2) liệu thuốc Bisphosphponates có an toàn
và hữu hiệu khi phối hợp vơí sinh tố D điều trị bệnh loãng xương?
3) Tác dụng Thuốc Clopidogrel và Aspirine
Trong Điều Trị Bệnh Rung Tâm Nhĩ.
Thuốc Denosumab Điều Trị Loãng Xương.
Thử nghiệm lâm sàng cho biết Denosumab, một loại kháng thể đơn dòng
(RANKL-specific recombinant humanized monoclonal antibody) tăng cao mật độ xương
của phụ nữ hậu mãn kinh vơí mật độ xương thấp.
Ngoài ra, thuốc Denosumab còn có khả năng
giảm độ lở của bệnh phong thấp (rheumatoid arthritis) và xương di căn ung thư.
Theo kết quả nghiên cứu thì nếu so sánh
vơí những thuốc khác, Denosumab cũng tương đối an toàn. Muốn hiểu biết thêm về
thuốc mới Denosumab trị loãng xương, xin tham khảo Clin Interventions in Aging,
June 2009.
Liệu thuốc Bisphosphonates có An Toàn
và Hữu Hiệu khi Điều Trị bệnh nhân loãng xương với mức Sinh Tố D thấp trong máu?
Nghiên cứu tìm hiểu liệu tình trạng thiếu sinh tố D trong máu có giảm mật độ
xương tăng trưởng khi dùng thuốc Bisphosphoante điều trị loãng xương.
Kết quả cho thấy mật độ xương lưng và háng
không thay đổi khi bệnh nhân bị thiếu sinh tố D hay còn đầy đủ sinh tố D. Mức
sinh tố D trong máu không thay đổi tác dụng thuốc bisphosphonates điều trị bệnh
loãng xương. Và kết quả nghiên cứu cũng khuyến cáo không thay đổi phương pháp
hiện nay dùng lượng sinh tố D là 50 nmole/l phối hợp vơí bisphosphonates điều
trị loãng xương. (Int J Clinical Rheumatology, 4: 119, 2009).
Tác dụng Thuốc Clopidogrel và Aspirine
Trong Điều Trị Bệnh Rung Tâm Nhĩ. Thử nghiệm tìm hiểu liệu Clopidogrel thêm
vào Aspirine có gây nguy cơ chảy máu trong việc điều trị bệnh nhân rung tâm nhĩ.
Thử nghiệm cho 7554 bệnh nhân rung tâm nhĩ
tăng nguy cơ tai biến mạch máu não nhưng không thể dùng thuốc kháng sinh tố K.
Kết quả theo dõi trong 3.6 năm cho biết
uống Clopidogrel giảm nguy cơ tai biến mạch máu não. Tỉ lệ 2.4% trong một năm có
tai biến mạch máu não khi dùng Clopidogrel so vơí 3.3% trong một năm bệnh nhân
không dùng Clopidogrel. Và 0.7% trong một năm bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim nếu
uống Clopidogrel so vơí 0.9% trong một năm bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim nếu
không uống Clopidogrel. Bệnh nhân bị chảy máu (2.0% trong một năm) khi uống
Clopidogrel so với bệnh nhân không uống Clopidogrel (1.3% trong một năm).
Tóm lại, thêm Clopidogrel vào Aspirine
trong việc điều trị bị rung tâm nhĩ giảm nguy cơ tai biến mạch máu não, nhưng
tăng nguy cơ chảy máu. (NE J of Medicine, May 7, 2009)
Tường trình gần đây do The GISSI-AF xuất
bản trong NEJMedicine, 360: 1606-1617, 2009, tìm hiểu vai trò của thuốc
Valsartan với bệnh rung tâm nhĩ cho biết Valsartan không giảm rung tâm nhĩ tim
tái xuất hiện trong vòng một năm.
Tuy nhiên trong một tường trình khác của
X. Lan et al. đăng trong European J Clinical Investigation, 2009. Các tác giả
tìm cách so sánh phương pháp đốt (catheter ablation) với cách cho uống
Amiodorone cộng thêm thuốc ARB Losartan để tìm hiểu liệu phương pháp nào giúp
phòng ngừa tái xuất hiện rung tâm nhĩ.
Thử nghiệm theo dõi 240 bệnh nhân rung tâm
nhĩ bất chợt xuất hiện, chia làm 4 nhóm. Nhóm thứ nhất bệnh rung tâm nhĩ chữa
bằng cách đốt vòng ngoài tĩnh mạch phổi.
Nhóm thứ 2 phân tách tĩnh mạch phổi.
Nhóm thứ 3 vơí Amiodarone và nhóm thứ 4
với Amiodarone và Losartan.
Theo dõi 12 tháng. Kết quả cho thấy nhịp
tim đều trong nhóm giải phẫu phân tách tĩnh mạch phổi (segmental pulmonary vein
isolation) và uống Amiodarone cộng vơí Losartan, tốt hơn nhóm đốt vòng ngoài
tĩnh mạch phổi và uống Amiodarone. Không khác biệt giữa 2 nhóm đốt vòng ngoài
tĩnh mạch phổi và nhóm chỉ uống Amiodarone. Duy trì nhịp tim giữa nhóm giải phẫu
phân tích tĩnh mạch phổi và nhóm uóng Amiodarone vơí Losartan cũng không khác
biệt.
Kết quả cho biết khi giải phẫu phân tích
tĩnh mạch phổi ngừa rung tâm nhĩ tái phát có kết quả tương tự như khi cho bệnh
nhân uống Amiodarone cộng vơí Losartan, hiệu quả tốt hơn khi giải phẫu đốt phần
xung quanh tĩnh mạch phổi và chỉ uống Losartan riêng rẽ. Tuy nhiên các tác giả
khuyến cáo cần thêm nghiên cứu rộng rãi để làm sang tỏ vấn đề.
Rung tâm nhĩ là bệnh loạn nhịp tim thông
thường nhất bao hàm cả 2 tâm nhĩ. Bắp thịt cả 2 tâm nhĩ bị rung, không điều hoà
nhịp tim. Chỉ cần bắt mạch hay quan sát nhịp tim đập có thể biết bệnh rung tâm
nhĩ. Khi nhìn điện tâm đồ không thấy làn song P. Nguy cơ tăng cao theo tuổi. 8%
bệnh nhân trên 80 tuổi bị bệnh rung tâm nhĩ.
Trong bệnh rung tâm nhĩ, xung lực thần
kinh xuất phát từ nút xoang nhĩ tràn ngập bởi xung lực thần kinh vô tổ chức xuất
phát từ tâm nhĩ và từ tĩnh mạch phổi đưa xung lực thần kinh hỗn loạn tơí tâm
thất, do đó gây tim đập loạn nhịp. Tim loạn nhịp có thể kéo dài vài phút, vài
tuần hay cả năm. Khi bị rung tâm nhĩ kéo dài cả năm có thể gây nguy cơ tử vong
(nhỏ).
Rung tâm nhĩ thường không thấy triệu
chứng, có thể làm tim hồi hộp, mặt tái xanh, đau ngực, hay suy tim. Bệnh nhân bị
rung tâm nhĩ có nguy cơ tử vong gấp 7 lần người bình thường.
Khi điều trị bệnh dùng thuốc hay dùng cách
đốt điều chỉnh nhịp tim trở lại bình thường
Medhi Namdar và các cộng sực viên nghiên
cứu tác dụng khi uống 2 ly cà phê (chứa 200mg caffeine) vào luồng máu xơ cứng
động mạch vành tim. Đo luồng máu tim bằng phương pháp đo vận tốc nước đồng vị
phóng xạ 15 0xygen (dưỡng khí O 15) bằng máy PET (positron emission tomography).
So sánh cho 15 bệnh nhân (tuổi trung bình 61 ± 9) bị xơ cứng động mạch vành tim
vơí 15 người bình thường (tuổi trung bình 58 ± 13), trong khi tập thể dục đạp
máy xe đạp. Đo luồng mạch máu chảy trong động mạch vành tim trước khi đạp xe đạp
và 50 phút sau khi đạp xe đạp. Tính tỉ số luồng máu chảy trong động mạch vành
tim trong khi đạp chia cho luồng máu động mạch vành tim khi nghỉ. Tỉ số đặt tên
MPR (myocardial perfusion reserve).
Kết quả cho thấy luồng máu động mạch vành
tim khi nghỉ không thay đổi cả 2 trường hợp bệnh nhân xơ cứng động vành tim và
người bình thường sau khi uống 2 ly cà phê chứa 200mg caffeine.
Caffeine giảm luồng máu trong động mạch
vành tim 14% cho người bình thường. Caffeine giảm luồng máu động mạch vành tim
trong phần xa (remote) động mạch vành tim 18%, và khoảng 25% trong khúc động
mạch vành tim bị co thắt.
Kết quả cho thấy caffeine giảm luồng máu
động mạch vành tim ở bệnh nhân bị xơ cứng động mạch vành tim (nhiều hơn người
bình thường (2.26±0.56 nghịch vơí 2.02±0.56; p<0.005), ở phần xa (remote) của
động mạch vành tim (2.40±0.70 nghịch vơí 1.78±0.46; p<0.001) và ở đoạn co thắt
(stenosis) của động mạch vành (1.90±0.41 nghịch vơí 1.38±0.30; p<0.001).
Nguồn: Medhi Namdar et., PLoS ONE 4(5):
e5665. doi:10.1371/journal.pone.
0005665
Xơ cứng động mạch vành tim do những tảng
cholesterol đọng bên trong thành động mạch vành tim. Động mạch vành tim thường
cung cấp đồ ăn và dưỡng khí cho tim. Tảng cholesterol dầy ngăn chặn luồng máu
trong động mạch vành tim gây cơn đau tim. Những nguy cơ tăng cao thành lập tảng
cholesterol trong động mạch vành tim gồm có khói thuốc lá, cao mỡ cholesterol,
không năng tập thể dục, mập phì và trọng khối cơ thể cao, tiểu đường, cao huyết
áp và di truyền
Biểu hiện Di Thể Nephrin
do Thụ Thể Retinoic Acid và Thụ Thể Sinh Tố D
Nephrin là một phân tử bạch đản
căn bản trong việc cấu tạo và chức năng của tiểu cầu thận khi lọc nước
tiểu. Cấu trúc lọc thận ở tiểu gồn bao gồm 3 bộ phận:
1) tế bào nội mô,
2) màng tiểu cầu (glomerular base membrane), và
3) tế bào podocytes biểu mô.
