hãng thuốc và so sánh hậu quả tác dụng việc dùng tổng hợp Simvastatin (Zocor) và Ezetimibe (Zetia) với thuốc simvastatin không thôi trong việc giảm chất mỡ cholesterol điều trị bệnh nhân xơ cứng động mạch. Trong thuốc viên Vytorin có chứa Zocor và Zetia.
FDA sẽ phán quyết sau khi hoàn tất kết quả nghiên cứu kể trên.
Trong giai đoạn đầu cho thấy tảng cholesterol trong động mạch cổ không thay đổi khi dùng thuốc tổng hợp Simvastatin và Ezetimide.
Phần nghiên cứu còn lại muốn so sánh tìm hiểu liệu Zocor và Vytorin có ảnh hưởng gì tơí nguy cơ tai biến mạch máu não và bệnh tim mạch hay không. http://www.fda.gov/cder/drug/early_comm/ezetimibe_simvastatin.htm.
FDA Cho Phép (January 18, 2008) Thay Đổi Điều Lệ Dùng Thuốc Ngừa Thai Dán Ngoài Da
Kết quả dựa theo nghiên cứu thuốc cao dán ngừa thai cho phụ nữ tuổi từ 15 tớ 44. Kết quả sơ khởi cho thấy dùng thuốc cao dán ngoài da ngừa thai đã tăng nguy cơ bị máu đông trong tĩnh mạch (venous thromboembolism, VTE). FDA coi lại kết quả nghiên cứu i3Ingenix năm 2006 cho thấy vài phụ nữ dùng thuốc cao dán ngừa thai tăng nguy cơ tĩnh mạch nghẹt máu cục gấp 2 lần. Tuy nhiên, trong thử nghiệm thứ 2 do Cơ Quan BCDSP (Boston Collaborative Drug Surveillance Program) không thấy bị nguy cơ VTE khi so sánh vơí phụ nữ dùng thuốc uống chứa 30 micrograms estrogen và 35 micrograms Progestin Norgestimate (30-35micrograms estrogen và progestin norgstimate). Khi dùng cao dán, lượng thuốc estrogens cao hơn 60% so vơí lượng thuốc khi uống ngừa thai chứa estrogen 35 micrograms.
Theo FDA thì thuốc cao dán ngừa thai an toàn và có hiệu quả nhưng phải dùng đúng cách chỉ dẫn và nếu phụ nữ có những thắc mắc muốn so sánh sự lợi hại của thuốc khi dùng cao dán ngừa thai và nguy cơ máu cục nghẹt tĩnh mạch VTE thì cần bàn luận vơí bác sĩ để hiểu rõ hơn trưóc khi dùng thuốc. druginfo@fda.hhs.gov.
Phương Pháp Mới Truy Tầm Siêu Vi Trùng Cúm
FDA cho phép (January 18, 2008) dùng phương pháp mới ProFlu+ truy tầm siêu vi trùng cúm (siêu vi trùng cúm A và siêu vi trùng cúm B) hay siêu vi trùng gây bệnh phổi (RVS, Respiratory syncitial A và B). Việc truy tầm có thể hoàn tất trong vòng vài ba tiếng đồng hồ.
Thuốc Nexavar và Chantix
FDA Cho Phép
Dùng Thuốc Nexavar Điều Trị Ung Thư Gan Không Thể
Chữa Bằng Giải Phẫu
FDA cho phép dùng thuốc Soranefib (Nexavar) điều trị ung thư gan tên là Hepatocellular Carcinoma, khi ung thư không thể điều trị được bằng giải phẫu. Bệnh nhân dùng thuốc Nexavar có thể sống lâu hơn 2.8 tháng so sánh vơí bệnh nhân không dùng thuốc này. Nexavar là thuốc kìm hãm kinase. Nexavar kìm hãm những phân tử trong tế bào ung thư liên hệ thành lập mạch máu trong u bướu ung thư và tế bào tử vong. FDA cho phép dùng Nexavar dựa theo kết quả thử nghiệm cho 602 bệnh nhân ung thư gan so với bệnh nhân không dùng thuốc Nexavar. Bệnh nhân dùng Nexavar sống thêm 10.7 tháng so vơí bệnh nhân không dùng Nexavar sống thêm 7.9 tháng. Khi dùng Nexavarar, u bướu ung thư tiến triển chậm hơn.