Bs Maro Okamura và các cộng sự viên tìm hiểu vai trò của những thụ thể
như RAR (Retinoid acid receptor), RXR (Retinoid X Receptor), VDR (thụ
thể Sinh Tố D) trong việc điều chỉnh thụ thể Nephrin. Kết quả cho thấy
cả 2 thụ thể VDR và RAR thay nhau đóng vai trò điều chỉnh di thể
Nephrin.
Thí dụ ATRA gây nên biểu hiện Nephrin qua RAR không phụ thuộc RXR và VDR
và 1,25(OH)2D3 gây biểu hiện di thể nephrin qua RAR và VDR không phụ
thuộc RXR.
Đây là một trong những thử nghiệm cho thấy phân tử thụ thể Sinh tố D góp
phần biểu hiện di thể Nephrin, một phân tử nồng cốt cấu tạo tiểu cầu
thận và chức năng tiểu cầu thận trong việc lọc thận.
Nephrin đóng vai trò quan trọng trong hội chứng bẩm sinh thận Nephrotic
syndrome ở người Phần Lan. Khi di thể NPHS1 trong nhiễm sắc thể 19 bị hư
hại, bạch đản sẽ tiết ra trong nước tiểu. NPHS1 hợp với di thể mới
nephrin giúp chúng ta hiểu biết thêm cơ nguyên sinh lý bệnh học nước
tiểu lọc qua tiểu cầu thận.
Nguồn:
1) Nephrotic Dialysis Transplantation, on line May 27, 2009;
2) American Journal of Pathology, 155: 1681, 1999.
Phương Pháp thứ nhất: Chích Chất Keo Điều Trị Bệnh Tiểu Són.
Bs Phillippe Zimmern thuộc Đại Học Y Khoa Southwestern tiểu bang Utah cho biết
thử nghiệm chích chất keo để điều trị bệnh tiểu són cho thất trong số 93 bệnh
nhân có 31 bệnh nhân thuyên giảm bệnh, và khỏi bệnh. Tác giả và các cộng sự viên
đã dùng máy siêu âm 3 chiều để ước định vị trí chất keo và lượng chất keo còn
đọng ngoài thành ống dẫn tiểu (ureter). Nếu hình siêu âm cho thấy sau lần chích
đầu nếu chửa được thuyên giảm tiểu són và nếu lượng chất keo còn quá ít đã chích
chất keo lần thứ hai. Nhưng nếu lượng chất keo đã đủ rồi mà bệnh nhân vẫn chưa
thuyên giảm tiểu són thì phải dùng phương pháp khác. Chích chất keo có thể là
phương pháp kế tiếp trị tiểu són nếu bệnh nhân vẫn bị tiểu són hay tái phát tiểu
són sau khi giải phẫu mà không khỏi. (Journal of Urology, February 2009).
Phương Pháp thứ hai:
Trong bài nghiên cứu thứ hai cho biết phụ nữ giảm cân lượng có thể giúp giảm
triệu chứng tiểu són. Bs Lesiee Subak nghiên cứu 226 bệnh nhân nằm trong chương
trình là những phụ nữ mập bị ít nhất 10 lần tiểu són trong một tuần lễ. Chương
trình giảm cân lượng trong 6 tháng bao gồm cách ăn uống kiêng khem, tập thể dục,
thay đổi hành động. Kết quả cho thấy phụ nữ giảm cân lượng giảm triệu chứng tiểu
són. Theo Bs Subak thì có thể dùng phương pháp thể dục trước nhất trong việc
điều trị tiểu són cho phụ nữ có cân lượng cao hay mập. (New England J. Med.,
360: 481, 2009).
Phương Pháp thứ ba:
Trong nghiên cứu thứ ba, Bs Samina Tahseen và đồng nghiêp dùng một loại băng dán
làm hẹp đường dẫn tiểu để điều trị tiểu són. Thử nghiệm cho 58 phụ nữ tiểu són
theo dõi 13 tháng. Tổng kết quả cho thấy 43% bệnh tiểu són (urge urinary
incontinence) khỏi hẳn, 36% triệu chứng tiểu són thuyên giảm. Trong loại tiểu
són (stress predominant leakage) thì 43.5% khỏi hẳn và 43.5% đỡ tiểu són. Trong
loại tiểu són (urge predominant leakage) thì 43% khỏi hẳn và 28.5% khá hơn. Loại
tiểu són (stress incontinence) khỏi hẳn 77% và khá hơn 19%. (Obstet Gynecol,
113: 617, 2009).
Theo buổi họp
của CDC ngày July 29, 2009, thì mùa cúm năm nay có thể
sẽ trầm trọng hơn vì ngoài việc ngừa cúm thường xuyên
hàng năm còn phải ngừa cúm heo mới H1N1. Hy vọng khi nào
có thuốc chủng ngừa cúm thường xuyên hàng năm ra đơì,
mọi người nên đi chích ngừa cúm sớm hơn. Tuy nhiên cần
biết chích ngừa cúm hàng năm không thể ngừa cúm heo.
Ngược lại, chủng ngừa cúm heo cũng không thể thay thế
chủng ngừa cúm hàng năm.
Thuốc chủng
ngừa cúm heo H1N1 sẽ ra đời vào khoảng mùa thu năm nay.
Mọi người sẽ cần chích ngừa cả 2 thứ thuốc chủng: ngừa
cúm hàng năm và ngừa cúm heo.
Theo CDC, thì
cần lưu ý chủng ngừa cúm heo cho 5 lớp người như sau:
1) Chích ngừa cúm heo cho đàn bà có thai. Vì nhóm người
này có nguy cơ cao khi bị cúm heo, và vì trẻ sơ sinh
không thể chích thuốc ngừa cúm heo và phải có kháng thể
chống cúm heo trong cơ thể trước khi ra đời.
2) Chích ngừa cúm heo cho mọi người trong gia đình hoặc
cho những ai đang săn sóc trẻ em dưới 6 tuổi.
3) Những nhân viên y tế hay những người làm việc trong
phòng cấp cứu phải chích ngừa cúm heo.
4) Tất cả mọi trẻ em từ 6 tháng trở lên tơí người lớn 24
tuổi đều phải chích ngừa cúm heo. Hoặc trẻ em từ 6 tháng
trở lên tơí 18 tuổi trong môi trường giữ trẻ hay trường
học thường xuyên tiếp xúc với nhau, dễ lây bệnh, phải
chích ngừa cúm heo.
5) Thanh thiếu niên từ 19 tơí 24 là lớp người năng động
giao tiếp, làm việc, hay học hành, cũng dễ mắc cúm heo.
Lớp người từ 25 tới 64 có nguy cơ cao bị biến chứng khi
nhiễm H1N1.
Theo CDC thì
chưa thể đoán được số lượng thuốc chủng vì chưa thể biết
khả năng tiêu thụ của thuốc chủng ngừa H1N1. Phần khác
điều chế thuốc chủng ngừa cúm heo cấy siêu vi trùng H1N1
trong hột gà mọc chậm hơn bình thường. Mỗi người có thể
phải chích 2 mũi thuốc chủng ngừa H1N1 cho đủ kháng thể.
Theo CDC thì
sau đó tất cả mọi người từ 24 tuổi tơí 65 và trên 65
tuổi cũng phải chích ngừa cúm heo.
Sau hết, tưởng cũng nên biết có 36,000 người tử vong vì
cúm thường xuyên hàng năm.
Theo CDC thì năm nay mọi người có thể chích một lúc 2
mũi thuốc: chủng ngừa cúm thường xuyên hàng năm và chủng
ngừa cúm he
MDA-LDL là viết
tắt của chất Malondialdehyde-modified Low-Density
Lipoprotein.
Bài này tìm hiểu
liên hệ giữa mức MDA-LDL vơí tảng trong động mạch vành
khi bị đau ngực do co cứng động mạch vành. Tức là muốn
biết cơ nguyên của hội chứng co động mạch vành trong
trường hợp bị co cứng động mạch vành cấp tính so vơí
trường hợp động mạch vành bị bóp khi bị đau ngực co lan
toả động mạch vành.
Thử nghiệm
bằng cách rút máu từ gốc động mạch chủ và xoang động
mạch vành (coronary sinus) trước khi bơm chất
acetylcholine làm co động mạch vành bên trái.
Thử nghiệm cho
64 bệnh nhân. Tỉ lệ động động mạch chủ co ở một chỗ
rõ ràng hơn hiện tượng co động mạch vành lan toả.
Đồng thơì có sự khác biệt khi lượng MDA-LDL xuống
thấp ở xoang động mạch vành so vơí động mạch chủ. Sự
cách biệt là dấu ấn của hiện tượng đông máu động
mạch vành. Mức MDL-LDL ở động mạch vành co tại một
điểm cao hơn ở động mạch vành co lan toả. Tỉ lệ khối
lượng tảng động mạch vành tăng cao cùng vơí độ co
động mạch vành là nguyên nhân gây nguy cơ đau ngực
động mạch vành cấp tính (Nguồn: Shigemasa Taniab và
csv, Int Journal of Cardiology, 135: 202, 2009).
Trong một
nghiên cứu khác, Paul Hovoet và các csv đăng trong
báo JAMA, 281: 1718, 1999, cho biết MDA-LDL là dấu
ấn của hội chứng động mạch vành cấp tính.
Các tác giả
cho biết MDA-LDL chứ không phải Troponin I hay
C-reactive protein, đóng vai trò quan trọng phân
biệt chứng đau ngực ổn định (stable) so vơí chứng
đau ngực không ổn định (unstable).
Các tác giả cho
rằng tổng hợp cách đo MDA-LDL và Troponin giúp phân biệt
cơn đau tim động mạch vành ổn định so vơí cơn đau tim
động mạch vành không ổn định.