Adenocarcinoma là loại ung thư từ mô tuyến. Trong việc phân loại thì ung thư adenocarcinoma không nhất thiết phải phát xuất từ tuyến mà từ mô có khả năng bài tiết như loại tuyến. Adenocarcinoma thường thấy ở súc vật hay người.
Nếu bệnh nhân dùng Chantix trong việc cai thuốc lá mà thấy tâm tính thay đổi hay cách cư xử thay đổi thì phải báo cho bác sĩ điều trị biết. Ngược lại, các bác sĩ cho bệnh nhân dùng thuốc Chantix trong việc cai thuốc lá cũng phải theo dõi bệnh nhân. FDA đang nghiên cứu muốn xác định vấn đề an toàn khi dùng Chantix. Bệnh nhân cũng nên biết Chantix có một số công phạt khác như làm buồn ngủ, vậy phải cẩn thận khi lái xe hay sử dụng những máy móc. Muốn biết thêm chi tiết, xin vào:
Kính chào Bác sỹ, em hiện đang sống ở Việt Nam, em có một số thắc mắc mong Bác sỹ giải đáp giùm. Bạn trai em năm nay 29 tuổi, bị bệnh tâm thần phân liệt dạng hoang tưởng đã gần 3 năm, luôn có suy nghĩ là có người (cấp trên ở công ty cũ) theo dõi, chi phối và điều khiển suy nghĩ của mình. Khi mắc bệnh được khoảng 6 tháng gia đình mới đưa đi gặp bác sỹ tâm thần và được cho uống thuốc đều đặn từ đó đến nay. Sau khi uống thuốc chừng 2 tháng thì đi làm lại. Hiện bạn em là lập trình viên cho một công ty viễn thông. Chuyên môn của anh ấy luôn được định giá cao, tuy nhiên trong cuộc sống cũng như công việc lại thường thua thiệt so với mọi người xung quanh. Em muốn biết điều này có là nguyên nhân gây bệnh hay có ảnh hưởng đến bệnh? Mong bác sỹ cho em biết diễn tiến của bệnh và cách điều trị. Liệu bệnh có được chữa khỏi nếu bệnh nhân chịu hợp tác tuyệt đối với bác sỹ? Công việc tương đối áp lực có ảnh hưởng đến bệnh hay có cần thiết phải tìm một công việc nhẹ nhàng? Nếu kết hôn thì khả năng di truyền bệnh cho con cái?
Em rất mong nhận được hồi âm từ bác sỹ.
Chúc bác sỹ luôn dồi dào sức khoẻ.
Em chân thành cảm ơn.
Bs Thái Minh Trung trả lời:
Chào cô,
Theo những triệu chứng cô kể thì bạn trai của cô bị chứng Tâm thần phân liệt dạng hoang tưởng nghi kỵ (paranoid delusion). Những người bị bịnh này có nhiều hạn chế trong sự giao thiệp vì không ít thì nhiều, họ hay nghi ngờ người khác. Họ thường tránh hồi hộp và rất thụ động trong những buổi thảo luận. Có lẽ vì vậy mà bạn trai cô, mặc dù có đủ tài năng nhưng không được thành công trong công việc. Ngoài ra bịnh này làm thùy trán của não bộ (frontal lobe) hoạt động ít lại. Cho nên việc suy luận và quyết định không được nhanh chóng như lúc chưa bịnh. Một phần khác phản ứng phụ (side effect) của thuốc cũng dễ làm cho b/n mệt mỏi và chậm chạp.