Thay đổi MDA-LDL
là do chấn thương nội mô động mạch vành và tảng động
mạch vành chuyển động, trong khi troponin I thay đổi là
do cơ tim bị chấn thương
Cơ Nguyên Đau
Đường Hầm Ống Cổ Tay (Carpal Tunnel Syndrome)
Đau từng cơn do
chất myelin giây thần kinh A beta bị hủy, đau liên tục
do myelin giây thần kinh A delta bị hủy.
Bs A. Truiny và
csv nghiên cứu 70 bệnh nhân bị đau cổ tay do hội chứng
đau đường hầm ống cổ tay vì giây thần kinh giữa (median)
bị chẹt.
Dùng phương pháp
đo thần kinh dẫn truyền NCS (Standard nerve conduction
study) đo chức năng giây thần kinh không nhận cảm đau
(non-nociceptive A beta), khoảng thơì gian da không nhận
thấy cảm giác khi kích thích giây thần kinh ngón tay số
3 và số 5, và chức năng giây thần kinh nhận thức đau
(nociceptive A delta). Đồng thời các tác giả cũng dùng
hệ thống LEPs đo phản ứng khi giây thần kinh giữa
(median) bị kích thích qua trung gian giây thần kinh
nhận thức đau (nociceptive A delta). Giây thần kinh lớn
chứa giây non-nociceptive và giây thần kinh nhỏ chứa
giây thần kinh nociceptive.
Kết quả cho thấy
cảm giác đau từng cơn dẫn truyền giây thần kinh
giữa (median) do chất myelin giây thần kinh không nhận
cảm giác đau A beta bị hủy, trong khi đường hầm ống cổ
tay bị đau liên tục là do chất myelin giây thần
kinh nhận cảm giác đau A delta bị tiêu hủy. (Nguồn:
Pain, June 18, 2009).
Hội chứng đau
đường hầm cổ tay do giây thần kinh giữa bị chẹt làm
cho tê tay và yếu những bắp thịt tay. Phần lớn
nguyên nhân không rõ, có thể do di truyền, đôi khi
do chấn thương, đàn bà có thai, bệnh tủy xương
(multiple myeloma), dạng tinh bột bị thoái hoá
(amyloidosis), phong thấp (rheumatoid arthritis),
người khổng lồ (acromegaly), bệnh
mucopolysaccharoidosis, và bệnh suy giáp trạng. Đau
cổ tay mà không bị tê tay thì chưa chắc đã phải là
bệnh đau đường hầm cổ tay. Phần lớn mới bắt đầu xuất
hiện khi ban đêm bệnh nhân thấy tê ngón tay hay tê
bàn tay. Thường triệu chứng khởi đầu thấy ban đêm là
bởi khi ngủ khuỷu tay co lại nên dễ bị chẹn thêm
giây thần kinh giữa khuỷu tay
Trong bài nghiên cứu thứ nhất, các tác giả muốn
tìm hiểu liên hệ giữa bệnh vẩy nến với xơ cứng động
mạch, bệnh mạch máu não, bệnh mạch máu ngoại biên và tử
vong.
So sánh 3,236 bệnh nhân bệnh vẩy nến với 2,500 bệnh nhân
không bị bệnh vẩy nến.
Kết quả cho thấy bệnh nhân bệnh vẩy nến có tỉ số bệnh xơ
cứng động mạch vành tim, bệnh mạch máu não, và những
bệnh mạch máu ngoại biên so vơí bênh nhân không bị vẩy
nến. Ngoài ra bệnh vẩy nến cũng tăng cao nguy cơ tử vong
(Nguồn: Bs Srjdan Prodanovich, và csv, Arch Dermatol.
145: 700, 2009.
Trong bài thứ
hai cho biết bệnh vẩy nến liên hệ nguy cơ nhồi máu cơ
tim. Theo Bs Wolf-Henning Boehncke thì vẩy nên coi như
một loại viêm miễn dịch, như bệnh phong thấp
(rheumatoid) hay bệnh Crohn. Vẩy nến tăng nguy cơ nhồi
máu cơ tim. Vẩy nến liên hệ bệnh viêm như xơ cứng động
mạch. Khởi đầu bằng thành lập những tảng xơ cứng bằng
chất cholesterol xấu (LDL) và hoạt hóa tế bào nội mô.
Tiểu cầu tiến vào tăng cao tác dụng nội mô, kéo theo
những tế bào viên thành lập tảng xơ động mạch (JAMA,
297, số 4, tháng Giêng 2009).
Trong bài thứ
ba, bệnh vẩy nến tăng cao nguy cơ bệnh tiểu đường và cao
huyết áp. Bài này do Bs Abrar A. Qureshi và csv đăng
trong Arch Dermatology, 145: 379, 2009.
Nghiên cứu bao gồm 116, 671 phụ nữ Mỹ tuổi từ 27 tới 44.
Kết quả cho thấy trong số 78, 061 phụ nữ có 1, 813 bệnh
nhân bị vẩy nến. Theo dõi 14 năm cho thấy có 1,560 bị
tiểu đường và 15, 724 trường hợp bị cao huyết áp. Nguy
cơ bệnh nhân vẩy nến bị tiểu đường so vơí ngươì không bị
vẩy nến là 1.63. Phụ nữ vẩy nến cũng tăng cao bệnh cao
huyết áp. Những yếu tố khác như tuổi tác, chỉ số trọng
khối cơ thể, và hút thuốc lá không thấy có liên hệ giữa
vẩy nến, nguy cơ tiểu đường và cao huyết áp.
Nhiều nghiên
cứu khác cho biết có liên hệ giữa bệnh giữa vẩy nến với
hội chứng biến dưỡng (systemic disorder syndrome). Và
bệnh vẩy nến có thể là dấu ấn của hội chứng biến dưỡng.
Hội chứng biến dưỡng bao gồm ít ra 3 trong số 5 yếu tố
như: cao huyết áp, hiện tượng kháng insulin, mỡ tốt
(HDL) trong máu thấp, cao mỡ (high triglycerides) và mập
phì (mập bề ngang, central obesity).
Nghiên cứu dùng
thuốc sinh học như Efalizumab hay Inflizimab trong việc
điều trị vẩy nến có thể góp phần điều trị hiện tượng
viêm trong bệnh xơ cứng động mạch hay bệnh vẩy nến, hy
vọng giảm nguy cơ bệnh tim mạch của bệnh nhân vẩy nến.
Bài thứ nhất do
Bs Ian de Boer và các đồng nghiệp muốn tìm hiểu liên hệ
lượng sinh tố D (25-hydroxyvitamin D) trong máu liên hệ
thành lập chất vôi trong đông mạch vành tim. Nghiên cứu
1,370 người trong đó có 394 bệnh nhân bị nguy cơ thận
kinh niên (mức GFR thấp hơn 60ml/min /1.72 m2) và 976
bệnh nhân không bị suy thận kinh niên. Trong số bệnh
nhân tham dự, 723 bệnh nhân có chất vôi trong động mạch
vành. Trong số bệnh nhân không có chất vôi trong động
mạch vành, 135 bệnh nhân tức là 21% bệnh nhân có chất
vôi trong động mạch vành sau 3 năm theo dõi. Kết quả cho
thấy lượng sinh tố D thấp trong cơ thể giảm nguy cơ
thành lập chất vôi trong động mạch vành. Đối vơí bệnh
nhân bị suy thận và sinh tố D thấp có chất vôi trong
động mạch vành tăng cao nhiều hơn. Tóm lại, thiếu sinh
tố D giảm nguy cơ thành lập chất vôi trong động mạch
vành. Kết quả đăng trong Journal of Soc of Nephrology,
May 2009.
Bài thứ hai của
MF McCarthy đăng trong Med Hypothesis, 72: 647, 2009,
cho biết người Ấn Độ tại Á Châu bị mập, có hiện tượng
kháng Insulin, bị bệnh tiểu đường, bị bệnh động mạch
vành tim, thường có sinh tố D thấp trong cơ thể.
Bài thứ ba, Bs
PJ Matias và các cộng sự viên nghiên cứu liên hệ giữa
thành lập chất vôi trong động mạch vành, nguy cơ bệnh
tim mạch, và sinh tố D (25-hydroxyvitamin D3 và
1,25-dihydroxyvitamin D3), trong bệnh nhân lọc thận vì
suy thận. Kết quả cho thấy cơ thể có sinh tố D
(25-hydroxyvitamin D3 thấp, tăng cao dấu ấn nguy cơ bệnh
tim mạch bệnh nhân lọc thận, tăng cao chất BNP (brain
naturetic peptide), và tăng cao PP (pulse pressure), và
bệnh nhân có chất vôi trong động mạch vành. Tuy nhiên,
vai trò sinh tố D (25[OH)D3) thấp trong cơ thể liên hệ
nguy cơ tử vong tim mạch cần thêm nhiều nghiên cứu để
làm sáng tỏ vân đề. (Nephrol Dial Transplant, Feb 2009).
Trong bài thứ
tư, Bs ED Michos và các cộng sự viên phổ biến kết quả
nghiên cứu trong Calf Tissue Int. 84: 423, 2009, cho
biết không có liên hệ giữa mức sinh tố D (25[OH]D) với
chất vôi trong động mạch vành, độ dầy nôi mô động mạch
cảnh (carotid artery), hay với hoá chất C-reactive
protein. Theo các tác giả thì nếu có liên hệ hay không
có liên hệ giữa 25(OH)D và nguy cơ bệnh tim mạch có thể
do một cơ nguyên nào khác chứ không phải chỉ dựa theo độ
trầm trọng của bệnh động mạch.
Chúng ta cần
chờ thêm nhiều nghiên cứu trong tương lai để hiểu rõ
liệu có liên hệ giữa sinh tố D và bệnh tim mạch.
Nhiều nghiên
cứu gần đây cho biết: không những sinh tố D đóng vai trò
quan trọng cho xương mà có thể còn liên hệ nhiều vấn đề
khác như phòng ngừa ung thư, bệnh tự miễn dịch, bệnh tim
mạch, tiểu đường và những bệnh nhiễm trùng. Khi nói về
thiếu sinh tố D tức là lượng sinh tố D trong máu thấp
hơn 30 ng/ml. Một số nghiên cứu lưu ý thiếu sinh tố D ở
sản phụ, phụ nữ đang cho con bú, và trẻ em.
Khi còn ở Việt Nam, chúng ta ra nắng ngoài trơì thông
thường hơn là khi ở Mỹ, sáng sớm đi làm, tối khuya về
nhà, thiếu ánh nắng mặt trời, cũng là một lý do thiếu
sinh tố D. Bởi vậy, khi khám bệnh thử máu tổng quát, đo
thêm lượng sinh tố D trong máu, cũng là một điều tốt cho
chúng ta.
Người Việt hải
ngoại thế hệ thứ nhất ở Hoa Kỳ phần lớn thuộc thành phần
đã có tuổi. Truy tầm ung thư cho người già là một vấn đế
quan trọng mà nhiều người Việt chúng ta đều muốn biết.
Theo Cơ Quan Phòng Ngừa Bệnh Tật Hoa Kỳ (USPSTF: US
Prevention Services Task Force) và Hội Bác sĩ gia đình
Hoa Kỳ, thì nếu người già trên 65 tuổi đã từng thử
nghiệm truy trầm ung thư cổ tử cung lâu năm bình thường
thì có thể giảm thiểu truy tầm ung thư cổ tử truy tầm
cung khi tuổi cao khi hơn 65. Nhưng Hội Người Già Hoa Kỳ
(American Geriatric Society) phản đối, cho rằng người
già dù trên 65 tuổi, tức là ở tuổi cao hơn nữa, vẫn phải
tiếp tục truy tầm ung thư cổ tử cung. Vậy bệnh nhân nên
bàn luận vơí bác sĩ sản khoa để biết trường hợp cá nhân
của mỗi người.
Về vấn đề chụp
hình ung thư vú cho người già thì theo kết quả một số
nghiên cứu cho thấy mammogram truy tầm ung thư vú cho
người già có thể giới hạn tuổi khoảng 75 tơí 80. Nhưng
theo Hội Người Già Hoa Kỳ thì vẫn nên tiếp tục chụp hình
truy tầm ung thư vú cho phụ nữ trên 80 tuổi.
Gần đây, kết quả một nghiên cứu do trung tâm Ung Thư M.
D. Anderson tại Đại Học Texas cho biết có tới 17% phụ nữ
trên 80 tuổi bị ung thư vú. Nhưng chỉ có 20% phụ nữ trên
80 tuổi muốn chụp hình mammogram truy tầm ung thư vú phụ
nữ hàng năm. Kết quả đưa ra dựa theo kết quả cuộc nghiên
cứu của Trung Tâm MD Anderson cho 12,358 phụ nữ trên 80
tuổi. Tỉ lệ phụ nữ không chụp hình mammogram bị ung thư
vú là 49%. Tỉ lệ phụ nữ chỉ thỉnh thoảng chụp hình ung
thư vú 1 hay 2 lần, bị ung thư vú là 29%. Phụ nữ chụp
mammogram thường xuyên hơn chút nữa (3 mammograms hay
nhiều hơn) có tỉ lệ ung thư vú 22%.
Một số nghiên
cứu khác cho rằng cần truy tầm ung thư ruột già và phải
truy tìm định kỳ cho đàn ông trên 75 tuổi và phụ nữ trên
80 tuổi.
Tuy nhiên chúng
ta nên đọc thêm những tường trình sau đây: trong một đời
người, cứ 40 đàn ông lại có một người bị ung thư ruột
già và cứ 48 đàn bà lại có một người bị ung thư ruột
già. Tài liệu ung thư ruột già bên Anh năm 1997 cho biết
khi dưới 50 tuổi, cứ 100,000 người lại có 4 người bị ung
thư ruột già. Nhưng khi tới 80 tuổi thì cứ 1,000,000
người lại có 380 người bị ung thư ruột già. 3 phần tư
trong số 380 người này ở tuổi trên 65 (tức là khoảng 303
người ở tuổi trên 65) bị ung thư ruột già. Ở tuổi từ 65
trở lên tơí 75 hay 80 tuổi thì khi bệnh nhân cứ thêm lên
10 tuổi, lại tỉ lệ ung thư có thể tăng gấp hai. Cái khó
nữa là khi về già triệu trứng ung thư không được rõ ràng
nên dễ bỏ quên, không lưu ý. Những triệu chứng như táo
bón hay thiếu máu kinh niên không phải là những triệu
chứng rõ ràng của người già khi bị ung thư ruột già.
Một số triệu
chứng của người già bị nghi ngờ ung thư ruột già như bịmệt lả đi hay đau bụng. Thêm những triệu chứng mơ hồ
khác như mất cân lượng, đi cầu bất bình thường, lúc bón
lúc tiêu chẩy. Có bệnh nhân vì khi không thấy mình có
triệu chứng gì nên không muốn soi ruột già truy tầm ung
thư ruột già. Có người nghĩ rằng khi bệnh nhân đã già
rồi thì lại chẳng cần lưu tâm truy tầm ung thư ruột già.
Một số quý vị khác sợ biến chứng nên không muốn soi. Bởi
vậy mặc dù chúng ta muốn khuyến cáo truy tầm ung thư
ruột cho người già cũng không phải dễ dàng gì.
Tuy nhiên,
trong một buổi họp của Hội Bệnh Ruột và Bao tử Hoa Kỳ
(American College of Gastroenterology) vào năm 2007 cho
biết truy tầm ung thư ruột già và ruột thẳng cho bệnh
nhân trên 80 tuổi vẫn có lợi cho bệnh nhân hơn. Ngay cả
truy tầm ung thư vú để sớm định bệnh và điều trị cũng có
lợi hơn. Ung thư vú phát triển rất nhanh không giống như
ung thư nhiếp hộ tuyến, phần lớn, phát triển chậm hơn.
Sau hết, trong
báo Am Fam Practice, ngày 15 December 2008, có
đề cập chuyện giảm bỏ truy tầm ung thư nhiếp hộ tuyến
cho đàn ông tới tuổi 75. Tuy nhiên cũng trong số báo
này, một số tác giả khuyến cáo nên truy tầm ung thư cho
người già, vẫn tốt hơn. Vậy , bác sĩ và bệnh nhân nên
thảo luận với nhau, dựa theo những tài liệu hướng dẫn
căn bản, và tùy thuộc quyết định của mỗi bệnh nhân.
(Journal of Clin Oncology, April 2008).
Dấu Ấn Sinh Học Mới Giúp Phỏng Đoán Tái Phát Ung Thư
Hậu Môn và Ruột Già
Trong một số báo xuất bản American Medical Association
vừa qua (2009) cho biết Bs Scott Waldman, thuộc Đại Học
Y Khoa Thomas Jefferson, đã dùng dấu ấn sinh học
Guanylyl Cyclase 2C (GUY2C) để truy tầm di căn ung thư
vào những hạch bạch huyết. Khi ung thư đã di căn vào
hạch bạch huyết là một dấu hiệu tiên đóan độ nguy hiểm
của ung thư ruột già và hậu môn. Dùng phương pháp tế bào
bệnh học (cytopathology) không thể biết rõ được ung thư
đã di căn vào ruột già hay chưa.
Bs Waldman nghiên cứu 257 bệnh nhân bị ung thư ruột già
và hậu môn trong một thơì gian từ tháng 3, 2002 tới
tháng Sáu 2007, trong 9 trung tâm y khoa và 2 bệnh viện
(9 ở Mỹ và 2 ở Gia Nã Đại) và theo phương pháp thông
thường truy tầm di căn ung thư chưa thấy có di căn ung
thư. Các chuyên gia đã phân tích biểu hiện của GUCY2C
trong 2570 hạch bạch huyết, đo khoảng 1 mm trở lên, theo
kỹ thuật gọi là RT-PCR (reverse transcriptase chain
reaction, tăng cường độ tinh truy tầm tế bào ung thư so
vơí phương pháp thông thường bệnh lý tế bào học.
Kết quả cho thấy 32 bệnh nhân (12.5%) có hạch bạch huyết
thử nghiệm GUCY2C âm tính, 30 bệnh nhân không bị tái
phát, 2 người trong số 32 người bị tái phát, tức khoảng
6.3% bị tái phát.
Ngược lại,
trong số 225 bệnh nhân có dương tính thử nghiệm GUCY2C,
47 bệnh nhân bị tái phát (20.9%). Bệnh nhân có dương
tính thử nghiệm GUCT2C có tỉ lệ tái phát ung thư sớm hơn
(adjusted hazard ratio, 4.66; 95% Cl, 1.11 – 19.57; P =
.04) và tỉ lệ sống còn thấp hơn (adjusted HR, 3.27; 95%
Cl, 1.15 – 9.29; P = .03).
Kết quả thử
nghiệm cho thấy tới 87.5% bệnh nhân ung thư ruột già và
hậu môn có kết quả dương tính trong hạch bạch huyết.
Trong số này có 20.9% là bệnh nhân đã bị ung thư ruột
già hay hậu môn tái phát. Chỉ có 6.3% bệnh nhân bị tái
phát ung thư có âm tính GUCY2C. Bệnh nhân có dương tính
thử nghiệm GUCY2C có tỉ lệ tái phát bệnh nhanh hơn và có
đời sống ngắn ngủi hơn.
Khoảng 20-30%
bệnh nhân bị tái phát ung thư hậu môn hay ruột già trong
vòng 5 năm, không thấy có hạch bạch huyết. Tức là có
cùng tỉ lệ tái phát ung thư hậu môn hay ruột già trong
trường hợp thấy hạch bạch huyết ung thư. Và đã khám phá
được di căn ung thư trong trường hợp định bệnh ung thư
hậu môn-ruột già mà chưa khám thấy có hạch bạch huyết.
Vậy thử nghiệm
GUCY2C giúp phân biệt trường hợp bệnh nhân đã di căn ung
thư rồi mà chưa biết, nghĩa là có thể tiên đoán được
nguy cơ ung thư ruột già và hậu môn tái phát.