Cách trị bịnh: chúng tôi không biết bạn cô uống thuốc gì. Nhưng nếu anh ấy đi làm trở lại được thì thuốc đã trị đúng bịnh. Đây là một loại bịnh kinh niên nên lúc nào bạn cô cũng phải cần uống thuốc. Nếu bỏ thuốc thì bịnh tái phát. Mỗi lần tái phát bịnh sẽ nặng hơn.
Anh ấy cần tránh những việc làm có nhiều áp lực gây căng thẳng tinh thần hoặc những công việc đòi hỏi phải quyết định nhiều.
Giấc ngủ là kim chỉ nam. Nếu ngủ không được là triệu chứng bịnh sắp tái phát. Bịnh này không tri khỏi được phải cần uống thuốc suốt đời. Tuy nhiên vẫn có vài trường hợp ngoại lệ là bịnh tự nó hết, nhưng mà hết sức là hiếm.
Lạm dụng rượu và những loại thuốc kích thích như thuốc lắc (Extasy) sẽ làm bịnh nặng hơn và khó trị hơn. Tuyệt đối phải tránh xa rượu chè. Cần tránh hút thuốc vào đêm vì sẽ làm khó ngủ.
Nếu gặp phải người chồng bị bịnh này mà còn uống rượu thì cuộc sống gia đình sẽ rất khó khăn. Có nguy cơ bạo hành gia đình hay ngược lại bịnh nhân có những hành động tự tử vì triệu chứng hoang tưởng làm người đó khổ sở vô cùng. Ngược lại xác suất bịnh nhân được chữa trị đúng mức và bịnh ít tái phát ở những b/n có gia đình chăm sóc và nâng đỡ.
Di truyền: Bịnh này có yếu tố di truyền tương đối yếu. Nếu cha hay mẹ bị bịnh thì 10% đứa bé sẽ bị bịnh này. Nếu cha và mẹ bị bịnh thì gần 40% đứa bé sẽ bị bịnh này.
Nếu trong gia đình có người bị bịnh (vợ chồng thì bình thường) thì xác suất đứaa con bị bịnh là 5% hay ít hơn.
BS Thai Minh Trung, Chuyên Khoa bệnh Tâm Thần, Giáo Sư Đại Học Y Khoa California, Irvine, Hoa Kỳ.
Bisphosphonates có liên quan đến đau cơ và xương nghiêm
trọng, cảnh báo của FDA
BS
Đồng Ngọc Khanh
24/12/2007
Bisphosphonates có thể gây đau cơ xương nghiêm trọng đôi khi làm bịnh nhân không thể sinh hoạt bình thường được, FDA cảnh báo như trên vào ngày Thứ Hai 7/1/2008.
Binh nhân có thể cảm nhận đau nghiêm trọng trong nhiều ngày, nhiều tháng hoặc nhiều năm sau khi bắt đầu dùng thuốc biphosphonates. Một số trường hợp khi ngưng dùng thuốc, đã hết đau ngay . Mặc dầu trong thông tin kê đơn nhà sản xuất đã có cảnh báo về đau cơ xương sau khi dùng biphosphonates nhưng hình như đã không được các thầy thuốc xem trọng, FDA cho biết.
FDA ghi nhận cảm giác đau nghiêm trọng này khác với những triệu chứng đau ở giai đoạn đầu dùng thuốc (vd., sốt, ớn lạnh, đau xương) thường xảy đến khi dùng các chế phẩm biphosphonates tiêm tĩnh mạch, hoặc loại viên uống mỗi tuần một lần hay mỗi tháng một lần.Theo FDA các triệu chứng ban đầu này thưòng sẽ giảm đi sau vài ngày dùng thuốc.
Thầy thuốc sẽ phải đánh giá tình trạng và mức độ đau sau khi dùng Biphosphonates để quyết định có tiếp tục sử dụng thuốc này cho bịnh nhân nữa hay không.
Các biệt dược có chứa Biphosphonates là: Actonel, Actonel+Ca, Aredia, Boniva, Didronel, Fosamax, Fosamax+D, Reclast, Skelid, và Zometa.