Journal of the American Medical Association, 301: 745,
2009
Thomas Jefferson University News, February 18, 2009
Guanylyl
cyclase c hay còn gọi là GC-C là một phân hóa tố tìm
thấy trong nội mô ruột. Thụ thể nằm ngoài màng tế bào
giống như chất bạch đản kinases (protein kinases). GC-C
là một thụ thể của độc tố enterotoxins, một độc tố gây
bệnh tiêu chảy cấp tính. Thường thì độc tố enterotoxins
do vi trùng Escherichia coli sinh sản. Vì tính chất độc
đáo của GC-C trong nội mô ruột nên được dùng để truy tầm
di căn ung thư. Phân biệt dương tính của GC-C mRNA có
thể giúp truy tầm một tế bào ung thư lẫn lộn trong số 10
triệu tế bào bình thường, tức là rất nhậy cảm trong việc
tìm kiến ung thư di căn.
Hai kết quả nghiên
cứu tại Hội Thảo Ung Thư Vú vừa được trình bày trong đề
tài Khảo Cứu Ung Thư tại San Antonio.
Bs Karthik Ghosh
trình bày kết quả làm sinh thiết vú tìm hiểu thành phần
cấu tạo của biểu mô, chất đệm (stroma), và lượng mỡ
trong mô vú. Trong nội mô (epithelium) chứa nhiều hạch
sữa và đường dẫn sữa. Còn mô chất đệm chứa gồm mô đàn
hồi chống giữ tế bào biểu mô.
Trong nghiên cứu
của thứ hai của Bs Celine Vachon, Bà tìm hiểu lượng phân
hóa tố aromatase trong mô đặc và cho thấy phân hoá tố
này có nồng độc cao trong mô đặc của vú. Phân hóa tố
chuyển đổi kích thích tố nam tên là androgen sang kích
thích tố nữ estrogen. Chính kích thích nữ estrogen đóng
vai trò quan trong trong việc phát triển ung thư vú.
Thử nghiệm cho 40
tơí 85 phụ nữ, làm sinh thiết vú cho 8 người và chưa
người nào bị ung thư vú. Độ đặc chụp hình vú mammogram
chứa nhiều biểu mô (96%), chất đệm (64%), ít mỡ hơn
(30%). Trong mô vú chụp hình mammogram không thấy dầy
đặc, chứa lượng tế bào biểu mô ít hơn (1%), tỉ lệ chất
đệm ít hơn (20%), và lượng chất mỡ cao hơn, 80%. Theo Bs
Ghosh thì phần biểu mô và chất đệm gây hiện tượng đặc
trong ung thư vú và lượng chất đệm cao có thể là nguyên
nhân tăng cao nguy cơ ung thư vú. Kết quả thử nghiệm
cũng cho thấy trong thùy xoắn có chứa nhiều ống sữa nhỏ
giảm nguy cơ ung thư vú. Mô tế bào không đông đặc trong
mô thùy xoắn chứa 85% mô không đông đặc và chỉ có 35% mô
đông đặc.
Kết quả thử nghiệm
của Bs Vacho cho thấy mô đông đặc chất đệm chứa nhiều
phân hóa tố aromatase, biểu hiện vú dày đặc nhiều hơn,
so vơí mô vú không dày đặc.
Đây là kết quả 2
nghiên cứu giúp chúng ta hiểu rằng: 1) chất đệm (stroma)
trong vú gây độ đông đặc khi chụp hình mammogram dày
đặc, 2) chất đệm chứa nhiều phân hóa tố aromatase hơn,
tức là tăng cao thành lập kích thích nữ estrogen từ kích
thích nam androgen, và là nguy cơ tăng cao nguy cơ ung
vú phụ nữ.
Khi chụp hình
mammogram truy tầm ung thư vú, mà nếu gặp hình dày đặc
không thể chắc chắn khám phá bệnh nhân bị ung thư vú thì
thường có 2 giải pháp: 1) nên siêu âm vú thêm, 2) có vị
khuyên nên siêu âm vú nếu bác sĩ khám bằng tay và nghi
ngờ có u bướu bất thường, 3) Nếu còn nghi ngờ nữa thì có
vị đưa cho bác sĩ ngọai khoa coi lại cho chắc.
Chụp hình
mammogram dày đặc cũng như lái xe ban đêm đày sương mù,
không thể thấy rõ ràng xe đằng trước, hoặc cũng không
thấy được người qua đường. Thì tốt hơn nên thêm cách
khác để giải quyết vấn đề.
Trong dịp này, xin
trình bày kết quả một thứ nghiệm sau đây:
Thử nghiệm muốn
tìm hiểu xem liệu Tamoxifen (là chất kìm hãm Aromatase)
có giảm độ đông đặc của vú tức là giảm nguy cơ ung thư
vú phụ nữ.
Kết quả thử nghiệm
vừa trình bày tại Hôi Ung Thư Vú Antonio ngày December
13, 2008. Kết quả dựa theo 120 phụ nữ bị ung thư vú so
sánh vơí 943 phụ nữ “không bị ung thư vú”. So sánh cả 2
nhóm trong thơì gian từ 12 tới 18 tháng sau khi bắt đầu
thử nghiệm Tamoxifen. Kết quả cho thấy có 46% phụ nữ
dùng thuốc Tamoxifen giảm độ đặc vú tơí 10% hay nhiều
hơn. Nhóm phụ nữ này giảm nguy cơ ung thư vú tới 52%.
Đây chỉ là một kết quả thử nghiệm. Cần nhiều nghiên cứu
hơn để xác định vấn đề
Trong một
nghiên cứu đăng trong báo Y Khoa Gia Nã Đại ngày 23
tháng 9, năm 2008, cho biết người Nam Á Châu, đặc
biệt phụ nữ Á Châu, bị nguy cơ bệnh tim mạch nhiều
hơn người da trắng. Phụ nữ Á Châu cũng phải điều trị
bệnh tim mạch nhiều hơn người da trắng. Nghiên cứu
bao gồm 2,189 người gốc Nam Á Châu thường bị đau
ngực tại 6 trung tâm y khoa. Tài liệu thu thập bệnh
nhân bị đau tim cấp tính, tử vong vì đau tim hay
những bệnh nhân phải thông tim, và chụp hình mạch
máu tim. Triệu chứng đau ngực chia làm 4 loại: 1)
đau ngực nhức nhối, co thắt, như bị dao đâm, đau ng
ực thuộc loại khó diễn tả hay khó phân biệt. Đau
ngực nằm chính giữa ngực, bên trái, bên phải, dưới
vú, vùng chấn thủy, hay chỗ nào khác trong ngực,
thơì gian kéo dài từ vài giây tơí vài giờ. Đau ngực
đặc biệt như đau co thắt, ở giữa ngực hay bên trái
ngực kéo dài từ vài giây tơí 15 phút, đặc biệt bệnh
nhân bị đau ngực khi tập luyện thể dục. Các chuyên
gia chia triệu chứng đau ngực làm 2 loại: đau ngực
đặc thù (typical) hay không đặc thù (atypical). Kết
quả nghiên cứu cho biết phụ nữ gốc Nam Á Châu bị đau
ngực nhiều hơn phụ nữ da trắng và bị tử vong vì bệnh
tim (coronary death) hay bị hôi chứng bệnh động mạch
vành tim (acute coronary syndromes) nhiều hơn phụ nữ
da trắng.
Năm 2004 có
bản tường trình của Hội Tim Mạch Hoa Kỳ (AHA), dựa
vào 400 tường trình y khoa liên hệ bệnh tim mạch phụ
nữ, đưa ra những lời khuyên như sau: Phòng ngừa bệnh
tim mạch phụ nữ trong giai đoạn đầu như: không hút
thuốc lá, tập thể dục, tập luyện cho bệnh tim mạch
khi biết chớm bị bệnh tim mạch, ăn uống dinh dưỡng
tốt cho bệnh tim mạch và cần giảm cân lượng khỏi
mập. Cần phải thay đổi lối sống nếu bị cao huyết áp,
luôn luôn phải giữ cho huyết áp trung bình (khoảng
120/80), nhất là bệnh nhân còn thêm bệnh tiểu đường.
Cần phải hạ cholesterol xấu xuống thấp. Ngày nay cỡ
70-80mg/dl. Tăng cholesterol tốt lên cao (trên
50mg/dl. Giảm chất mỡ triglycerides xuống thấp (dưới
150mg/dl). Tất nhiên là nếu bị bệnh tim mạch, bệnh
nhân phải có bác sĩ chuyên khoa bệnh tim mạch theo
dõi và điều trị.
Trong một
tường trình nghiên cứu trong khoảng thơì gian từ
1998 tới 2002 cho những người lớn tuổi từ 35 trở lên
thì thấy phụ nữ từ 35 tơí 44 tuổi tăng cao nguy cơ
tử vong vì bệnh tim mạch. Trung bình mỗi năm tăng
cao khoảng 1.3% từ 1997 tới 2002. Bởi vậy cần lưu ý
phòng ngừa bệnh tim mạch cho những người còn trẻ nói
chung, cho phụ nữ còn trẻ nói riêng.
Trong một
nghiên cứu khác dựa theo 69 tài liệu cho biết: bệnh
tim mạch cấp tính phụ nữ dường như không được chuẩn
định chính xác, chẳng hạn: 1) phụ nữ thường bị đau
ngực không ổn định và nhồi máu cơ tim hơn đàn ông.
2) Bệnh nhân phụ nữ đau tim ít được chụp hình mạch
máu tim hơn đàn ông, ít được dùng thuốc trị loãng
máu (fibrinolytic therapy) hơn đàn ông, ít được
thông tim hay mổ tim như đàn ông; 3) Chụp hình mạch
máu tim lại thấy bình thường nhiều hơn đàn ông;; 4)
đối vơí phụ nữ còn trẻ, nguy cơ tử vong tệ hơn đàn
ông; 5) đàn bà ít than phiền đau ngực hơn đàn ông;
6) phụ nữ kêu đau ngực giữa hay bả vai nhiều hơn đàn
ông, than phiền khó thở, ói mửa, ăn không tiêu, ăn
không ngon, than mệt mỏi hơn đàn ông; kêu chóng mặt,
ho hay tim đập hồi hộp hơn đàn ông. Tuy nhiên những
nhận xét trên chưa thể thay đổi những tiêu chuẩn
bệnh nhồi máu cơ tim cho mọi người.
Tham khảo: 1)
Canadian Medical Association Journal, September
2008; 2) Nat Clin Pract Cardiovasc Med., 3:194-202,
2006; 3) J Am Coll Cardiol., 50:2128-2132, 2007.
Một bệnh nhân tiểu đường bị thống phong (gout) bên trong xương. Bệnh nhân bị đau mắt cá xương. Chụp hình quang tuyến nghi ngờ có một vết tiêu hủy (lytic) trong xương sên (talus) mắt cá chân và vết nứt xương bên trong khoảng giữa xương mắt cá (malleolus). Thử sinh thiết cho thấy bệnh nhân bị (thống phong) gout. Kết quả khuyến cáo khi bệnh nhân tiểu đường có vấn đề đau cẳng chân và chụp hình quang tuyến bất bình thường thì nên nghĩ đến bệnh thống phong. (Journal of Foot and Ankle Surgery, 01/21/2009).
Ôn Lại Việc Điều Trị Chống Siêu Vi Trùng Viêm Gan B: Đây là một tiết mục ôn lại của Cơ Quan Y tế Hoa Kỳ tìm hiểu điều trị bệnh siêu vi trùng viêm gan B kinh niên. Cuộc nghiên cứu bao gồm những thuốc như interferon alpha2b và pegylated alpha2a, lamivudine, adefovir, entecavir, và telbivudine, trong thơì gian từ 1990 tới 2008. Kết quả cho thấy hiện giờ y khoa chưa biết rõ hiệu quả điều trị viêm gan B mãn tính. Khuyến cáo nên có nhiều thêm nghiên cứu để làm sáng tỏ vấn đề. Viêm gan B gan kinh niên gây nguy cơ suy gan, ung thư gan, và tử vong. (Annals of Internal Medecine, 150: 111, 2009).
Hai kết quả nghiên cứu tại Hội Thảo Ung Thư Vú vừa được trình bày trong đề tài Khảo Cứu Ung Thư tại San Antonio. Bs Karthik Ghosh trình bày kết quả làm sinh thiết vú tìm hiểu thành phần cấu tạo của biểu mô, chất đệm (stroma), và lượng mỡ trong mô vú. Trong nội mô (epithelium) chứa nhiều hạch sữa và đường dẫn sữa. Còn mô chất đệm chứa gồm mô đàn hồi chống giữ tế bào biểu mô.
Trong nghiên cứu của thứ hai của Bs Celine Vachon tìm hiểu lượng phân hóa tố aromatase trong mô đặc và cho thấy phân hoá tố này có nồng độ cao trong mô đặc của vú. Phân hóa tố chuyển đổi kích thích tố nam tên là androgen sang kích thích tố nữ estrogen. Chính kích thích nữ estrogen đóng vai trò quan trong trong việc phát triển ung thư vú. Thử nghiệm cho 40 tới 85 phụ nữ, làm sinh thiết vú cho 8 người và chưa người nào bị ung thư vú. Độ đặc chụp hình vú mammogram chứa nhiều biểu mô (96%), chất đệm (64%), ít mỡ hơn (30%). Trong mô vú chụp hình mammogram không thấy dầy đặc, chứa lượng tế bào biểu mô ít hơn (1%), tỉ lệ chất đệm ít hơn (20%), và lượng chất mỡ cao hơn, 80%. Theo Bs Ghosh thì phần biểu mô và chất đệm gây hiện tượng đặc trong ung thư vú và lượng chất đệm cao có thể là nguyên nhân tăng cao nguy cơ ung thư vú. Kết quả thử nghiệm cũng cho thấy trong thùy xoắn có chứa nhiều ống sữa nhỏ giảm nguy cơ ung thư vú. Mô tế bào không đông đặc trong mô thùy xoắn chứa 85% mô không đông
đặc và chỉ có 35% mô đông đặc. Kết quả thử nghiệm của Bs Vacho cho thấy mô đông đặc chất đệm chứa nhiều phân hóa tố aromatase, biểu hiện vú dày đặc nhiều hơn, so vơí mô vú không dày đặc. Đây là kết quả 2 nghiên cứu giúp chúng ta hiểu rằng: 1) chất đệm (stroma) trong vú gây độ đông đặc khi chụp hình mammogram dày đặc, 2) chất đệm chứa nhiều phân hóa tố aromatase hơn, tức là tăng cao thành lập kích thích nữ estrogen từ kích thích nam androgen, và là nguy cơ tăng cao nguy cơ ung vú phụ nữ.
Khi chụp hình mammogram truy tầm ung thư vú, mà nếu gặp hình dày đặc không thể chắc chắn khám phá bệnh nhân bị ung thư vú thì thường có 2 giải pháp: 1) nên siêu âm vú thêm, 2) có vị khuyên nên siêu âm vú nếu bác sĩ khám bằng tay và nghi ngờ có u bướu bất thường, 3) Nếu còn nghi ngờ nữa thì có thể đưa cho bác sĩ ngọai khoa coi lại cho chắc. Chụp hình mammogram dày đặc cũng như lái xe ban đêm đày sương mù, không thể thấy rõ ràng xe đằng trước, không thấy được người qua đường. Vậy khi chụp hình vú dầy đặc thì không chắc có thể nhìn thấy rõ u bướu trong vú, nên xin làm siêu âm để an tâm hơn.
Gãy xương là hậu quả nghiêm trọng nhất của hội chứng loãng xương hay xốp xương. Trong vài năm gần đây, giới chuyên môn đã nhận thức rằng đơn thuần dựa vào đo lường mật độ xương (bone mineral density – BMD) để chẩn đoán loãng xương có nhiều thiếu sót, vì hơn 50% phụ nữ gãy xương không có BMD thấp. Nguy cơ gãy xương chịu sự tác động của nhiều yếu tố nguy cơ như cao tuổi, giảm trọng lượng cơ thể, tiền sử gãy xương, tiền sử té ngã và một số yếu tố nguy cơ khác như xử dụng thuốc có tác hại đến chu trình chuyển hóa của xương.
Do đó, một định hướng mới trong ngành loãng xương là phát triển các mô hình tiên lượng (prognostic model) nhằm giúp cho việc nhận dạng cá nhân có nguy cơ gãy xương cao, và giúp cho việc quản lý bệnh trạng tốt hơn. Một trong những nhóm nghiên cứuđi tiên phong trong lĩnh vực này là nhóm nghiên cứu tại Viện nghiên cứu Y khoa Garvan (Úc châu) dưới sự lãnh đạo của Gs Nguyễn Văn Tuấn. Năm 2007 và 2008, Tiến sĩ Nguyễn Đình Nguyên và Gs Tuấn công bố hai mô hình tiên lượng gãy xương trên tập san Osteoporosis International. Mô hình tiên lượng của Gs Tuấn đã được thử nghiệm ở các quần thể Úc, Canada, New Zealand, v.v… và kết quả rất tốt.
Mô hình này đã được phát triển thành một website để giúp cho đồng nghiệp toàn cầu truy cập và xử dụng. Website ở đại chỉ: www.FractureRiskCalculator.com. Mô hình tiên lượng xử dụng 4 yếu tố: độ tuổi, chỉ số T (BMD), tiền sử gãy xương, và tiền sử té ngã. Nếu không có BMD thì có thể thay BMD bằng trọng lượng cơ thể.
Bạn có thể tự mình thử bằng cách: Ghi tên, cho biết là phái nam hay nữ, độ tuổi, cho biết từ 50 tuổi tới bây giờ có bị gãy xương, có bao giờ bị té ngã trong vòng 12 tháng vừa qua, có từng đo BMD và cung cấp chỉ số T (T-score; dùng phương pháp đo bằng máy GE Lunar hay Hologic).
Thử ước lượng độ gẫy xương cho 2 trường hợp điển hình:
1) Người thứ nhất tự ước lượng độ gẫy xương của mình là một ông già 73 tuổi, chưa bao giờ bị gãy xương từ 50 tuổi tới bây giờ, chưa bao giờ bị té ngã trong vòng 12 tháng qua, đã đo mật độ xương háng bằng phương pháp DXA GE Lunar, T-score là -2.6, mật độ xương (BMD) hiện giờ là 0.809 g/cm².
Kết quả ước lượng nguy cơ gẫy xương từ 5 tới 10 năm của ông già 73 tuổi cho thấy: Nguy cơ gãy xương háng (hip fracture) trong vòng 5 năm là 1.9%, trong vòng 10 năm là 3.7%. Nguy cơ gãy xương là: 8.5% trong vòng 5 năm và 15.6% trong vòng 10 năm.
2) Người thứ hai tự ước lượng độ gẫy xương của mình là một phụ nữ 65 tuổi, chưa bao giờ bị gãy xương từ 50 tuổi tới bây giờ, chưa bao giờ bị té ngã từ 12 tháng qua, đã đo mật độ xương háng bằng phương pháp DXA GE Lunar, T-score là -1.4, mật độ xương (MBD) hiện giờ là 0.834 g/cm².
Kết quả ước lượng độ gẫy xương từ 5 tới 10 năm của phụ nữ 65 tuổi cho thấy: Nguy cơ gẫy xương háng (hip fracture) trong vòng 5 năm là 0.9%, trong vòng 10 năm là 3.9%. Nguy cơ gẫy xương là: 8-13% trong vòng 5 năm và 14-26% trong vòng 10 năm.
Trong website có nhiều tài liệu tham khảo, phần lớn là những nghiên cứu lâm sàng và dịch tễ học của nhóm nghiên cứu. Ngoài ra, cũng như nhiều website về tiên lượng khác, website còn có Disclaimer như sau: Kết quả ước lượng gãy xương chỉ là một hướng dẫn, quý vị cần tham khảo vơí bác sĩ gia đình hay chuyên gia bệnh xương về vấn đề gãy xương – Your results produced by our calculator should serve as a guide only. If concerned about your fracture risk, it is also important to consult your doctor or a bone specialist.