FDA vừa cho phép (October 17) dùng thuốc chích gân mới Doripenem (Doribax) điều trị bệnh nhiễm trùng đường tiểu nặng hay nhiễm trùng bụng.
Như vậy đây là một loại thuốc rất cần thiết điều trị bệnh nhiễm trùng nặng khi bệnh nhân phải nhập viện.
Thuốc không được phép dùng cho phụ nữ có thai. Hiện giờ thuốc chưa được xác định có thể dùng cho trẻ em hay không. Muốn tìm hiểu những công phạt của thuốc, xin vào: http://www.fda.gov/bbs/topics/NEWS/2007/NEW01728.html
Thuốc Mới Trị HIV: FDA cho phép (October 16) dùng thuốc mới trị bệnh nhiễm HIV tên là Raltelgravir. Thuốc Raltelgravir kìm hãm phân hóa tố không ngăn chặn siêu vi trùng HIV sinh sản. Bởi vậy khi dùng Raltelgravir thì lượng siêu vi HIV sẽ xuống thấp trong máu và lượng bạch cầu sẽ lên cao. Tức là CD4+(T) sẽ tăng cao. Hiện chưa biết thuốc có thể dùng lâu được không và cũng chưa biết thuốc có thể dùng cho trẻ em dưới 16 tuổi được không. Chưa biết thuốc có thể dùng cho đàn bà mang thai. Vậy cần hỏi bác sĩ điều trị. Thuốc cũng có một số công phạt. Xin tham khảo thêm, nếu cần: http://www.fda.gov/bbs/topics/NEWS/2007/NEW01726.html
FDA lưu ý (October 17) một số cá nhập cảng họ Puffer, bao gồm những cá sau đây: cá fugu, bok, globefish, swellfish, balloonfish, hay sea squab. Những loại cá kể trên có thể chứa những độc tố tác dụng hệ thống thần kinh, nguy hiểm đến tính mạng. Nhưng theo FDA thì cá Puffer nhập cảng từ Nhật hay bắt được dọc ven bờ biển Đại Tây Dương, Hoa Kỳ, từ Virginia tơí Nữu Ước, coi là an toàn. Những triệu chứng khi bị trúng độc tố từ cá Puffer gồm có đau nhói xung quanh môi miệng hay chân tay. Bệnh nhân cảm thấy nói năng khó khăn, đi đứng mất thăng bằng, tê liệt và bắp thịt bị yếu đi. Đôi khi bệnh nhân bị ói và tiêu chảy. Trong trường hợp bệnh nặng, bộ máy hô hấp bị tê liệt và tử vong.
FDA phải đưa ra thông cáo kể trên là bởi trong mấy năm vừa qua, một số cá Puffer được nhập cảng bất hợp pháp từ ngoại quốc, đã gây ra những triệu chứng kể trên. www.cfsan.fda.gov/~dms/adpuffer.html
Biểu Hiện
Di Thể (Gene) Trong Cơn Shock Nhiễm Trùng vào Máu
Bs Hector Wong, giáo sư y khoa Nhi Đồng tại Đại Học Cincinnati nghiên cứu biểu hiện gene cho trẻ em khi bị cơn shock do nhiễm trùng vào máu.
Phân tích mẫu máu 57 trẻ em khi bị nhiễm trùng máu có 63 biểu hiện gene khác nhau. Trong đó có 2 loại metallothionein. Khi mức metallothionein tăng cao và mức kẽm xuống thấp sẽ tăng cao nguy cơ tử vong.
Chuyên gia dùng kỹ thuật “micro-array” bằng những con chips phân tích mẫu máu lấy từ 15 bệnh nhân không bị cơn shock, so vơí 42 bệnh nhân lên cơn shock vì nhiễm trùng máu. Trong số 42 bệnh nhân bị shock do nhiễm trùng vào máu có 9 trẻ em bị tử vong.
Các chuyên gia hiện đang nghiên cứu mức kẽm tìm hiểu thêm nguyên nhân vì sao thấp mức kẽm trong cơ thể liên hệ nguy cơ tử vong trong trường hợp trẻ bị shock do nhiễm trùng vào máu.
Trong một nghiên cứu khác do Ts Shu Fang Liu thuộc Trung Tâm The Feistein Institute đăng một loạt bài tại nhiều báo y khoa đặt trọng tâm tìm hiểu phân tử Lipopolysaccharide (LPS) một biểu hiện gene gây “tiền viêm, pro-inflammatory” và thương tích cho nhiều bộ phận trong cơ thể. LPS là một độc tố vi trùng, giúp nghiên cứu tìm hiểu sinh bệnh lý hiện tượng shock do nhiễm trùng máu.
Gs Louise C. Showe thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu The Wistar cũng đã dùng kỹ thuật DNA micro-array tìm hiểu những biểu hiện gene trong bệnh lý, trong đó gồm tế bào ung thư máu lymphoma, bệnh xơ cứng, bệnh mập phì, và đặc biệt hội chứng shock do nhiễm vi trùng vào máu.
Các chuyên gia tại Wistar đã thử nghiệm chất LPS vào chuột bình thường, không bệnh tật, và thấy phân tử LPS đã thay đổi biểu hiện gene. Khi chuột được chích BCG (thuốc chủng vi trùng lao bị làm yếu đi) 3 tuần lễ trước khi chích một liều nhỏ LPS thì thấy phát hiện viêm và gây shock nhiễm trùng vào máu và chuột bị tử vong.
Nghiên cứu biểu hiện di thể (gene) liên hệ hội chứng shock do nhiễm vi trùng vào máu là một đề tài khảo cứu hấp dẫn.
Tham khảo:
1) Hector Wong et al., Physiological Genomics, July 2007.
FDA (January 25, 2008) vừa thông báo
cho biết đang phân tích kết quả
nghiên cứu của hãng thuốc so sánh
hậu quả tác dụng việc dùng tổng hợp
Simvastatin (Zocor) và Ezetimibe
(Zetia) với thuốc simvastatin không
thôi trong việc giảm chất mỡ
cholesterol điều trị bệnh nhân xơ
cứng động mạch. Trong thuốc viên
Vytorin có chứa Zocor và Zetia.
FDA sẽ coi lại sau khi hoàn tất kết
quả nghiên cứu kể trên.
Trong giai đoạn đầu cho thấy tảng
cholesterol trong động mạch cổ không
thay đổi khi dùng thuôc tổng hợp
Simvastatin và Ezetimide.
Phần nghiên cứu còn lại muốn so sánh
tìm hiểu liệu Zocor và Vytorin có
ảnh hưởng gì tơí nguy cơ tai biến
mạch máu não và bệnh tim mạch.
http://www.fda.gov/cder/drug/
FDA Cho Phép (January 18,
2008) Thay Đổi Cập Nhật Điều Lệ Dùng
Thuốc Ngừa Thai Dán Ngoài Da
Kết quả dựa theo nghiên cứu thuốc
cao dán ngừa thai cho phụ nữ tuổi từ
15 tớ 44. Kết quả cho thấy dùng
thuốc cao dán ngoài da ngừa thai
tăng nguy cơ bị máu đông trong tĩnh
mạch (venous thromboembolism, VTE).
FDA coi lại kết quả nghiên cứu
i3Ingenix năm 2006 cho thấy vài phụ
nữ dùng thuốc cao dán ngừa thai tăng
nguy cơ tĩnh mạch nghẹt máu cục gấp
2 lần. Trong thử nghiệm thứ 2 do Cơ
Quan BCDSP (Boston Collaborative
Drug Surveillance Program) cho thấy
không bị nguy cơ VTE khi so sánh vơí
phụ nữ dùng thuốc uống chứa 30
micrograms estrogen và 35 micrograms
Progestin Norgestimate
(30-35micrograms estrogen và
progestin norgstimate). Khi dùng cao
dán, lượng thuốc estrogens cao hơn
60% so vơí lượng thuốc khi uống ngừa
thai chứa estrogen 35 micrograms.