Gs Tuấn cho biết website hiện được đồng nghiệp toàn cầu xử dụng rất rộng rãi. Hàng ngày có khoảng 1500 lượt truy cập. Hầu hết các báo cáo DXA ở Úc đều xử dụng mô hình này để thông báo cho bệnh nhân và bác sĩ. Xin mời vào trang website để tự mình ước lượng độ gãy xương
Đây là lần đầu tiên các khoa học gia Đại
Học North Carolina tại Chapel Hill đã hoàn tất khám phá khoảng 1/5 cấu trúc di
thể HIV.
HIV cũng giống những siêu vi trùng khác
như siêu vi cúm, siêu vi bệnh viêm gan C, hay siêu vi bệnh tê liệt trẻ em Polio,
có những thông tin di thể như một sợi đơn RNA chứ không phải 2 sợi RNA.
Những thông tin mã hóa trong DNA nằm trong
chuỗi khối gọi là nucleotides.
Còn những thông tin mã hoá của RNA rắc rối
hơn. RNA có thể gấp lại thành những cấu trúc hình thể phức tạp. Di thể RNA tựa
như dải ruy băng (ribbon) có thể gấp lại thành những vật thể 3 chiều. Di thể HIV
RNA rất lớn bao gồm 2 dải mà mỗi dải chứa tới 10,000 nucleotides.
Các khoa học gia đang tiếp tục tìm hiểu
cấu trúc di thể còn lại của siêu vi HIV.
Bài nghiên cứu này đăng trong báo Nature
ra ngày August 6, 2009.
Hiểu biết cấu trúc di thể HIV sẽ mở cửa
cho những nghiên cứu thuốc mới điều trị chống siêu vi trùng, trong tương lai.
Hiểu biết cấu trúc di thể HIV còn có thể
giúp khoa học lưu ý nghiên cứu: bằng cách nào siêu vi trùng HIV đã thoát ra khỏi
lưới khám phá của cơ thể con người.
Nguồn: Bản Tin Đại Học Y Khoa North
Carolina, August 5, 2009
Thuốc Mới: Hiệu
Nghiệm Hơn Khi Thêm Saxagliptin vào Metformin Điều
Trong
số báo tháng July 2009 Diabetes Care (Hội Tiểu Đường Hoa Kỳ, American Diabetes
Association) vừa xuất bản, Bs Alan J. Carter et al. tường trình kết quả thử
nghiệm thêm thuốc mơí Saxagliptin vào điều trị tiểu đường loại 2, trong khi bệnh
nhân đang dùng Metformin, có thể tăng cao hiệu lực hơn khi chỉ dùng Metformin
một mình. Thử nghiệm cho 743 bệnh nhân tiểu đường loại 2 hiện đang uống
1,500-2,500mg Metformin cộng những liều lượng từ 2.5, 5 và 10mg Saxagliptin ngày
một lần.
Kết quả cho thấy dùng những liều thuốc
Saxagliptin khác nhau kể trên cho bệnh nhân tiểu đường loại 2 hiện đang uống
thuốc Metformin trong vòng 24 tuần lễ hạ thấp A1C.
Hơn phân nửa bệnh nhân giảm A1C dưới
7.0% khi thêm 2.5, 5, và 10 mg Saxagliptin so vơí bệnh nhân chỉ uống
Metformin và không uống Saxagliptin.
Chức năng tế bào beta, C-peptin sau khi ăn
cơm, insulin và glucagon AUCs đều hạ thấp sau khi điều trị 24 tuần lễ.
Saxagliptin là thuốc uống hạ đường thuộc
loại ức chế dipeptidyl peptidase-4 (DPD-4). Tên thuốc bán gọi là Onglyza.
Vai trò dipeptidyl peptidase 4’s điều
chỉnh đường trong máu làm thoái biến GIP (gastric inhibitory polypeptide) và
GLP-1 (Glucagon like peptide-1)
Cholesterol Trong
Màng Hồng Huyết Cầu và Bệnh Xơ Cứng Động Mạch Vành
Trong tường trình thứ nhất, các tác giả
dùng siêu âm thử nghiệm liên hệ mức Cholesterol trong màng hồng huyết cầu và xơ
cứng động mạch vành
Đây là lần đầu tiên các tác giả dùng siêu
âm luồn vào trong động mạch vành nghiên cứu cấu tạo động mạch vành, cho 11 bệnh
nhân và 17 người bình thường. Kết quả cho thấy lượng cholesterol trong màng hồng
huyết cầu tăng cao hơn nơi bệnh nhân bị xơ cứng động mạch vành so sánh vơí người
bình thường. Lượng cholesterol trong màng hồng huyết cầu tỉ lệ vơí khối lượng
tảng bệnh vữa động mạch. (Nguồn: George D. Giannoglou et al., Angiology, June
2009).
Trong tường trình thứ hai, Bs Dimitrios và
csv đăng trong J Amer College Cardiology, May 29, 2009, nghiên cứu 212 bệnh nhân
phải nằm trong bệnh viện vì đau ngực. Trong số này 120 bệnh nhân bị đau ngực ổn
định và 92 bệnh nhân bị hội chứng động mạch vành cấp tính. Đo lượng cholesterol
trong màng hồng huyết cầu cho tất cả mọi bệnh nhân.
Kết quả cho thấy lượng cholesterol trong
màng hồng huyết cầu cao hơn ở bệnh nhân bị hội chứng hồng huyết cầu cấp tính so
vơí bệnh nhân bị hội chứng đau ngực kinh niên. Tuy nhiên không có liên hệ giữa
lượng cholesterol trong màng hồng huyết cầu và lượng cholesterol tổng quát trong
máu. Lượng cholesterol trong màng hồng huyết cầu rất cao không liên hệ vơí hội
chứng động mạch vành cấp tính.
Trong tường trình thứ ba đăng trong Int J
Cardiology, trên Lipids on line, 2009, cho biết mức cholesterol tăng cao trong
màng hồng huyết cầu liên hệ hội chứng xơ cứng động mạch cấp tính và cũng hiên hệ
vơí mức viêm yếu tố C-reactive protein.
Bs Yan Xu và các đồng nghiệp thuộc Đại Học
Y Khoa Hefei cho rằng hồng huyết cầu là nguồn cung cấp cholesterol sinh ra tảng
xơ cứng động mạch. Các tác giả cho biết bệnh nhân có mức cholesterol cao hơn
127.36µg/mg có 24.9 lần nguy cơ hội chứng xơ cứng động mạch cấp tính cao hơn.
Mức C-reactive protein cao hơn 3mg/l có nguy cơ hội chứng xơ cứng động mạch cấp
tính 4.6 lần cao hơn.
Cần nhiều nghiên cứu để tìm hiểu vai trò
của cholesterol trong màng hồng huyết cầu tăng cao nguy cơ hội chứng động mạch
cấp tính, lúc tảng xơ cứng động mạch bị bể rớt ra
Di Thể ENPP1/PC-1 liên hệ
Bệnh Cao Mỡ Đàn Ông, Bệnh Tiểu Đường Loại 2 và Bệnh Nhồi
Máu Cơ Tim
Bs Sinan Tanyoc và các đồng nghiệp thuộc
Trung Tâm Tiểu Đường, Nội Thương, Đại Học Y Khoa San Francisco, vừa tường trình
kết quả nghiên cứu bệnh cao mỡ trong máu liên hệ hiện tượng kháng insulin, tiểu
đường loại 2 và hội chứng biến dưỡng. Di thể ENPP1 còn là chất glycoprotein nằm
ngoài màng tế bào là chất chẹn thụ thể insulin và một vài polymorphisms của di
thể ENPP/PC-1 liên hệ hiện tượng kháng insulin, mập phì, và những biến chứng
tiểu đường. (Metabolic syndrome and related disorders, 7: 1-6, 2009).
Thử nghiệm vai trò di thể ENPP1 liên hệ
kháng isulin đong vai trò quan trọng trong hiện tượng kháng insulin. Kháng
insulin liên hệ nguy cơ tử vong. Tìm hiểu vai trò di thể ENPP1 còn giúp tìm hiểu
bệnh tiểu đường liên hệ kháng insulin (Current Opin Clin Nutr Metab Care, 10:
403, 2007).
Trong một thử nghiệm khác, S. Bacci và
những cộng sự viên muốn biết K121Q polymorphism của di thể ENPP/PC-1 liên hệ
hiện tượng phenotypes trước khi phát hiện tiểu đường loại 2 và bệnh nhồi máu cơ
tim. So sánh 121Q cho 638 người không bị tiểu đường vơí 434 bệnh nhân tiểu đường
bị bệnh động mạch vành. Tỉ lệ bệnh nhân có di thể 121Q tăng cao trong 3 nhóm
27.4%, 28.8% và 33.2%. Trong nhóm bệnh nhân tiểu đường, bệnh nhân có di thể 121Q
tăng cao nguy cơ bệnh tiểu đường loại 2 (trước 65 tuổi) và nguy cơ nhồi máu cơ
tim (khoảng 50 tuổi). Di thể 121Q cũng tăng cao nguy cơ bệnh tim mạch ở bệnh
nhân tiểu đường không hút thuốc lá. Tóm lại di thể 121Q liên hệ sớm phát hiện
bệnh tiểu đường loại 2 và bệnh nhồi máu cơ tim (Diabetes, 54: 3021, 2005).
ENPP1 (Ectonucleotide pyrophosphatase/
phosphpdiesterase 1) là một di thể của loài người. Bạch đản này mã hóa thuộc thể
loại glycoprotein gồm 2 đơn vị nhỏ disulfide nối vơí nhau. Bạch đản ENPPS có thể
phân tách thành những chất nền như những liên kết phosphodiester cho
nucleotides, và những chất đường nucleotides, liên kết pyrophosphates cho
nucleotides và chất đường nucleotides. Bạch đản ENPP1 có thể thủy phân
nucleotide 5’ triphosphates thành monophosphates hay thủy phân diadenosine
polyphosphates. Đột biến ENPP1 liên hệ thành lập những chất vôi trong động mạch
trẻ em, cốt hoá giây gân dọc theo cột tủy sống lưng, và gây hiện tượng kháng
insulin trong bệnh tiểu đường. ENPP1 phản ứng tương tác với thụ thể Insulin.
Bs Huỳnh Đỗ Phi vừa đưa ra 2 tường trình:
tường trình thứ nhất do Nguyễn Thanh cung cấp vấn đề chống lao ở Việt Nam và
tường trình thứ hai cho biết ¼ bệnh nhân HIV trên thế giới chết vì lao.