Theo FDA thì thuốc cao dán ngừa thai
an toàn và có hiệu quả nhưng cần
dùng đúng cách chỉ dẫn và nếu phụ nữ
có những thắc mắc muốn so sánh sự
lợi hại của thuốc khi dùng cao dán
ngừa thai và nguy cơ máu cục nghẹt
tịnh mạch VTE thì cần bàn luận vơí
bác sĩ để hiểu rõ hơn trưóc khi dùng
thuốc.
druginfo@fda.hhs.gov. Phương Pháp Mới Truy Tầm
Siêu Vi Trùng Cúm
FDA cho phép (January 18, 2008) dùng
phương pháp mới ProFlu+ truy tầm
siêu vi trùng cúm (siêu vi trùng cúm
A và siêu vi trùng cúm B) hay siêu
vi trùng gây bệnh phổi (RVS,
Respiratory syncitial A và B), trong
vòng vài ba giờ đồng hồ là xong.
ProFlu+ vừa chính xác, vừa nhanh hơn
những phương pháp thử nghiệm khác.
Tuy nhiên, thử nghiệm dương tính
không thể loại trừ những nguyên nhân
gây nhiễm trùng khác hoặc siêu vi
trùng tìm thấy đặc thù với bệnh hay
triệu chứng bệnh.
http://www.fda.gov/bbs/topics/
NEWS/2008/NEW01780.html FDA cho phép dùng phương
pháp di thể (gene) mới TOP2A Fish
truy tầm nguy cơ ung thư vúkhi bị tái phát hoặc tiên
đoán thời gian bệnh nhân vú sống
sót. Thử nghiệm dựa theo
nguyên tắc tìm hiểu khi nào vài biểu
hiện di thể thay đổi trong u bướu.
Thay đổi di thể TOP2A trong ung thư
vú cho phép tiên đoán ung thư vú tái
phát hay bệnh nhân không thể kéo dài
được thời gian sống sót. Thử nghiệm
này thích hợp cho bệnh nhân bị ung
thư vú tiền mãn kinh hay u bướu ung
thư thay đổi kích thước, đang di căn
vào hạch bạch huyết. Phương pháp này
thể tiên đoán khi nào ung thư vú tái
phát hay ước lượng thơì gian bệnh
nhân ung thư vú sống sót.
http://www.fda.gov/bbs/topics/
Trong báo The Journal of
Family Practice số 4, June
2007 có bài nói về đổ mồ hôi
đêm. Theo các tác giả Cindy
W. Su, Sean Gaskie vàC. Hitchcock thì
tìm hiểu tiểu sử bệnh lý rất
quan trọng trong việc chuẩn
định bệnh đổ môi đêm. Bệnh
nhân thường than phiền bị đổ
mồ hôi đêm mà trời không mấy
gì nóng nực. Phụ nữ bị mặt
đỏ phừng (hot flash) đổ mồ
hôi đêm và thường dùng kích
thích tố chữa giảm mồ hôi
đêm. Những nguyên nhân khác
làm đổ mồ hôi đêm như ho
lao, ung thư bạch huyết,
nhiễm HIV, hội chứng ợ chua,
và heart burn.
Một số thuốc trị bệnh trầm
cảm cũng có thể làm đổ mồi
hôi đêm.
Nhiều y sĩ muốn thử nghiệm
tìm hiểu truy tầm đổ mồ hôi
đêm, nhưng cũng có y sĩ cho
rằng việc này không cần
thiết. Những thử nghiệm từng
được nêu ra như đếm máu, đo
mức kích thích tố thùy não
(TSH), đo độ lóng tụ hồng
huyết cầu, thử lao và thử
HIV, chụp hình phổi.
Theo tác giả Anthoni J.