24 tháng Ba, 2009 là ngày Quốc Tế Bệnh
Lao.
Cơ Quan Chống Lao ở Việt Nam (do quỹ Hoa Kỳ hỗ trợ) cho biết thử nghiệm truy tầm
lao cho 100 bệnh viên thuộc 19 tỉnh ở Việt Nam có 20,000 bệnh nhân bị nhiễm lao.
Nghi ngờ có khoảng 12,000 người sống trong tình trạng mắc HIV cũng bị lao.
Việt Nam đứng thứ 12 trong 22 nước bị lao theo tường trình WHO. Số bệnh nhân tử
vong vì lao đã giảm thấp kể từ năm 1990.
Nhưng bệnh nhân tử vong vì lao trên thế giới vẫn ở khoảng 1.7 triệu mỗi năm.
Khoảng 10% bệnh nhân bị lao nhiễm HIV. Nhiễm lao do ho hay hắt xì nhiễm qua
không khí và cứ một giây đồng hồ lại có một người nhiễm lao.
Trong tường trình thứ 2 cho biết trên
thế giới có khoảng ¼ bệnh nhân HIV bị tử vong vì lao. Theo WHO thì năm 2007 có
450,000 người HIV tử vong vì lao và khoảng 1.4 triệu người trên thế giớ bị lao
có dương tính HIV. Tình trạng bị HIV có khả năng bị nhiễm lao gấp 20 lần. Theo
tường trình WHO ngày Hội Nghị Lao Quốc tế ngày 24 tháng March, 2009 thì số người
nhiều lao nhiều hơn tường trình trước đây. Hội nghị báo động số người HIV nhiễm
lao tăng cao vì thực sự lao có thể phòng ngừa được. Nếu sớm truy tầm lao thì
người nhiễm HIV có thể khỏi bệnh lao lên tới 85%.
Hiện nay, bệnh nhân HIV không được phát thuốc Isoniazid ngừa lao cho ngững người
trước đây đã từng liên hệ môi trường lao, và không kịp cung cấp thuốc trị HIV
cho bệnh nhân HIV được biết đã bị lao.
Tường trình năm 2007 cho biết chỉ có 4.8% tức là khoảng 30,000 người HIV được
uống thuốc ngừa lao isoniazid và chỉ có khoảng 14% bệnh nhân HIV được truy tầm
lao.
Sau 20 năm nạn dịch AIDS, nhiều nghiên cứu
nhắm vào những trường hợp mạch máu bị viêm hay nhiễm trùng liên hệ xơ cứng mạch
máu, hội chứng biến dưỡng (metabolic syndrome), bệnh cao mỡ trong máu hay hội
chứng kháng insulin.
Nhờ phương thức điều trị hữu hiệu hơn, bệnh nhân bệnh AIDS đã sống lâu hơn, và y
khoa đã phát hiện khoảng 10% bệnh nhân bị bệnh tim mạch.
Cơ nguyên bệnh chưa rõ nhưng nhiều nghiên cứu đang tìm hiểu liệu có liên hệ giữa
siêu vi trùng HIV, hiện tượng viêm với đường hoá chất cytokines, chất mỡ cao
trong máu do chất kìm hãm protease, và ảnh hưởng trực tiếp vào tế bào nội mô
mạch máu.
Trong việc điều trị bệnh AIDS, y khoa cần lưu ý vấn đề phòng ngừa bệnh tim mạch
(International Cardiology of Cardiology, 133: 293, 2009).
Trong một bài khác bàn luận bệnh nhân AIDS
đang dùng thuốc trị siêu vi trùng HIV (ART), hay thuốc kìm hãm protease, có ảnh
hưởng tơí biến dưỡng tiểu đường và mỡ.
Thuốc kìm hãm Nucleoside analogue reverse transcriptase cũng có ảnh hưởng nhưng
ít hơn.
Cũng có nghiên cứu khác cho biết có
liên hệ giữa ART và nguy cơ nhồi máu cơ tim, có thể phối hợp với hiện tượng cao
cholesterol, cao triglyceride và thấp HDL (high density lipoprotein, cholesterol
tốt) trong máu.
Những dữ kiện kể trên cho thấy HIV có thể tăng cao nguy cơ bệnh tim mạch và nếu
có thể kiểm soát đưọc siêu vi trùng HIV sinh sản, y khoa hy vọng có thể kiểm
soát được nguy cơ bệnh tim mạch cho bệnh nhân AIDS.
Một số tường trình gần đây còn cho thấy bệnh nhân không điều trị chống HIV có
lượng HDL thấp hơn trong máu. Trái lại khi bệnh nhân HIV bắt đầu chữa bằng ART
thì lượng HDL đã tăng lên. Và đặc biệt có nghiên cứu còn khuyến cáo khi điều trị
ART lâu hơn thì nguy cơ nhồi máu cơ tim có thể giảm thấp hơn. (PLoS Medicine,
Vol. 3, Nov 2006).
Trong một nghiên cứu từ báo khác nữa
gần đây khuyến cáo bệnh nhân AIDS trong khi điều trị ART cần thêm những phòng
ngừa khác thường dùng để giảm nguy cơ bệnh tim mạch như: giảm cao mỡ, kiểm soát
cao huyết áp và bỏ thuốc lá.
Mặc dù chưa có chứng cơ cho thấy ART
không có tác dụng trực tiếp tơí mỡ cholesterol trong huyết thanh bệnh nhân AIDS
nhưng bác sĩ nên dùng những thuốc trị cao mở như statins, fibrates thường dùng
trong việc điều trị bệnh nhân cao mỡ.
Bài này cũng khuyến cáo dùng phương
pháp Framingham ước tính nguy cơ bệnh tim mạch trong khi điều trị bệnh nhân
AIDS. (J. Acquir Immune Defic Syndr. 50: 54, 2009).
Trẻ em uống rượu là một trong những mối
quan tâm hàng đầu của phụ huynh học sinh ở hải ngoại. Mục đích của nghiên cứu
này muốn cho chúng ta biết những khác biệt giữa môi trường uống rượu và trẻ em
uống rượu tại California. Kết quả nghiên cứu cho thấy rượu bán nhiều hơn tại
những vùng dân cư đông đúc thuộc thành phần người thiểu số và gia đình nghèo.
Trẻ lái xe và uống rượu tuổi từ 12 tơí 17 ở gần nơi bán rượu, trong đường bán
kính khoảng nửa dậm. Nếu trẻ sống trong môi trường ít bán rượu thì tỉ số trẻ
uống rượu giảm từ 6.4% xuống 5.6% và trẻ uống rượu lái xe giảm từ 7.9% xuống
5.9%.
Theo tài liệu từ Đại Học Columbia thì trẻ
em vị thành niên mơí 11 tuổi đã bắt đầu uống rượu, trẻ gái bắt đầu từ 13. Khi
tơí 14 tuổi thì ít ra 41% trẻ em đã tập tành lần đầu tiên thử rượu. Tuổi trung
bình trẻ em Mỹ bắt đầu uống rượu là 15.9. Trẻ vị thành niên trước 15 tuổi uống
rượu sẽ có nguy cơ bị ghiền cao hơn gấp 5 lần khi người lớn trên 21 tuổi uống
rượu. Uống rượu sớm thì cả trẻ em dưới 21 tuổi lẫn người lớn cao tuổi đều hung
hăng hơn người bình thường. Ở Hoa Kỳ mỗi năm trên 5,000 trẻ em dưới 21 tuổi bị
tử vong liên hệ tơí rượu.
Trong một nghiên cứu khác tường trình trẻ
em từ lớp 8 tơí lớp 12 cho thấy: 26% học sinh lớp 8 bắt đầu uống rượu, 40% học
sinh lớp 10 uống rượu, và 51% học sinh lớp 12 uống rượu.
Ba nguyên nhân chính gây tử vong cho những
trẻ từ 15 tuổi trở lên tới người lớn 24 tuổi là tai nạn xe cộ, tai nạn giết
người trong nhà và tự vẫn, và rượu đứng hàng đầu cho cả 3 tai nạn kể trên.
Mặc dù rượu là một trong những nguyên
nhân làm tâm tính trẻ thay đổi, nhưng còn những vấn đề khác phối hợp như không
theo tập tục xã hội, tính tình xúc động hay tính trẻ em thích của lạ.
Khi bắt đầu uống rượu từ tuổi 13, trẻ em
thường tiếp tục uống rượu cho tới tuổi 18-22, rồi từ từ giảm đi. Từ tuổi 18 tơí
24 nếu vẫn tiếp tục uống rượu, mỗi tuần một lần, thì thường gặp phải một số vấn
đề từ tuổi vị thành niên tơí lúc trưởng thành, như vấn đề học vấn, hôn nhân,
công ăn việc làm, hay vấn đề tài chánh. Khi ghiền rượu hay ghiền thuốc xái, bệnh
nhân dễ mắc phải một vài chứng bệnh tâm thần như trầm cảm, buồn bã, tính tình
chống đối hay tật chống đối xã hội.
Tưởng cũng nên nhắc là khi bố mẹ uống rượu
thì sẽ ảnh hưởng con cái vẫn tiếp tục uống rượu.
Nếu bố mẹ không khuyến khích nhắc nhở con
bỏ rượu thì con cái có thể uống rượu thường xuyên hơn, uống rượu nhiều hơn và
say sưa nhiều hơn.
Giải pháp bỏ rượu cần sự giúp đỡ và khuyên
nhủ của nhiều người kể cả bác sĩ gia đình.
Muốn giảm số lượng trẻ em uống rượu thì
cũng phải cấm trẻ em mua rượu, và chính quyền cũng phải đặt những luật lệ giới
hạn tuổi tác gay gắt hơn để ngăn ngừa trẻ uống rượu. (American Journal of Public
Health, February 2009).
Bạn có thể liên lạc trực tiếp vơí Cơ Quan
Điều Trị bỏ tật ghiền thuốc hay ghiền rượu để hỏi ý kiến hoặc lấy thêm tài liệu
cần thiết tại điện thoại số 1-800-662-4357