Viera cùng các đồng
nghiệp tường trình trong báo
American Family Physicians,
March 1, 2003, còn đề nghị
thêm chụp hình cắt lớp bụng,
chụp hình cắp lớp phổi, sinh
thiết tủy xương.
Theo nhóm bác sĩ Cindy W. Su
và các đồng nghiệp thì nếu
thử nghiệm không thấy gì, y
sĩ thử cho bệnh nhân thuốc
chống ợ chua. Bác sĩ cần
theo dõi tình trạng bệnh
nhân liên hệ nhiệt độ trong
cơ thể. Tuy nhiên y sĩ
cần loại bỏ nghi ngờ bệnh
nhân có thể bị viêm nội mô
hay viêm ung thu bạch huyết.
Một tường trình khác
cho biết kích thích tố trị
liệu có thể giảm hiện tượng
đổ mồ đêm và mặt nóng phừng
của phụ nữ khi tắt kinh
(75%).
Thêm một nghiên cứu khác nữa
cho rằng chữa bằng thuốc
giảm độ ợ chua heart burn có
thể đạt được kết quả giảm mồ
hôi đêm tới 80%. Một số
thuốc dùng để thoa trực tiếp
chỗ đổ mồ hôi như thoa ngoài
da aluminum chloride
hexadrate (Drysol),
antiperspirants,
scopolamine, hay
phenoxylbenzamine
hydrochloride (Dibenzyline).
Nhưng ngược lại, một
số thuốc sau đây có thể gây
đổ mồ hôi đêm: Thuốc chữa
bệnh ưu trầm, thuốc chữa
bệnh nhức nửa đầu, thuốc
giảm nhiệt, thuốc chống
cholinergic (tiết
acetylcholine), thuốc chống
GNRH, thuốc chữa tiểu đường,
thuốc chống gia cảm
(sympathomimetic), và vài
thứ thuốc khác trong đó phải
kể: rượu, thuốc trị cao máu
chặn beta (beta blockers),
thuốc trị cao máu chặn
calcium (calcium blockers),
Bromocriptine, v. v. v. Xin
coi thêm chi tiết trong
Evaluations of night sweats,
trong báo Journal of Family
Practice, 56: 493, 2007.
Trong mục này, các tác giả
cũng nêu lên một số bệnh gây
đổ mồ hôi đêm như:
1) Bệnh tuyến nội tiết, bệnh
tiểu đường loại Diabetes
insipidus, cường giáp trạng,
mức đường hạ thấp trong máu,
bướu nội tiết như
pheochromocytoma (u bướu tế
bào ưa nhuộm crôm),
carcinoid tumor (u tế bào ưa
nhuộm chất bạc), hoặc tình
trạng sau khi bệnh nhân bị
cắt bỏ ngọc hoàn,
3) Những nguyên nhân ung thư
như: ung thư máu trắng, ung
thư nhiếp hộ tuyến, ung thư
thận, và nhiều loại ung thư
khác.
4) Một số bệnh thần kinh như
tự động mất phản xạ
(autonomic dysreflexia),
bệnh thần kinh tự trị
(autonomic neuropathy), tai
biến mạch máu não.
5) Hiện tượng thay đổi sinh
lý sau khi uống rượu lâu
năm, đột nhiên ngưng uống
rượu (withdrawal), sau khi
dùng ma túy lâu năm như
cocaine hay opioids.
6) Sau hết, hội chứng mệt
mỏi kinh niên, ợ chua, ợ
nóng (heart burn), tắt kinh,
ngủ ngáy nghẹ thở, lên cơn
bấn loạn, có thai, đau ngực
sau khi động mạch tim co
thắt mạnh (Prinsmetal), viên
mạch máu Takayasu, viêm mạch
máu thái dương..., đều có
thể làm mồ hôi ra ban đêm.
Cần đọc thêm những triệu
chứng khác khi bị cơn đau
tim trong tham khảo số
4, để biết và kịp thời cấp
cứu.
Tài Liệu Tham Khảo:
1) Journal Family Practice,
58: 493, 2007.
2) American Family
Physicians, 67: 1079, 2003
3) Có thể đọc thêm nhiều tài
liệu khác tại: Medline
Literature từ 1966 tới 2001,
Harrison's Principle thứ
13th.
Trong báo Jl Family Practice tháng
giêng 2008 có một bài của 2 bác sĩ
Srah-Anne Schumann và John Hickner,
thuộc Đại Học Y Khoa Chicago, nói về
người già dùng thuốc beta-blockers
trị cao máu. Trong tường trình có
nhắc lại hướng dẫn JNC 7 khuyến cáo
bệnh nhân uống thuốc lợi tiểu trước
nhất và, nếu cần sau đó, dùng thêm
những thuốc trị cao huyết áp
beta-blockers, calcium-channel
blockers, angiotensin-converting
enzyme inhibitors, và angiotensin
receptor blockers.
Nghiên cứu Cochrane 2007 so sánh
dùng thuốc trị cao máu beta-blockers
cho bệnh nhân từ 18 và lớn tuổi hơn.
Kết quả cho thấy dùng beta-blockers
không công hiệu nhiều trong việc
giảm nguy cơ tai biến mạch máu não,
cũng không hiệu quả trong việc điều
trị bệnh động mạch vành tim, khi so
sánh vơí bệnh nhân không dùng
beta-blockers. Công hiệu còn kém hơn
khi so sánh vơí thuốc calcium
channel blockers, renin-angiotensin
system inhibitors, và thuốc lợi tiểu
thiaziades. Nghiên cứu này cho người
lớn tuổi và chưa thể kết luận liên
hệ tuổi tác.
Nghiên cứu CMAJ tổng kết 21 thử
nghiệm tìm hiểu vai trò
beta-blockers trong việc điều trị
cao huyết áp phòng ngừa bệnh tim
mạch bao gồm tử vong, nhồi máu cơ
tim chưa đưa tơí tử vong, và tai
biến mạch máu não chưa đưa đến tử
vong. Kết quả phân tích theo tuổi
tác trung bình 60 tuổi trở lên và
trung bình dưới 60 tuổi. Kết quả thử
nghiệm cho thấy thuốc beta-blockers
và những thuốc trị huyết áp khác đều
công hiệu như nhau cho người còn
trẻ. Tuy nhiên beta-blockers tăng
cao nguy cơ tử vong, tăng cao nguy
cơ tai biến mạch máu não, hay nhồi
máu cơ tim.
Cả 2 kết quả nghiên cứu kể trên cho
thấy cần lưu ý việc dùng
beta-blockers là thuốc thứ nhất trị
cao huyết áp, đặc biệt cho người già
60 tuổi trở lên.
Trong bài viết này cũng nêu lên việc
dùng beta-blockers cho bệnh nhân đau
ngực và suy tim, hoặc cho người già
dùng beta-blockers đứng hàng thứ 3
hay thứ 4 sau ACE inhibitor, ARB,
hay calcium-blocker, kể cả sau thuốc
lợi tiểu.
Các tác giả cũng đề cập việc dùng
thuốc Metoprolol, một loại
beta-blocker, không tốn kém và có
khả năng giảm nguy cơ tử vong bệnh
nhân có tiểu sử nhồi máu cơ tim hay
suy tim. Muốn biết thêm chi tiết,
xin đọc bài trong tham khảo dưới
đây (1).
Trong một nhiên cứu khác do Bs
Sripal Bangalore và các đồng nghiệp
đăng trong báo American College of
Cardiology, 2007, cho biết
beta-blockers có hiệu quả trong việc
điều trị suy tim, vài loại tim đập
thất nhịp, bệnh tim lớn
(hypertrophic obstructive
cardiomyopathy), và bệnh nhân đã bị
nhồi máu cơ tim trước đây (2).
Tham Khảo:
1)Jl of Family
Practice, 57: 18, 2008.
2)Jl of American
College of Cardiology, 50: 563,
2007.